Chương 1. Nhìn lại thời thơ ấu vàng son

Chương 1. Nhìn lại thời thơ ấu vàng son

Price:

Read more

Osho - Tự truyện (Cuộc đời Luận sư Osho)
Phần I. Chỉ là một hữu thể người bình thường:
Lịch sử đằng sau truyền thuyết
PV:  Ông thực sự là ai?
 Osho: Tôi chỉ là chính mình. Không là kẻ tiên tri, không là Messiah (Đấng cứu thế), không là Christ. Chỉ là một con người  bình thường… giống y  như bạn.
 PV: Ồ, không phải hoàn toàn như thế !
 Osho: Đúng … không hoàn toàn như thế!  Bạn vẫn còn ngủ – nhưng cái đó không khác biệt bao nhiêu.  Trước đây, tôi cũng đã ngủ; một ngày kia, bạn sẽ có thể tỉnh dậy. Bạn có thể tỉnh dậy ngay khoảnh khắc này, không ai ngăn cản được điều đó. Cho nên sự khác biệt cũng không có gì đáng kể.
(Từ một cuộc phỏng vấn với Robert Green, Santa Anna Register,  quận Cam, California)




Chương 1. Nhìn lại thời thơ ấu vàng son

Tôi chưa bao giờ là người "tâm linh" theo cái nghĩa mà bạn thường hiểu. Tôi chưa bao giờ đi lễ đền, hoặc đi nhà thờ, hoặc đọc kinh điển, hoặc theo những pháp môn tu tập nào đó để tìm ra chân lý, hoặc phụng thờ Thượng đế, hoặc nguyện cầu Thượng đế. Đó không phải là cách của tôi chút nào. Do vậy, chắc chắn bạn có thể nói, rằng tôi không đang làm một cái gì "tâm linh". Nhưng đối với tôi, tính tâm linh có một ý nghĩa hoàn toàn khác. Nó cần một cá tính trung thực. Nó không chấp nhận bất cứ loại lệ thuộc nào. Nó tạo ra một sự tự do cho chính mình, bất luận phải trả giá nào. Nó không bao giờ ở giữa đám đông, nhưng một mình, bởi vì đám đông chưa bao giờ tìm thấy bất cứ chân lý nào. Chân lý đã từng được tìm thấy chỉ trong sự cô độc của con người.
Do vậy, tính tâm linh, theo quan niệm của tôi, có một nghĩa khác với ý tưởng của bạn về nó. Những câu chuyện về thời thơ ấu của tôi, nếu bạn có thể hiểu chúng, sẽ trỏ vào tất cả những phẩm chất này trong cách này hay cách khác. Không ai có thể gọi chúng là tâm linh. Tôi gọi chúng là "tâm linh" bởi vì với tôi, chúng đã cho con người tất cả những gì mà họ có thể hoài vọng đạt tới.
Trong khi lắng nghe những câu chuyện tuổi thơ của tôi, bạn nên cố tìm phẩm chất nào đó – không chỉ là câu chuyện, mà phẩm chất nội tại nào đó –  nó chạy như một sợi chỉ mỏng qua suốt tất cả những tự thuật của tôi. Và cái sợi chỉ mỏng đó là "tính tâm linh".
Tính tâm linh, đối với tôi, chỉ đơn giản có nghĩa là phát hiện ra chính mình. Tôi không bao giờ cho phép bất cứ ai làm công việc này thay tôi – bởi vì không ai có thể làm công việc này thay cho bạn; bạn phải tự làm lấy cho mình.
1931 – 1939
KUCHWADA, MADHYA PRADESH, ẤN ĐỘ
Tôi nhớ lại ngôi làng nhỏ nơi tôi ra đời. Tại sao sự hiện hữu lại chọn ngôi làng nhỏ đó, trước hết, thì không thể giải thích được. Nó xảy ra như nó phải thế. Đó là một ngôi làng đẹp. Tôi đã du hành rộng khắp, nhưng tôi chưa bao giờ tình cờ gặp lại cái vẻ đẹp ấy một lần nữa. Sự vật không bao giờ giữ nguyên như cũ. Những sự thể đến và đi, nhưng chúng không bao giờ nguyên như cũ.
Tôi có thể hình dung lại ngôi làng nhỏ, tĩnh mịch đó. Chỉ có vài túp lều gần một cái ao, và một vài cây cao nơi mà tôi thường chơi đùa.  Không có trường học nào trong làng. Điều đó là hết sức quan trọng, bởi vì tôi ở trong tình trạng gân như “vô giáo dục” trong thời gian gần 9 năm, mà đó là những năm quan trọng nhất cho việc hình thành tính cách. Sau đó, cho dẫu bạn cố gắng, bạn cũng không thể "được" giáo dục. Do vậy, trên một phương diện, tôi vẫn không "được" giáo dục, mặc dù tôi có nhiều học vị – và không chỉ là bất cứ học vị nào, mà là một bằng MA hạng nhất. Bất cứ gã khùng nào cũng có thể làm cái đó; quá nhiều gã khùng làm việc đó hằng năm, đến nỗi nó không còn ý nghĩa gì nữa. Cái có ý nghĩa, là trong những năm đầu tiên của đời mình, tôi đã không "bị" giáo dục. Không có trường học, không đường sá, không đường xe lửa, không bưu điện. Thật là một phúc lành! Cái làng nhỏ đó tự mình là một thế giới.  Ngay cả trong nhiều lần ở xa ngôi làng đó, tôi vẫn ở trong thế giới đó, không "bị" giáo dục.
Và tôi đã gặp hằng triệu người, song những người dân của làng đó thì chất phác hơn bất cứ ai, bởi vì họ rất bán khai. Họ không biết gì về thế giới. Thậm chí, cũng chưa bao giờ có lấy một tờ nhật báo vào làng đó – bây giờ bạn có thể hiểu tại sao không có trường học nào. Thậm chí, không có lấy một trường tiểu học – thật là một phúc lành! Không một đứa trẻ hiện đại nào có thể có được cái "may mắn" đó.
Trong quá khứ, có những đứa trẻ kết hôn trước khi chúng lên mười. Đôi khi, có những đứa trẻ đã kết hôn thậm chí khi chúng còn nằm trong bụng mẹ. Hai người bạn thường quyết định, "Vợ chúng ta đang mang thai, vậy, nếu một người sinh con trai, và người kia sinh con gái, thì chúng mình kết thông gia." Không hề có vấn đề hỏi ý kiến bé trai hay bé gái; chúng chưa ra đời! Nhưng nếu một đứa là trai, và đứa kia là gái, thì hôn sự được giải quyết. Và người ta giữ lời hứa của họ.
Chính mẹ tôi kết hôn khi bà lên 7.  Cha tôi thì mới 10 tuổi, và ông không hiểu cái gì đang xảy ra. Tôi thường hỏi ông, “Điều có ý nghĩa nhất – mà cha khoái chí –  trong đám cưới của mình là gì?”
Ông nói, “Cưỡi một con ngựa.” Thật là tự nhiên! Lần đầu tiên ông được ăn vận như một vị vua, với một con dao treo lủng lẳng cạnh sườn, và ông ngồi trên một con ngựa, trong khi mọi người đi bộ xung quanh ông. Ông khoái chí hết sức. Đó là cái mà ông khóai nhất trong đám cưới của mình. Tuần trăng mật là điều không thể có. Bạn sẽ đưa một cậu trai 10 tuổi và một bé gái 7 tuổi đi hưởng tuần trăng mật ở đâu? Do vậy, tại Ấn Độ, tuần trăng mật không bao giờ có, và trong quá khứ, không nơi nào khác trên thế giới có chuyện đó.
Khi cha tôi 10 tuổi, và mẹ tôi 7 tuổi, thì bà nội tôi mất. Sau hôn lễ, có lẽ một hay hai năm sau đó, toàn bộ trách nhiệm đổ lên vai mẹ tôi, bà chỉ mới lên 9. Bà nội tôi đã để lại hai đứa bé gái, và hai bé trai. Do vậy, có bốn đứa trẻ, và trách nhiệm chăm sóc chúng đổ lên vai một bé gái 9 tuổi, và một cậu trai 12 tuổi. Ông nội tôi không bao giờ thích sống trong thành phố, nơi mà ông có một cửa tiệm. Ông yêu vùng quê, và khi bà nội tôi mất, ông hoàn toàn tự do. Chính phủ thường cấp đất cho dân, bởi vì có quá nhiều đất và không có nhiều người canh tác. Do vậy, ông tôi có 50 mẫu đất từ chính phủ, và ông chuyển nhượng toàn bộ cửa tiệm cho con cái mình – cha tôi và mẹ tôi – lúc ấy cha tôi chỉ mới có 12 tuổi, còn mẹ tôi thì 9 tuổi. Ông ưa thích dựng một khu vườn, xây một nông trại, và ông thích sống ở nơi không khí thoáng đãng. Ông ghét thành phố.
Cho nên, cha tôi không bao giờ có được bất cứ kinh nghiệm nào về tự do của những người trẻ hôm nay. Ông không bao giờ trở nên một thanh niên trong cách đó. Trước khi ông có thể trở nên một thanh niên, ông đã già giặn, phải chăm sóc những đứa em trai, em gái và trông coi cửa tiệm. Và ở tuổi 20, ông đã sắp xếp việc hôn nhân cho những đứa em gái, lo việc học hành và cưới vợ cho những đứa em trai của mình.
Tôi chưa bao giờ gọi mẹ tôi là "Mẹ", bởi vì trước khi tôi ra đời, bà đang chăm sóc bốn đứa trẻ, chúng thường gọi bà là bhabhi. Bhabhi có nghĩa là "vợ của anh trai." Và bởi vì bốn đứa trẻ đang gọi mẹ tôi là bhabhi, tôi cũng bắt đầu gọi bà là bhabhi. Tôi đã học cái danh xưng đó ngay từ đầu, khi bốn đứa trẻ gọi bà như vậy.
