1001 Bí Mật Tâm Linh (0042) Thượng Ðế phải được ăn, được nếm, được sống – không phải để tranh luận

1001 Bí Mật Tâm Linh (0042) Thượng Ðế phải được ăn, được nếm, được sống – không phải để tranh luận

Price:

Read more




Thiền không phải là thần học. Thiền là một tôn giáo – và một tôn giáo không thần học là một hiện tượng độc nhất vô nhị. Tất cả những tôn giáo khác đều hiện hữu chung quanh ý niệm về Thượng Ðế. Họ có những hệ thống thần học. Thượng Ðế là trung tâm, chứ không phải là con người; con người không phải là cứu cánh, mà Thượng Ðế mới là cứu cánh. Thiền thì không như vậy. Với Thiền, con người là mục tiêu, con người là cứu cánh cho chính mình. Thượng Ðế không bao giờ là một cái gì đó vượt lên trên con người, Thượng Ðế là cái gì đó ẩn tàng ở chính trong con người. Con người mang theo Thượng Ðế với mình như là một năng lực tiềm ẩn.
Thế nên không hề có ý niệm Thượng Ðế trong Thiền. Và nếu bạn muốn, bạn cũng có thể nói rằng ngay cả nó cũng không phải là một tôn giáo – bởi vì làm thế nào lại có một tôn giáo mà không mang ý niệm về Thượng Ðế? Chắc chắn là những người được nuôi dưỡng trong bầu khí Ki-tô, Hồi giáo, Ấn Ðộ giáo, hay Do Thái giáo sẽ không quan niệm nổi Thiền thuộc loại tôn giáo nào. Nếu không Thượng Ðế thì phải là phiếm thần. Nhưng không phải như thế. Thiền hữu thần ngay tự bản chất – nhưng không có mặt Thượng Ðế.
Ðây là điểm cơ bản đầu tiên cần phải được thông suốt. Hãy để cho ý niệm này thấm sâu vào lòng bạn, và rồi mọi việc sẽ sáng tỏ. Thiền cho rằng Thượng Ðế không hiện hữu ở ngoài tôn giáo mà là ở trong. Nó không ở một nơi nào đó mà ngay tại đây. Thật ra, đối với Thiền, không hề có ý niệm “ở đó”, tất cả đều hiện hữu ngay tại đây. Và Thượng Ðế cũng không bao giờ