Tôi được ông bà ngoại nuôi nấng. Hai vị ở một mình và muốn có một đứa trẻ để vui cửa vui nhà trong những ngày cuối đời của họ. Do vậy, cha mẹ tôi đồng ý: Tôi là đứa con trai cả, đứa con đầu lòng; tôi được gửi đến sống với ông bà ngoại.
Tôi không nhớ bất cứ mối quan hệ nào với gia đình cha tôi trong những năm đầu tiên của thời thơ ấu của mình. Tôi đã trải qua những năm bé dại với ông bà ngoại tôi và một người lão bộc già – ông ta rất đẹp lão. Ba người này… và khoảng cách về tuổi tác thì quá lớn, nên tôi hoàn toàn cô độc. Họ đều đã già, họ không phải là bè bạn, không thể là bè bạn của tôi. Và tôi không có ai khác để làm bạn,  bởi vì trong ngôi làng đó gia đình tôi là giàu nhất; và ngôi làng thì lại quá nhỏ – tổng cộng không quá 200 người –  và quá nghèo, đến nỗi ông bà tôi thường không cho phép tôi chơi chung với lũ trẻ trong làng. Chúng bẩn thỉu, và dĩ nhiên, chúng gần như là những đứa ăn xin. Cho nên, không cách nào để có bạn. Cái đó tạo ra một ảnh hưởng lớn.Trong suốt đời mình, tôi chưa từng biết ai là bạn. Vâng, tôi có những người quen biết.
Trong những năm đầu tiên sớm sủa ấy, tôi quá cô đơn, đến mức tôi bắt đầu ưa thích nó –  và nó thực sự là một niềm vui. Cho nên nó không phải là một sự nguyền rủa đối với tôi, nó cho thấy đó là một phúc lành. Tôi bắt đầu ưa thích nó, và tôi bắt đầu cảm thấy tự đủ; tôi không lệ thuộc vào bất cứ ai.
Tôi chưa bao giờ quan tâm đến những trò chơi, vì lý do đơn giản, là ngay từ thuở ấu thơ, không có cách nào để chơi; không có ai để chơi cùng. Tôi vẫn có thể hình dung chính tôi trong những năm thơ ấu đó: chỉ ngồi một mình. Ngôi nhà tọa lạc tại một địa điểm đẹp, ngay đằng trước một cái hồ. Nó trải ra xa nhiều dặm… và nó quá đẹp và quá yên tĩnh. Chỉ thỉnh thoảng bạn mới thấy một đàn sếu trắng đang bay, hay cất lên những tiếng kêu gọi tình, và sự yên tĩnh sẽ bị khuấy động; nếu không, thì đó là nơi lý tưởng nhất cho việc thiền định. Thỉnh thoảng một tiếng chim gọi tình khuấy động sự yên tĩnh… sau tiếng gọi của nó, sự tĩnh mịch lại càng sâu thêm.
Cái hồ đầy hoa sen, và tôi thường ngồi hằng giờ, quá tự hài lòng, như thể thế giới bên ngoài không thành vấn đề; những hoa sen, những con sếu trắng, sự tĩnh mịch…
Và ông bà ngoại tôi trở nên rất ý thức về một điều –  rằng tôi rất ưa thích sự cô độc của mình. Họ đã thấy rằng, tôi không hề ao ước đi vào làng để gặp bất cứ ai, hay nói chuyện với bất cứ ai. Cho dù họ muốn nói chuyện, thì những câu trả lời của tôi chỉ là "vâng" và "không"; tôi cũng không quan tâm đến việc nói chuyện nữa. Họ trở nên ý thức về một điều –  rằng tôi ưa thích sự cô độc của mình, và bổn phận thiêng liêng của họ, là không quấy rầy tôi.
Do vậy, trong 7 năm liên tục, không ai cố làm hỏng sự hồn nhiên của tôi; không có ai cả. Ba người già này, sống trong nhà – người lão bộc và ông bà ngoại tôi – tất cả họ đều che chở tôi trong mọi cách có thể được, sao cho đừng ai quấy rầy tôi. Quả thực, khi tôi lớn lên, tôi bắt đầu cảm thấy một chút áy náy, rằng vì tôi mà họ đã không thể chuyện trò, họ đã không thể sống bình thường như mọi người khác. Bình thường, người lớn thường nói, "Hãy im đi nào, cha đang suy nghĩ, ông (bà) đang nghỉ ngơi. Hãy im nào, hãy ngồi im." Trong thời thơ ấu của tôi, sự thể đã xảy ra một cách ngược lại. Bây giờ tôi không thể trả lời tại sao và như thế nào; nó chỉ đơn giản đã xảy ra. Cái công trạng đó không thuộc về tôi.
Tất cả những người già này đều đang ra dấu cho nhau: "Đừng quấy rầy nó – nó đang rất thích thú." Và họ bắt đầu yêu thích sự im lặng của tôi.
Sự im lặng có tần số rung động riêng của nó; nó dễ lây lan, nhất là sự im lặng của một đứa trẻ không bị cưỡng bách: không phải là bởi vì nó bị đe nẹt, "Ta sẽ đánh con, nếu con gây phiền hà hay làm ồn." Không, đó không phải là sự im lặng. Nó sẽ không tạo ra sự rung động vui sướng mà tôi đang nói về, khi một đứa trẻ tự mình im lặng, yêu thích nó mà không có lý do; niềm hạnh phúc của nó là không nguyên nhân. Cái đó tạo ra những gợn sóng lớn, lan tỏa khắp xung quanh.
Cho nên, do một sự tình cờ ngẫu nhiên, mà trong suốt 7 năm, tôi không hề bị ai quấy rầy –  không ai cằn nhằn, chuẩn bị cho tôi vào thế giới của kinh doanh, chính trị, ngoại giao. Ông bà ngoại tôi quan tâm hơn đến việc để cho tôi được tự nhiên như có thể được – nhất là bà ngoại tôi. Bà là một trong những nguyên nhân – những điều nhỏ nhặt này ảnh hưởng đến toàn bộ mẫu mực sống của bạn – đã tạo ra cho tôi niềm kính trọng đối với toàn bộ nữ giới. Bà là một người phụ nữ chất phác, không được học hành, nhưng vô cùng nhạy cảm. Bà làm rõ với ông tôi và người lão bộc: "Tất cả chúng ta đều đã sống một loại cuộc sống mà đã không đưa chúng ta tới đâu cả. Chúng ta vẫn trống rỗng như bao giờ, và bây giờ cái chết đang đến gần." Bà nhấn mạnh, "Hãy để cho đứa bé này sống tự nhiên, đừng tìm cách uốn nắn nó. Chúng ta có thể có ảnh hưởng gì nào? Chúng ta chỉ có thể làm cho nó giống như chúng ta, mà chúng ta thì chả là cái gì cả. Hãy cho nó một cơ hội được là chính mình."
Ông ngoại tôi – tôi nghe họ bàn bạc trong đêm, nghĩ rằng tôi đang ngủ – thường nói với bà, "Bà đang bảo tôi làm điều này và tôi đang làm theo ý bà; nhưng mà thằng bé là con trai của người ta, và chẳng sớm thì muộn, nó phải về với cha mẹ nó. Rồi tụi nó sẽ nói gì? Ông bà đã không dạy cháu một chút xíu nào về phép lịch sự, về phép xã giao, nó hoàn toàn mọi rợ.”
Bà nói, "Đừng lo lắng về chuyện đó. Trên toàn thế giới, mọi người đều được "văn minh hóa" – để được cái gì chứ? Cùng lắm, thì cha mẹ nó sẽ giận chúng ta. Vậy thì đã sao nào? Cứ để cho tụi nó giận. Tụi nó đâu dám làm gì mình. Tới lúc đó, thằng nhỏ đã đủ cứng, tụi nó chẳng làm thay đổi được gì đâu.”
Tôi vô cùng biết ơn bà ngoại. Ông tôi thì thỉnh thoảng lại lo lắng rằng, chẳng sớm thì muộn, ông sẽ phải chịu trách nhiệm. Rồi tụi nó sẽ nói, ' Chúng con giao nó cho cha mẹ, và cha mẹ chả dạy nó cái gì cả.'
Bà tôi thậm chí không cho phép thuê một gia sư. Có một người đàn ông trong làng, ông ta ít nhất có thể dạy tôi kiến thức sơ đẳng về ngôn ngữ, toán, một chút địa lý. Ông chỉ mới học đến lớp bốn – nhưng ông là người được học hành nhiều nhất tại thị trấn đó. Ông tôi năn nỉ: “Cứ để thầy đến dạy. Ít nhất, nó sẽ biết cách đánh vần, một chút toán, để khi nó về lại với cha mẹ nó, tụi nó sẽ không bảo rằng, 7 năm của thằng bé đã hoàn toàn bị lãng phí.”
Nhưng bà tôi nói, “Kệ. Về sau, tụi nó muốn làm gì đó thì làm. Nhưng bao lâu thằng nhỏ còn ở đây, cứ để cho nó sống tự nhiên, đừng có xía vô.” Và luận cứ của bà luôn luôn là, “Ông biết cách đánh vần, thì sao nữa? Ông biết toán, thì sao nữa? Ông đã kiếm một ít tiền; ông có muốn nó cũng kiếm một ít tiền và sống hệt như ông?”
Chừng đó là đủ để khiến cho ông ngoại im lặng. Làm gì được bây giờ? Ông bị kẹt, bởi vì ông không thể biện luận – và ông biết rằng, ông sẽ phải nhận chịu trách nhiệm, chứ không phải bà, bởi vì cha tôi thường hỏi ông, “Cha đã làm gì?” Và thực ra, cái đó có lẽ đã xảy ra, nhưng may thay, ông mất trước khi cha tôi kịp hỏi.
Về sau, cha tôi luôn nói, “Tại ông già hết. Chính ổng đã làm hỏng thằng nhỏ.” Nhưng bấy giờ tôi đã đủ mạnh, và tôi làm rõ ra với ông: “Trước mặt con, xin đừng nói một lời nào đổ tội cho ông ngoại. Ông đã cứu thoát con khỏi bị cha mẹ làm hỏng – cái đó mới là nguyên nhân chính khiến cha tức giận. Nhưng cha còn có những đứa con khác – xin cứ làm hỏng tụi nó. Và cuối cùng, cha sẽ thấy là ai bị làm hỏng.”
Ông có những đứa con khác, và ngày càng nhiều thêm những đứa trẻ ra đời. Tôi thường trêu ông, "Xin làm ơn mang đến thêm một đứa, cho đủ một tá. Mười một đứa con? Người ta hỏi bao nhiêu đứa con? Mười một có vẻ không tròn trịa; một tá thì ấn tượng hơn." Và trong những năm về sau, tôi thường nói với ông, "Cha hãy tiếp tục làm hỏng tất cả những đứa con của cha đi; con thì hoang dã, và con sẽ vẫn mãi hoang dã." Một cách nào đó, tôi vẫn ở ngoài cái vòng cương tỏa của văn minh.
Ông ngoại tôi là một người hào phóng. Ông nghèo, nhưng rất giàu sự hào phóng. Ông cho mỗi người và mọi người bất cứ cái gì mà ông có. Tôi đã học nghệ thuật "cho" từ nơi ông; tôi không bao giờ thấy ông nói "không" với người hành khất nào, hay bất cứ ai.
Tôi gọi ông là Nana; đó là cách mà tại Ấn người ta gọi người cha của mẹ mình. Bà ngoại, được gọi là Nani. Tôi thường hỏi ông tôi, "Nana, ông kiếm ở đâu một người vợ xinh đẹp như thế?" Những đường nét của bà không có vẻ Ấn Độ, bà giống người Hy Lạp, và bà là một phụ nữ mạnh mẽ, rất mạnh mẽ. Khi ông ngoại tôi mất, bà chưa quá 50. Bà ngoại tôi sống đến 80, và bà hoàn toàn khỏe mạnh. Ngay cả lúc đó, không ai nghĩ rằng bà sắp chết. Tôi hứa với bà một điều, rằng, khi bà mất tôi sẽ về. Và đó là lần viếng thăm cuối cùng của tôi dành cho gia đình – bà mất vào năm 1970. Tôi phải giữ trọn lời hứa của mình.
Trong những năm đầu tiên của đời mình, tôi xem bà ngoại tôi như là mẹ mình. Người Mẹ sinh ra tôi chỉ là người mẹ thứ hai; lúc ấy, tôi đã lớn lên, đã hình thành một phong cách sống nào đó. Và bà ngoại tôi đã giúp tôi hết sức nhiều. Ông ngoại tôi yêu thương tôi, nhưng không thể giúp tôi nhiều. Ông dành cho tôi nhiều mến thương, nhưng muốn giúp đỡ, thì phải cần thêm nhiều thứ – một loại sức mạnh nào đó. Ông luôn luôn sợ bà tôi. Theo một nghĩa nào đó, thì ông là người sợ vợ. Nhưng mà ông thương yêu tôi, ông giúp đỡ tôi… tôi có thể làm gì nếu ông là một người chồng sợ vợ? 99.9 % những ông chồng đều sợ vợ, cho nên cũng không sao cả.
Tôi có thể hiểu ông tôi, và sự rắc rối mà những trò nghịch ngợm của tôi đã gây ra cho ông. Suốt ngày ông thường ngồi trên cái gaddi của mình, lắng nghe những khách hàng của ông thì ít, mà nghe người ta than phiền, thì nhiều! Nhưng ông thường nói với họ, "Tôi sẵn sàng bồi thường cho bất cứ thiệt hại nào mà thằng bé đã gây ra, nhưng hãy nhớ, tôi sẽ không phạt nó."
Có lẽ chính sự kiên nhẫn của ông đối với tôi, một đứa trẻ nghịch ngợm… ngay cả tôi cũng không thể tha thứ nó. Nếu một ông nhóc giống như thế được giao cho tôi trong nhiều năm… trời đất ơi! Thậm chí trong vài phút, hẳn tôi sẽ ném nó ra khỏi cửa mãi mãi. Có lẽ những năm đó tạo ra một phép lạ cho ông tôi; sự kiên nhẫn to lớn đó phải trả giá. Ông trở nên ngày càng im lặng hơn. Tôi thấy nó tăng trưởng lên từng ngày. Thỉnh thoảng tôi lại nói, "Nana, ông cứ phạt con đi. Ông đâu cần phải quá khoan dung như thế." Và, bạn có tin được không, ông thường khóc! Nước mắt ông chảy ra, và ông thường nói, "Phạt con ư? Ta không thể làm điều đó. Ta có thể phạt chính mình, nhưng không thể phạt con."
Tôi chưa bao giờ – trong một khoảnh khắc riêng lẻ – từng thấy ông giận tôi, dù chỉ là một thoáng giận dữ trong mắt ông. Và hãy tin tôi, tôi đã làm mọi thứ mà một ngàn đứa trẻ mới có thể làm. Vào buổi sáng, ngay cả trước bữa điểm tâm, tôi đã bắt đầu những trò nghịch ngợm cho đến tận khuya. Đôi khi tôi về nhà quá muộn – 3 giờ sáng – nhưng ông là một người kỳ lạ! Ông không bao giờ nói, “Con về muộn quá; đây đâu phải là lúc một đứa trẻ nhỏ về nhà.” Không, thậm chí không một lần. Thật ra, trước mặt tôi, ông thường tránh nhìn chiếc đồng hồ trên tường.
Ông không bao giờ đưa tôi đến ngôi đền mà ông thường đến. Tôi cũng thường đi tới ngôi đền đó, nhưng chỉ khi nó đóng cửa, chỉ để ăn cắp những chụp đèn thủy tinh rất đẹp, bởi vì trong ngôi đền ấy có nhiều chiếc đèn chùm với những tấm lăng kính đẹp. Tôi nghĩ, chẳng bao lâu, tôi đã ăn cắp hầu hết trong số chúng. Khi người ta bảo cho ông biết về chuyện đó, ông nói, "Vậy thì sao nào! Tôi đã tặng những cái đèn chùm, nên tôi có thể tặng những cái khác. Nó không ăn cắp; đó là tài sản của ông ngoại nó. Tôi xây ngôi đền đó." Vị tu sĩ hết than phiền. Để làm gì chứ? Ông ta chỉ là một thuộc hạ của Nana.
Nana thường đi lễ đền mọi buổi sáng, thế nhưng ông không bao giờ nói, "Hãy đi với ông." Ông không bao giờ "truyền giáo" cho tôi. Cái vĩ đại là… không truyền giáo. Thật là quá đổi "con người" khi cưỡng bách một đứa trẻ cô thế theo những tín ngưỡng của bạn, nhưng ông vẫn không bị cám dỗ. Vâng, tôi gọi nó là cám dỗ lớn nhất. Cái khoảnh khắc mà bạn thấy một ai đó lệ thuộc vào bạn trên bất cứ phương diện nào đó, bạn sẽ bắt đầu truyền giáo. Thậm chí ông không bao giờ nói với tôi, "Con là một tín đồ của đạo Jaina."
Tôi nhớ rất rõ – đó là thời điểm mà cuộc điều tra dân số đang được tiến hành. Một viên chức đã đến nhà tôi. Ông ta điều tra về nhiều thứ. Ông ta hỏi về tôn giáo của ông tôi; ông nói, "đạo Jaina." Rồi ông ta hỏi về tôn giáo của bà tôi. Nana nói, "Ông có thể hỏi chính bà ấy. Tôn giáo là một vấn đề riêng tư. Chính tôi chưa bao giờ hỏi bà ấy." Thật là một người kỳ lạ!
Bà tôi trả lời, "Tôi không tin vào bất cứ tôn giáo nào. Mọi tôn giáo đều nom có vẻ trẻ con với tôi." Viên chức này bị sốc. Ngay cả tôi cũng bị bất ngờ. Bà không tin vào tôn giáo nào cả! Tại Ấn, tìm ra một người phụ nữ mà không tin vào bất cứ tôn giáo nào, thật là không thể được. Nhưng bà sinh ra tại Khajuraho, có lẽ trong một gia đình có những tantrikas, mà họ không bao giờ tin vào bất cứ tôn giáo nào. Họ đã thực hành thiền định, nhưng họ chưa bao giờ tin vào tôn giáo nào.
Thiền định mà không tôn giáo? Điều này nghe có vẻ rất không logic với một tâm trí phương Tây. Vâng… thật ra, nếu bạn tin vào bất cứ tôn giáo nào, bạn không thể thiền định. Tôn giáo là một sự can thiệp vào trong thiền định của bạn. Thiền định không cần Thượng đế nào, thiên đường, địa ngục nào, không sợ hãi sự trừng phạt, và không có sự luyến chấp vào lạc thú. Thiền định không dính dáng gì tới tâm trí; thiền định vượt quá nó, trái lại, tôn giáo chỉ là tâm trí, nó ở bên trong tâm trí.
Tôi biết Nani không bao giờ đi lễ đền, nhưng bà dạy tôi một mantra (câu thần chú) mà tôi sẽ tiết lộ lần đầu tiên. Nó là một mantra của đạo Jaina, nhưng nó không dính dáng gì tới đạo Jaina như cách mọi người hiểu. Chỉ hoàn toàn ngẫu nhiên mà nó có quan hệ với đạo Jaina mà thôi…
Cái mantra này quá đẹp; sẽ rất khó dịch nó, nhưng tôi sẽ cố để có một bản dịch tốt nhất (hay tệ nhất)…  Trước hết, hãy lắng nghe cái mantra trong vẻ đẹp nguyên gốc của nó:
Namo arihantanam namo namo/ Namo siddhanam namo namo/ Namo uvajjhayanam namo namo/ Namo loye savva sahunam namo namo / Aeso panch namukaro/ Savva pavrappanano/ Mangalam cha savvesam padhamam havai  mangalam/ Arihante saranam pavajjhami/ Siddhe sananam pavajjhami/ Sahu saranam pavajjhami/ Namo arihantanam namo namo/ Namo siddhanam namo namo / Namo uvajhayanam namo namo / Om, shantih, shantih, shantih…
Bây giờ, là nỗ lực dịch thuật của tôi:
"Tôi đến bên hai bàn chân của những vị arihanta, và cúi xuống đảnh lễ các ngài…" Arihanta, trong đạo Jaina, cũng như chữ "A la hán" trong Phật giáo, dùng để chỉ người đã đã đạt tới cái (chân lý) tối hậu, nhưng không quan tâm đến bất cứ ai khác. Ông đã về tới nhà và quay lưng lại với thế gian. Ông không tạo ra một tôn giáo, ông thậm chí không thuyết pháp, ông thậm chí không tuyên bố (sự chứng ngộ của mình). Dĩ nhiên, ông phải được nhớ đến trước tiên. Cái sự tưởng nhớ đầu tiên là dành cho tất cả những ai đã biết (chân lý) và giữ im lặng. Sự tôn kính đầu tiên không phải dành cho lời nói, mà dành cho sự im lặng. Không phải dành cho việc phục vụ kẻ khác, mà đơn thuần dành cho sự thành tựu chân ngã. Việc có phục vụ kẻ khác hay không, thì không quan trọng; cái đó là thứ yếu, không phải là chủ yếu. Cái chủ yếu, là người ta đã đạt tới chân ngã, và đạt tới chân ngã là việc thật khó trên thế gian này. Những người Jaina gọi arihanta là người đã đạt tới chính mình (chân ngã) và vì quá say sưa với phúc lạc của việc thành tựu ấy, đến nỗi vị ấy quên toàn bộ thế gian. Cái từ arihanta, theo nghĩa đen, là "người đã giết kẻ thù" – và kẻ thù đó là cái ego. Phần thứ nhất của mantra có nghĩa là: "Tôi sờ vào hai bàn chân của vị đã đạt tới chân ngã."
Phần thứ hai là: "Namo siddhanam namo namo." Cái mantra này là bằng tiếng Prakrit, chứ không phải Sanskrit. Prakrit là ngôn ngữ của người Jaina; nó cổ xưa hơn tiếng Sanskrit. Chính từ "sanskrit" có nghĩa là "được tinh lọc. Qua từ “Sanskrit”, bạn có thể hiểu rằng ắt phải có một cái gì đó trước nó, nếu không, thì bạn "tinh lọc" cái gì? Prakrit có nghĩa là "chưa tinh lọc", tự nhiên, sống sít, và những người Jaina có lý khi họ nói ngôn ngữ của họ là cổ xưa nhất trên thế giới. Tôn giáo của họ cũng là tôn giáo cổ xưa nhất. Cái mantra đó thì bằng tiếng Prakrit, sống sít và chưa tinh lọc. Dòng thứ hai là: Namo siddhanam namo namo – "Tôi sờ vào hai bàn chân của người đã trở thành bản thể của chính mình."  Vậy thì, đâu là sự khác biệt giữa dòng một và hai?  Vị arihanta không bao giờ nhìn lại đằng sau, không bao giờ bận tâm về bất cứ loại phục vụ nào, có tính Kytô giáo hay thuộc tôn giáo nào khác. Vị siddha (thành tựu) thỉnh thoảng chìa tay ra cho nhân loại đang chìm đắm – nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi, không phải luôn luôn. Đó không phải là một điều tất yếu; nó không có tính bắt buộc. Ông ta có thể, hay không.
Kế đó, dòng thứ ba: Namo uvajjhaya namo namo – " Tôi sờ vào hai bàn chân của những vị đạo sư, những uvajjhaya." Họ đã đạt tới cùng một điều, nhưng họ hướng mặt về thế gian, họ phục vụ thế gian. Họ ở trong thế gian, và không thuộc về nó… nhưng vẫn ở trong nó.
Dòng thứ tư: Namo loye savva sahunam namo namo – "Tôi sờ vào hai bàn chân của những vị "giáo thụ". Bạn biết, có một khác biệt tinh tế giữa vị "đạo sưvà vị "giáo thụ". Bậc "đạo sư" đã biết (chân lý), và trao truyền lại cái mà vị ấy biết. Còn vị "giáo thụ" thì chỉ tiếp nhận từ người đã biết, và trao truyền nó lại y nguyên cho thế gian, nhưng chính ông ta chưa biết. Những soạn giả của cái mantra này thật sự có một cái tâm rất đẹp; họ thậm chí sờ vào hai bàn chân của những người (mà) chưa biết chính mình, nhưng ít ra họ đang mang cái thông điệp của những bậc đạo sư tới quần chúng.
Dòng thứ năm là một trong những câu có ý nghĩa nhất mà tôi từng gặp trong suốt đời mình. Thật kỳ lạ, là nó được trao cho tôi bởi bà ngoại tôi khi tôi còn là một đứa trẻ nhỏ. Khi tôi giải thích nó cho bạn, bạn cũng sẽ thấy vẻ đẹp của nó. Chỉ có bà mới có khả năng trao nó cho tôi. Tôi không biết bất cứ ai khác mà đã có gan để thực sự công bố nó, mặc dù tất cả những người Jaina lặp lại nó trong các ngôi đền của họ. Nhưng lặp lại là một chuyện; trao truyền nó cho người mà bạn yêu thương, lại hoàn toàn là một chuyện khác.
"Tôi sờ vào hai bàn chân của những ai mà đã biết chính mình…" không phân biệt họ là người Hindu, Jaina, hay Phật giáo, Kytô giáo, Hồi giáo. Cái mantra nói, "Tôi sờ vào hai bàn chân của tất cả những ai đã biết chính mình." Đây là cái mantra duy nhất, theo như tôi biết, là hoàn toàn phi tông phái.
Bốn phần kia cũng không khác biệt với phần thứ năm; tất cả chúng đều được chứa đựng trong nó, nhưng nó có một sự bao la mà những phần khác không có. Phần 5 phải được viết ra trên tất cả những ngôi đền, tất cả nhà thờ, bất luận chúng thuộc về ai, bởi vì nó nói, "Tôi sờ vào hai bàn chân của tất cả những ai mà đã biết nó." Nó không nói, "những ai đã biết Thượng đế," ngay cả chữ "nó" cũng có thể bỏ đi: tôi chỉ đặt "nó" thêm vào trong bản dịch. Nguyên bản chỉ có nghĩa "sờ vào hai bàn chân của những ai mà đã biết." – không có chữ "nó". Tôi đang đưa vào từ "nó" chỉ là để theo đúng ngữ pháp trong ngôn ngữ của các bạn; nếu không, một ai đó sẽ hỏi "Biết. Biết cái gì? Đâu là đối tượng của sự biết?" Không có đối tượng nào của sự biết; không có cái gì để biết, chỉ có người biết mà thôi.
Cái mantra này là cái điều tôn giáo duy nhất, nếu bạn gọi nó là tôn giáo, đã được bà ngoại trao cho tôi – không phải bởi ông tôi, mà là bà tôi. Một đêm bà nói, "Con đang thức. Con không ngủ được à? Con đang lập kế hoạch cho chuyện nghịch ngợm ngày mai?"
Tôi nói, " Dạ không. Nhưng, một cách nào đó, một câu hỏi đang khởi lên trong con. Mọi người đều có một tôn giáo, và khi người ta hỏi con, 'Cháu theo đạo nào?' thì  con nhún vai. Nhưng, nhún vai không phải là một tôn giáo, nên con muốn hỏi bà, con nên nói gì?"
Bà nói, "Chính ta không thuộc về một tôn giáo nào, nhưng ta yêu cái mantra này, và đây là tất cả những gì mà ta có thể cho con – không phải bởi vì nó thuộc về đạo Jaina theo truyền thống, nhưng chỉ vì ta đã biết vẻ đẹp của nó. Ta đã lặp lại nó hằng triệu lần, và ta luôn tìm thấy sự bình an to lớn… chỉ là cái cảm nhận của việc sờ vào hai bàn chân của tất cả những ai mà đã biết. Ta chỉ có thể cho con cái mantra này; nhiều hơn thế, ta không thể cho con."
Bây giờ tôi có thể nói rằng, người phụ nữ này là thực sự vĩ đại, bởi vì trong chừng mực có liên quan đến tôn giáo, thì mọi người đều đang nói dối. Những người Kytô, Do Thái giáo, Hồi giáo –mọi người đều đang nói dối. Tất cả họ đều nói về Thượng đế, thiên đàng và địa ngục, thiên thần và đủ loại vớ vẩn, mà chả biết cái gì cả. Bà vĩ đại, không phải bởi vì bà đã biết (chân lý), mà bởi vì bà không thể nào dối trá với một đứa trẻ.
Không ai nên nói dối – ít ra, với một đứa trẻ; cái đó là không thể tha thứ được. Trẻ con đã bị bóc lột qua nhiều thế kỷ chỉ vì chúng sẵn sàng tin cậy. Bạn có thể nói dối chúng rất dễ dàng, và chúng sẽ tin cậy bạn. Nếu bạn là một người cha, người mẹ, chúng sẽ nghĩ bạn nhất thiết phải đúng. Đó là cách mà toàn bộ nhân loại sống trong bại hoại, trong một vũng bùn rất nhớp nháp của những lời dối trá được nói ra với trẻ con trong nhiều thế kỷ. Nếu chúng ta chỉ có thể làm một điều, một điều đơn giản – không nói dối trẻ con và tự thú với chúng sự ngu dốt của chúng ta – rồi thì chúng ta sẽ có tính tôn giáo và chúng ta sẽ đặt chúng trên lối đi của tôn giáo. Trẻ con chỉ là sự hồn nhiên; hãy để lại cho chúng không phải là cái gọi là kiến thức của bạn. Nhưng trước hết, chính bạn phải hồn nhiên, chân thật, không dối trá.
Đạo Jaina là tôn giáo khổ hạnh nhất trên thế giới, hay nói khác đi, là tôn giáo thống dâm và bạo dâm nhất. Những tu sĩ Jaina tra tấn chính mình quá nhiều, đến mức người ta tự hỏi, họ có điên không. Họ không điên. Họ là những doanh nhân, và những tín đồ của những tu sĩ Jaina đều là doanh nhân. Thật kỳ lạ, toàn bộ cộng đồng những người Jaina chỉ bao gồm những doanh nhân – nhưng thực ra, cũng không có gì kỳ lạ, bởi vì chính bản thân tôn giáo này về cơ bản là có động cơ về lợi nhuận trong thế giới bên kia. Người Jaina tự tra tấn mình để đạt tới một cái gì đó trong thế giới bên kia, mà y biết mình không thể đạt tới trong thế giới này.
Hẳn tôi chỉ mới vào khoảng 4 – 5 tuổi, khi tôi thấy ông thầy tu Jaina trần truồng đầu tiên, được mời vào nhà bà tôi. Tôi không nhịn được, phải cười to lên. Ông tôi bảo tôi, "Im nào! Ta biết con là một đứa gây rối, ta có thể tha thứ cho con khi con là cái gai đối với láng giềng, nhưng ta không thể tha thứ cho con, nếu con nghịch phá guru của ta. Ông ấy là đạo sư của ta; ông điểm đạo cho ta được vào trong những bí mật bên trong của tôn giáo."
Tôi nói, "Con không quan tâm về những bí mật 'bên trong', con quan tâm về những bí mật 'bên ngoài' mà ông ta đang phô bày quá rõ ràng. Tại sao ông ta lại ở truồng chứ? Ông ta không thể ít ra mặc một cái khố hay sao?"
Ngay cả ông tôi cũng cười to. Ông nói, "Con không hiểu đâu."
Tôi nói, " Được rồi, con sẽ hỏi ông ta."
Tất cả dân làng đã tụ họp để dự cái darshan của ông thầy tu Jaina. Giữa cái gọi là bài giảng đạo, tôi đứng dậy. Việc đó diễn ra cách đây chừng 40 năm, và từ đó, tôi vẫn liên tục chống lại những tên ngu xuẩn như thế này. Ngày đó, một cuộc chiến tranh bắt đầu, mà nó sẽ chỉ chấm dứt khi tôi không còn trên thế gian này nữa. Có lẽ ngay cả lúc đó, nó cũng sẽ không chấm dứt; người của tôi có thể tiếp tục nó.
Tôi đã hỏi những câu hỏi đơn giản mà ông ta không thể trả lời. Tôi ngỡ ngàng. Ông tôi xấu hổ. Bà tôi vỗ nhẹ lên lưng tôi và nói, "Tuyệt! Con đã làm được điều đó! Ta biết con có thể làm được mà."
Tôi đã hỏi cái gì? Chỉ là những câu hỏi đơn giản trong đạo Jaina, bởi vì đạo Jaina không là gì khác hơn ngoài nỗ lực để đừng bị tái sinh một lần nữa. Nó là một khoa học dốc toàn bộ nỗ lực vào việc ngăn cản sự tái sinh. Cho nên tôi đã hỏi ông câu hỏi căn bản, "Có phải ông không muốn bị tái sinh?"
Ông ta nói, "Ừ,  không bao giờ."
Rồi, tôi hỏi, "Vậy, tại sao ông không tự sát? Tại sao ông vẫn đang thở? Tại sao ăn? Tại sao uống nước? Chỉ cần biến đi, tự sát đi. Tại sao làm ầm ĩ về một điều đơn giản như thế?" Ông chưa quá tuổi 40. Tôi nói với ông, "Nếu ông tiếp tục trong cách này, ông có thể sống thêm bốn mươi năm hay hơn nữa." Thuở đó, tôi chưa biết một sự kiện khoa học, là ai ăn ít đi, sẽ sống lâu hơn…
Do vậy, tôi nói với ông thầy tu – lúc đó, tôi không biết những sự kiện này  – "Nếu ông không muốn bị tái sinh trở lại, tại sao ông đang sống? Chỉ để chết? Vậy thì, tại sao không tự sát đi?" Tôi không nghĩ rằng có ai đã hỏi ông một câu hỏi như thế. Trong xã hội lịch sự, không ai từng hỏi một câu hỏi thực sự, và câu hỏi về sự tự sát là câu hỏi thực nhất.
Gabriel Marcel nói, "Tự sát là vấn đề triết học thực thụ duy nhất." Thuở đó tôi không có khái niệm nào về Marcel. Có lẽ, vào thời điểm đó, không có Marcel nào, và sách của ông chưa được viết ra. Nhưng đây là điều mà tôi đã nói với ông thầy tu Jaina: "Nếu ông không muốn bị tái sinh một lần nữa, là điều mà ông nói là ông ước muốn, thì tại sao ông lại (tiếp tục) sống? Vì mục đích gì? Hãy tự sát đi! Cháu sẽ chỉ cho ông một cách. Mặc dù cháu chưa có nhiều kinh nghiệm sống, về chuyện tự sát, cháu có thể cho ông một chút lời khuyên. Ông có thể nhảy từ trên đồi ở cuối làng, hay ông có thể nhảy xuống sông."
Tôi nói với ông thầy tu : "Vào mùa mưa, ông có thể nhảy xuống sông với cháu. Chúng ta có thể làm bạn một lát, rồi ông có thể chết, và cháu sẽ bơi sang bờ bên kia. Cháu bơi khá tốt."
Ông nhìn tôi một cách dữ tợn, quá giận dữ, đến nỗi tôi phải bảo ông, "Hãy nhớ, ông sẽ bị tái sinh lần nữa, nếu ông vẫn còn đầy sân hận. Đây không phải là cách để thóat khỏi cái thế giới đầy lo âu này.  Tại sao ông nhìn cháu một cách giận dữ như thế? Hãy trả lời câu hỏi của cháu một cách thân thiện và trầm tĩnh. Hãy trả lời một cách vui sướng! Nếu ông không thể trả lời được, thì hãy cứ nói, 'Tôi không biết.' Nhưng xin đừng giận dữ."
Ông thầy tu nói, "Tự sát là một tội ác. Ta không thể tự sát. Nhưng ta muốn sẽ không bao giờ bị tái sinh trở lại. Ta sẽ đạt tới trạng thái này bằng cách chậm rãi từ bỏ mọi thứ mà ta sở hữu."
Tôi nói, "Làm ơn cho cháu xem một cái gì đó mà ông sở hữu – bởi vì, như cháu có thể thấy, thì ông trần truồng và không sở hữu cái gì cả. Ông có những tài sản gì nào?"
Ông tôi cố ngăn tôi lại. Tôi chỉ tay về phía bà tôi và rồi nói với ông, "Xin hãy nhớ, con đã xin phép Nani, và bây giờ không ai có thể ngăn cản con, ngay cả chính ông. Con đã nói với bà về ông, bởi vì con lo rằng nếu con cắt ngang lời guru của ông, và cái gọi là bài giảng đạo rác rưởi của ông ta, thì ông sẽ giận con. Bà nói, 'Chỉ cần chỉ tay về phía ta, chừng đó là đủ. Đừng lo lắng: ta chỉ cần liếc nhìn ông, thì ông sẽ im miệng lại.' "Và thật kỳ lạ… đúng như vậy! Ông tôi im lặng, thậm chí Nani không cần liếc nhìn ông.
Về sau, cả tôi lẫn Nani tôi đều cười lớn. Tôi nói với bà, "Thậm chí ông ngoại không dám nhìn bà."
Bà nói, " Ông không thể, bởi vì hẳn ông đã sợ rằng ta sẽ nói, ‘Mình im đi! Đừng can thiệp vào đứa trẻ đó.’ Cho nên, ông tránh mắt ta. Cách duy nhất để tránh ta là đừng can thiệp vào chuyện của con."
Thật vậy, ông nhắm mắt lại, như thể là đang thiền định. Tôi nói với ông, "Nana, tuyệt lắm! Ông đang giận dữ, sôi sục, có lửa bên trong ông, thế mà ông ngồi nhắm mắt như thể là ông đang thiền định.  Guru của ông đang giận dữ bởi vì nhưng câu hỏi của con đang làm ông ta bực mình. Ông giận dữ bởi vì guru của ông không đủ năng lực để trả lời. Nhưng con nói, người đàn ông đang giảng đạo ở đây chỉ là một gã đần độn." Và lúc đó tôi chưa quá bốn, năm tuổi.
Từ lần đó về sau, đó vẫn là thứ ngôn ngữ của tôi. Tôi lập tức nhận ra một tên ngu xuẩn, bất cứ y ở đâu, bất luận y là ai. Không ai có thể thoát khỏi đôi mắt X–quang của tôi.
Tôi không nhớ tên của ông thầy tu Jaina đó, có lẽ tên ông là Shanti Sagar, có nghĩa là 'đại dương của phúc lạc’. Chắc chắn ông không phải là cái đó. Đó là lý do tại sao tôi đã quên ngay cả tên ông. Ông ta chỉ là một vũng bùn dơ bẩn, không phải là một đại dương của phúc lạc hay bình an. Và chắc chắn ông không phải là một người của sự im lặng, bởi vì ông trở nên rất giận dữ.
Shanti có thể hàm ý nhiều điều. Nó có thể có nghĩa là sự bình an, hoặc sự im lặng, đó là hai nghĩa căn bản. Cả hai đều thiếu vắng nơi ông. Ông không bình an, cũng không im lặng, không chút nào cả. Bạn cũng không thể nói rằng không có sự xáo động nào bên trong ông, bởi vì ông quá giận dữ, đến nỗi ông quát to bảo tôi ngồi xuống.
Tôi nói, "Không ai có thể bảo cháu ngồi xuống trong ngôi nhà của chính cháu. Cháu có thể bảo ông đi ra, nhưng ông không thể bảo cháu ngồi xuống. Nhưng cháu sẽ không bảo ông đi ra, bởi vì cháu có thêm một vài câu hỏi nữa. Làm ơn đừng giận dữ. Hãy nhớ cái tên của ông, Shanti Sagar – đại dương của bình an và im lặng. Ít ra, ông có thể là một vũng nước nhỏ. Và đừng bị khuấy động bởi một đứa trẻ nhỏ."
Không bận tâm về chuyện ông có im lặng hay không, tôi hỏi bà tôi, bây giờ đang cười thích thú. "Bà nói gì, Nani? Con có nên hỏi ông ta thêm vài câu hỏi, hay bảo ông ra khỏi nhà?"
Đó là người phụ nữ mà tôi yêu quý. Đó là người phụ nữ mà đã khiến cho tôi trở thành một kẻ nổi loạn. Ngay cả ông tôi cũng bị sốc, khi thấy bà ủng hộ tôi trong một cách thức như vậy. Cái gã mệnh danh là 'đại dương của phúc lạc' ngay tức thì câm như hến, ngay khi ông ta thấy rằng bà tôi ủng hộ tôi. Không chỉ có bà, mà những người dân làng ngay lập tức đứng về phía tôi. Cái gã thầy tu Jaina khốn khổ đó bị bỏ lại hoàn toàn cô độc.
Tôi hỏi ông ta thêm vài câu hỏi nữa. Tôi hỏi, "Ông đã nói, 'Đừng tin bất cứ điều gì, trừ khi  bạn đã tự mình thể nghiệm nó.' Cháu thấy chân lý trong câu nói đó, do vậy, cháu có câu hỏi này…"
Những người Jaina tin rằng có 7 tầng địa ngục. Lên tới tầng thứ 6, vẫn có khả năng sẽ trở lại, nhưng tầng thứ 7 thì vĩnh cửu. Có lẽ tầng thứ 7 là địa ngục của người Kytô giáo, bởi vì, một khi bạn đã ở đó, thì bạn cũng sẽ ở đó mãi mãi. Tôi tiếp tục, "Ông đã nói đến 7 tầng địa ngục, nên câu hỏi khởi lên, là ông đã viếng thăm tầng thứ 7 chưa? Nếu đã, thì ông không thể có mặt ở đây. Nếu chưa, thì dựa trên thẩm quyền nào mà ông bảo rằng nó hiện hữu? Ông nên nói rằng, chỉ có 6 tầng địa ngục, chứ không phải 7. Bây giờ, xin hãy chính xác: Hãy nói rằng, chỉ có 6 tầng địa ngục, hay nếu ông muốn khăng khăng rằng có 7, thì hãy chứng minh rằng ít nhất một người, Shanti Sagar, đã trở về từ tầng thứ 7."
Ông chết điếng. Ông không thể tin rằng, một đứa trẻ lại có thể hỏi một câu hỏi như thế. Hôm nay, chính tôi cũng không thể tin được! Làm thế nào mà tôi đã có thể hỏi một câu hỏi như thế? Câu trả lời duy nhất mà tôi có thể đưa ra, là bởi vì tôi không được học hành, và hoàn toàn không có chút kiến thức nào cả. Kiến thức khiến cho bạn rất tinh ranh. Tôi không tinh ranh. Tôi chỉ đơn thuần hỏi cái câu hỏi mà bất cứ đưa trẻ nào cũng đã có thể hỏi, nếu nó không được học hành. Sự "giáo dục" là tội ác lớn nhất mà con người đã phạm đối với những đưa trẻ đáng thương. Có lẽ sự giải phóng lớn nhất trong thế giới này, là sự giải phóng trẻ con.
Tôi hồn nhiên, ngây thơ, hoàn toàn không có kiến thức. Lúc ấy tôi chưa biết đọc, hoặc viết, thậm chí cũng không biết đếm quá mười ngón tay mình. Ngay cả hôm nay, khi tôi phải đếm một cái gì đó, tôi bắt đầu với những ngón tay của tôi, và nếu tôi bỏ sót một ngón tay, thì tôi trở nên lẫn lộn. Ông ta không thể trả lời. Bà tôi đứng lên và nói, "Ông phải trả lời câu hỏi đó. Đừng nghĩ rằng chỉ một đưa trẻ đang hỏi, chính tôi cũng đang hỏi, và tôi là nữ thí chủ của ông."
Bây giờ, tôi phải giới thiệu với bạn một quy ước của người Jaina. Khi một tu sĩ Jaina đến một gia đình để nhận thực phẩm của mình, sau khi thọ thực xong, như là một sự ban phúc cho gia đình, ông cho một bài giảng. Bài pháp thoại được nói (trước hết) với người nữ chủ nhân. Bà tôi nói, "Tôi là nữ thí chủ của ông hôm nay, và tôi cũng đang hỏi câu hỏi đó. Ông đã viếng thăm tầng địa ngục thứ 7 chưa? Nếu chưa, hãy nói một cách thành thật rằng chưa, nhưng, nếu vậy, ông không thể nói là có 7 tầng địa ngục."
Ông thầy tu trở nên quá bối rối  – càng khó xử hơn, vì bị đối đầu bởi một người phụ nữ đẹp – đến nỗi ông quay người định bỏ đi. Bà tôi quát to lên, "Hãy dừng lại! Đừng bỏ đi! Ai sẽ trả lời câu hỏi của cháu tôi? Và nó vẫn còn một vài câu nữa để hỏi. Ông là loại người gì, mà chạy trốn những câu hỏi của một đứa trẻ?"
Ông thầy tu dừng lại. Tôi nói với ông tôi, "Con bỏ câu hỏi thứ hai, bởi vì ông thầy tu này không thể trả lời nó.”
Ông ta cũng chưa trả lời câu hỏi thứ nhất, cho nên con sẽ hỏi ông ta câu hỏi thứ ba; có lẽ ông ta sẽ có thể trả lời câu hỏi đó."
Ông ta nhìn tôi. Tôi nói, "Nếu ông muốn nhìn cháu, hãy nhìn vào đôi mắt cháu." Mọi người bỗng im phăng phắc, không ai nói một lời nào. Ông thầy tu cụp mắt xuống, và rồi tôi nói, "Bây giờ cháu không muốn hỏi nữa. Hai câu hỏi đầu tiên của cháu đã không được trả lời, và cháu không muốn hỏi câu hỏi thứ ba, bởi vì cháu không muốn ông khách mời bị xấu hổ. Cháu rút lui." Và tôi thực sự rút lui khỏi đó, và tôi quá vui sướng khi bà tôi đi theo tôi.
Gã thầy tu được ông tôi tiễn ra về, nhưng ngay khi ông ta đi khỏi, ông tôi lao vụt vào trong nhà và hỏi bà tôi, "Mình có điên không đấy? Trước tiên, mình ủng hộ đứa bé trai này, nó là một kẻ gây rối bẩm sinh, rồi mình đi với nó, thậm chí không nói lời chào ông đạo sư của tôi."
Bà tôi nói, "Ông ta không phải là đạo sư của tôi, nên tôi không quan tâm một chút xíu nào. Vả lại, người mà ông nghĩ là một kẻ gây rối bẩm sinh, nó là hạt giống. Không ai biết cái gì sẽ mọc ra từ nó."
Bây giờ tôi biết cái gì đã mọc ra từ nó. Nếu người ta không phải là một kẻ gây rối bẩm sinh, thì người ta không thể trở nên một vị Phật. Và tôi không chỉ là một vị Phật, như Phật Gautama; cái đó thì quá truyền thống. Tôi là Phật Zorba. Tôi là một sự gặp gỡ của phương Đông và phương Tây. Thật ra, tôi không phân chia Đông và Tây, thấp và cao, đàn ông và phụ nữ, thiện và ác, Thượng đế và quỷ sứ. Không, một ngàn lần không – tôi không phân chia. Tôi kết nối lại với nhau tất cả những gì cho tới nay đã từng bị phân chia. Đó là công việc của tôi.
Cái ngày đó thì vô cùng có ý nghĩa để hiểu những gì đã xảy ra trong suốt cuộc đời tôi, bởi vì, nếu bạn không hiểu cái hạt giống, bạn sẽ bỏ mất cái cây, sự trổ hoa, và có lẽ ánh trăng xuyên qua những cành cây.
Từ cái ngày đó, tôi đã luôn luôn chống lại bất cứ cái gì có tính thống dâm. Dĩ nhiên, mãi sau này tôi mới biết cái từ đó, nhưng điều đó không quan trọng. Tôi vẫn luôn chống lại tất cả những gì khổ hạnh; thuở đó, tôi chưa hề biết cái từ đó, nhưng tôi đã có thể ngửi thấy một cái gì đó thối tha. Bạn biết tôi dị ứng với mọi loại tự tra tấn. Tôi muốn mọi con người sống cho tới mức đầy đủ nhất; sự tối thiểu không phải là phương cách của tôi. Sống cho tới mức tối đa, hay nếu bạn có thể, đi quá cái tối đa, rồi cái kỳ ảo. Hãy đi! Đừng đợi! Và đừng lãng phí thời gian đợi chờ Thượng đế… Tôi không chống lại ý tưởng về việc kết liễu cuộc sống. Nếu người ta quyết định kết thúc nó, thì dĩ nhiên đó là quyền của y. Nhưng chắc chắn tôi chống lại việc biến nó thành một cuộc tra tấn lâu dài. Khi ông thầy tu Shanti Sagar này chết, ông ta nhịn ăn 110 ngày. Một người, nếu khỏe mạnh bình thường, có thể tồn tại 90 ngày không ăn, một cách dễ dàng. Nếu khỏe mạnh một cách phi thường, thì y có thể sống thêm lâu hơn nữa.
Do vậy, hãy nhớ, tôi đã không lỗ mãng với người đàn ông đó. Trong bối cảnh đó, câu hỏi của tôi là hoàn toàn đúng, có lẽ càng như thế, bởi vì ông ta đã không thể trả lời nó. Và, thật kỳ lạ khi kể lại với bạn hôm nay, cái đó là sự khởi đầu không chỉ của sự tra vấn của tôi, mà cũng là sự bắt đầu của những ai không (thể) trả lời. Tôi đã gặp nhiều người mệnh danh là tâm linh, nhưng chưa ai từng trả lời bất cứ câu hỏi nào của tôi. Trên một phương diện, cái ngày đó quy định toàn bộ cái phong vị của tôi, toàn bộ đời tôi.
Shanti Sagar bỏ đi, rất bực bội, nhưng tôi vô cùng vui sướng, và tôi không giấu ông tôi điều đó. Tôi nói với ông, "Nana, có lẽ ông ta bỏ đi với sự bực bội, nhưng con đang cảm thấy rằng mình hoàn toàn đúng đắn. Guru của ông chỉ (là) xoàng thôi. Ông nên chọn một ai đó khá hơn một chút."
Ngay cả ông cũng cười to và nói, "Có lẽ con nói đúng, nhưng bây giờ, ở tuổi ta, thì việc thay đổi guru là không mấy thực tế." Ông hỏi Nani tôi, "Mình  nghĩ sao?"
Bà tôi, bao giờ cũng trung thực với bản tính của mình, nói, "Không bao giờ quá muộn để thay đổi. Nếu ông thấy cái mình đã chọn là không đúng, thì hãy thay đổi nó. Thực vậy, hãy nhanh lên, bởi vì ông đang già thêm. Đừng nói. 'Tôi già rồi, nên tôi không thể thay đổi.' Một chàng trai trẻ nói vậy thì còn khả thứ, nhưng một ông già thì không được – và ông thì đủ già rồi. "
Và chỉ một vài năm sau thì ông mất, nhưng ông không thể thu hết can đảm để thay đổi guru của mình. Ông tiếp tục trong cùng khuôn mẫu cũ. Bà tôi thường nói khích ông, nói, "Bao giờ thì ông mới thay đổi guru và những phương pháp tu tập của mình?"
Ông thường nói, "Vâng, tôi sẽ, tôi sẽ."
Một hôm, bà tôi nói, "Hãy thôi đi tất cả những thứ vớ vẩn này! Không ai từng thay đổi trừ khi người ta thay đổi ngay bây giờ. Đừng nói, 'Tôi sẽ, tôi sẽ.' Hoặc thay đổi hoặc không, nhưng hãy rõ ràng."
Người phụ nữ ấy đã có thể trở thành một lực hết sức hùng mạnh. Bà sinh ra không chỉ để sống trong cái ngôi làng nhỏ đó. Lẽ ra, toàn bộ thế giới nên biết về bà. Có lẽ tôi là cái "kênh chuyển tải của bà; có lẽ bà đã rót chính mình vào trong tôi. Bà yêu thương tôi quá sâu xa, đến mức tôi chưa bao giờ xem bà mẹ đẻ ra tôi là mẹ ruột. Tôi luôn xem Nani là người mẹ đích thực của tôi.
Bất cứ khi nào tôi phải thú nhận một cái gì đó, bất cứ sự sai trái nào đó mà tôi đã làm cho ai đó, thì tôi chỉ có thể thú nhận với bà, chứ không ai khác. Bà là người mà tôi trao trọn tâm tư của mình. Tôi có thể tâm sự bất cứ cái gì với bà, bởi vì tôi đã dần nhận thức ra một điều, và đó là, bà có khả năng để hiểu.
… Cái khoảnh khắc đó trong đời tôi, khi tôi hỏi ông thầy tu Jaina những câu hỏi kỳ lạ, chọc tức ông và quấy rầy ông, tôi không cho rằng mình đã làm một cái gì đó sai trái. Có lẽ tôi đã giúp ông. Có lẽ, một ngày nào đó ông sẽ hiểu. Nếu ông đã có lòng can đảm, thì có lẽ ông đã hiểu, ngay buổi đó, nhưng ông là một kẻ hèn nhát – ông chạy trốn. Và từ đó, cái này đã là kinh nghiệm của tôi. Những người mệnh danh là mahatma và những vị thánh, tất cả họ đều là những kẻ hèn nhát. Tôi chưa từng gặp một mahatma nào – Hindu, Hồi giáo, Kytô, Phật giáo – mà ông ta có thể được gọi là một tâm hồn nổi loạn. Trừ khi người ta nổi loạn, người ta không là người tôn giáo. Sự nổi loạn chính là nền tảng của tôn giáo.
Nana không chỉ là một ông ngoại. Thật khó định nghĩa ông là gì đối với tôi. Ông thường gọi tôi là Rajah –  rajah có nghĩa là " vị vua" – và trong 7 năm đó, ông xoay xở thành công để cho tôi sống như một ông hoàng. Vào ngày sinh nhật của tôi, ông thường mang đến một con voi từ một thị trấn gần đó… Tại Ấn, thời đó, voi thường được nuôi, hoặc là bởi những ông vua – bởi vì nó rất tốn kém, việc bảo dưỡng, thức ăn, và dịch vụ mà con voi đòi hỏi – hoặc là bởi những vị thánh. Hai loại người này thường nuôi chúng. Những vị thánh có thể nuôi voi bởi vì họ có quá nhiều đệ tử. Những đệ tử chăm sóc con voi cẩn thận, y như họ đã chăm sóc vị thánh. Sống gần đó là một vị thánh, ông ta có một con voi, cho nên, vào sinh nhật của tôi, ông ngoại tôi thường đặt tôi lên con voi với hai cái túi, mỗi túi ở một bên, đầy những đồng tiền xu.
Trong thời thơ ấu của tôi, tiền giấy chưa xuất hiện tại Ấn Độ; bạc (kim loại) vẫn còn được dùng cho những đồng rupee. Ông tôi thường đổ đầy hai túi lớn, treo lủng lẳng ở hai bên, với những đồng xu, và tôi thường đi xung quanh làng ném những đồng xu đó. Đó là cách mà ông thường cử hành sinh nhật của tôi … Một khi tôi đã khởi hành, ông thường đến trong cái xe bò của ông, với thêm nhiều đồng rupee, và ông thường luôn miệng nói với tôi, "Đừng hà tiện – Ta còn đủ tiền. Con không thể ném nhiều hơn ta có. Cứ ném đi."
Ông tìm đủ mọi cách có thể được, để tạo cho tôi ý tưởng rằng tôi thuộc về một gia đình hoàng tộc nào đó.
Sự chia ly có cái chất thơ của riêng nó, người ta chỉ cần học cái ngôn ngữ của nó, và người ta phải sống trong chiều sâu của nó. Rồi từ trong nỗi buồn, xuất hiện một loại niềm vui… mà nom có vẻ như là không thể được, nhưng mà nó xảy ra. Tôi đã biết nó, do cái chết của Nana tôi. Nó là một sự chia ly toàn diện. Chúng tôi sẽ không gặp lại nhau nữa, thế nhưng có một vẻ đẹp trong nó. Ông già rồi, và đang chết dần, có lẽ từ một cơn đột quỵ nghiêm trọng. Chúng tôi không ý thức về nó, bởi vì ngôi làng không có bác sĩ, thậm chí một dược sĩ cũng không, không thuốc men, cho nên chúng tôi không biết nguyên nhân cái chết của ông, nhưng tôi nghĩ nó là một cơn đột quỵ nghiêm trọng.
Tôi hỏi nhỏ vài tai ông, "Nana, ông có cái gì để nói trước lúc ra đi? Có lời trăn trối sau cùng nào không? Hoặc, ông có muốn cho con cái gì đó để nhớ ông mãi mãi?" Ông tháo chiếc nhẫn và đặt nó vào tay tôi. Bây giờ cái nhẫn đó đang ở trong tay một sannyasin nào đó; tôi đã tặng nó cho một ai đó. Nhưng mà cái nhẫn đó luôn là một bí ẩn. Suốt đời ông, ông thường không cho phép bất cứ ai thấy cái gì trong nó, thế nhưng, ông cứ thỉnh thoảng lại nhìn vào nó. Chiếc nhẫn đó có một cái cửa sổ bằng thủy tinh ở cả hai mặt, mà bạn có thể nhìn xuyên suốt qua. Trên đỉnh là một hạt kim cương; ở mỗi mặt của nó, có một cái cửa sổ thủy tinh.
Ông không cho phép bất cứ ai thấy cái mà ông thường nhìn vào, xuyên qua cái cửa sổ. Bên trong có một bức tượng Mahavira, tirthankara của người Jaina, và hai cửa sổ đó là những thấu kính phóng đại. Chúng phóng đại nó (bức tượng) và nó có vẻ thực sự khổng lồ.
Với những giọt lệ trong mắt, ông nói, "Ta không có cái gì khác để cho con, bởi vì tất cả những gì ta cho con,  đều sẽ bị tước mất khỏi con, y như nó đã bị tước đi khỏi  ta. Ta chỉ có thể cho con tình yêu mà ta dành cho kẻ đã biết chính mình."
Mặc dù tôi không giữ chiếc nhẫn đó, tôi đã chu toàn ước muốn của ông. Tôi đã biết vị đó, và tôi đã biết chân lý trong chính mình. Trong một chiếc nhẫn, thì có gì là quan trọng? Nhưng cụ già đáng thương, ông yêu vị minh sư của mình, Mahavira, và ông trao tình yêu đó cho tôi. Tôi kính trọng tình yêu của ông dành cho vị thầy của mình, và dành cho tôi. Những lời nói cuối cùng trên môi ông là, "Đừng lo lắng, bởi vì ta không hề đang chết."
Tất cả chúng tôi chờ để xem ông có định nói cái gì khác nữa không, nhưng đó là tất cả. Đôi mắt ông khép lại, và ông không còn nữa.
Tôi vẫn còn nhớ sự im lặng đó. Cái xe bò "đang đi băng qua một lòng sông. Tôi nhớ chính xác mỗi chi tiết. Tôi không nói gì bởi vì tôi không muốn khuấy động bà tôi. Bà không nói một lời. Có một vài lời bình phẩm của ai đó, rồi tôi trở nên lo lắng một chút về bà, và nói, "Hãy nói một cái gì đi, Nani; xin đừng im lặng quá như vậy, thật không thể chịu đựng nổi."
Bạn có tin được không, Nani hát một bài ca! Đó là cách mà tôi đã học được, rằng cái chết phải là lễ hội. Bà hát chính bài ca mà bà đã từng hát khi yêu ông tôi lần đầu.
Điều sau đây cũng đáng được ghi nhận: cách đây 90 năm, tại Ấn, Nani đã có dũng cảm để "buông rơi" vào tình yêu. Bà vẫn chưa lấy chồng cho đến tuổi hai mươi tư.  Cái đó là rất hiếm. Có một lần, tôi đã hỏi bà, tại sao bà không chịu lấy chồng trong một thời gian dài như thế. Bà là một người phụ nữ đẹp… Tôi chỉ nói đùa với bà, rằng ngay cả vua của Chattarpur, tiểu bang Khajuraho, có thể đã phải lòng bà.
Bà nói, "Thật kỳ lạ, là con đã đề cập đến chuyện đó, bởi vì chính ông ta đã phải lòng bà. Nhưng bà đã từ chối ông ta, không chỉ ông ta, mà còn rất nhiều người khác nữa." Vào thời đó, tại Ấn, những cô gái kết hôn khi họ mới 7 tuổi, hay tối đa, là 9 tuổi. Chỉ vì sợ tình yêu… nếu họ lớn thêm, họ có thể phải lòng một ai đó. Nhưng bố của bà tôi là một nhà thơ; những bài ca của ông vẫn còn được hát tại Khajuraho và những làng gần đó. Ông cương quyết rằng, trừ khi bà đồng ý, ông sẽ không gả con gái mình cho bất cứ ai. Như một sự tình cờ, bà phải lòng ông tôi.
Tôi hỏi, "Cái đó lại càng kỳ lạ hơn; bà từ chối vua của Chattarpur, và thế nhưng bà lại phải lòng người đàn ông nghèo này. Vì lý do gì? Chắc chắn ông không đẹp trai cho lắm, cũng không phi thường trên bất cứ phương diện nào. Tại sao bà lại phải lòng ông?"
Bà nói, "Con đang hỏi một câu hỏi sai. Việc 'phải lòng' không có 'tại sao'. Ta chỉ đơn giản thấy ông, chừng đó là đủ. Ta thấy đôi mắt ông, và một niềm tin cậy khởi lên trong ta, mà nó không bao giờ lung lay."
Tôi cũng đã hỏi ông tôi, "Nani bảo bà phải lòng ông. Cái đó là ổn về phần bà, nhưng tại sao ông cho phép cuộc hôn nhân xảy ra?"
Ông nói, " Ta không phải là một nhà thơ hay một nhà tư tưởng, nhưng ta có thể nhận ra cái đẹp khi ta thấy nó."
Tôi chưa bao giờ thấy một phụ nữ nào đẹp hơn Nani tôi. Chính tôi yêu bà, và tôi yêu bà suốt đời bà. Khi bà mất ở tuổi 80, tôi vội vã về nhà và thấy bà đang nằm ở đó, đã chết. Tất cả họ đều chỉ chờ một mình tôi, bởi vì bà đã bảo họ rằng, họ không nên đặt thi thể bà lên giàn hỏa cho tới khi tôi về. Bà đã nhấn mạnh rằng, tôi sẽ châm lửa vào giàn hỏa táng của bà, do vậy, họ đang chờ tôi. Tôi đi vào, vén khăn liệm lên… và bà vẫn còn đẹp! Thật vậy, đẹp hơn bao giờ cả, bởi vì tất cả đều im lặng, ngay cả cái náo động của hơi thở, của sự sống cũng không có ở đó. Bà chỉ là một sự hiện diện.
Châm lửa vào giàn hỏa táng là nhiệm vụ khó khăn nhất mà tôi từng làm trong đời mình. Nó như thể là tôi đang châm lửa vào một trong những bức họa đẹp nhất của Leonard de Vinci, hay Vincent Van Gogh. Dĩ nhiên, đối với tôi, bà quý giá hơn cả Mona Lisa, đẹp hơn cả Cleopatra. Đó không phải là một sự phóng đại. Tất cả những gì đẹp trong cái nhìn của tôi, một cách nào đó, đều đã đến bằng cách thông qua bà. Bà giúp tôi trên mọi phương diện, để tôi có thể sống theo cách của mình. Không có bà, có lẽ tôi đã là một chủ tiệm hay một bác sĩ, hay một kỹ sư, bởi vì khi tôi đỗ kỳ thi tuyển sinh, thì cha tôi quá nghèo, thật khó để cho tôi vào đại học. Nhưng mà ông sẵn sàng vay tiền để làm điều đó. Ông cương quyết rằng tôi phải vào đại học. Tôi sẵn sàng, nhưng tôi sẽ không học ngành y, và tôi cũng sẽ không vào trường kỹ sư. Tôi thẳng thừng từ chối trở thành bác sĩ, hay kỹ sư. Tôi bảo ông, "Nếu cha muốn biết sự thật, thì con muốn là một sannyasin, một hobo.
Ông nói, "Cái gì? Một hobo?"
Tôi nói, "Vâng, con muốn học triết, để có thể trở thành một hobo triết học."
Ông từ chối : "Trong trường hợp đó, ta sẽ không vay tiền và hãy nhận lấy mọi sự rắc rối."
Bà tôi nói, "Đừng lo lắng, con trai. Con cứ vào đại học và làm bất cứ cái gì mà con muốn làm. Ta còn sống, và ta sẽ bán mọi thứ mà ta có, chỉ để giúp con là chính mình. Ta sẽ không hỏi là con muốn đi đâu, và con muốn học cái gì."
Bà không bao giờ hỏi, và bà gửi tiền cho tôi một cách liên tục, ngay cả khi tôi đã trở thành một giáo sư đại học.
Tôi phải bảo bà rằng, bây giờ tôi đang tự kiếm được tiền, và tôi gửi tiền cho bà thì đúng hơn.
Bà nói, " Đừng lo lắng, ta không cần dùng món tiền này, và con hẳn đang dùng nó tốt đẹp hơn."
Người ta thường tự hỏi, tôi lấy đâu ra tất cả số tiền để mua sách,  bởi vì tôi có hằng ngàn cuốn sách. Ngay cả khi tôi mới chỉ là một học sinh trung học, tôi đã có hằng ngàn cuốn sách trong nhà. Khắp nhà đầy sách, và mọi người tự hỏi tôi kiếm đâu ra tiền để mua. Bà tôi đã bảo tôi, "Đừng bao giờ nói với ai là con lấy tiền ở đâu, bởi vì nếu cha con và mẹ con biết rằng con lấy tiền từ nơi ta, thì họ sẽ bắt đầu hỏi xin tiền ta, và ta sẽ khó lòng từ chối."
Bà tiếp tục gửi tiền cho tôi. Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng, ngay cả trong cái tháng mà bà mất, bà đã gửi món tiền thường lệ cho tôi. Vào buổi sáng trong ngày bà mất, bà đã ký tờ ngân phiếu. Bạn cũng sẽ kinh ngạc khi biết rằng, đó là số tiền cuối cùng mà bà có trong ngân hàng. Có lẽ, bằng cách nào đó, bà biết rằng sẽ không có ngày mai nào nữa.

Tôi may mắn trên nhiều phương diện, nhưng may mắn nhất, là tôi đã có ông bà ngoại tôi… và những ngày thơ ấu vàng son đó.
Xem Chương 2 - Quay về Mục lục

Ads Belove Post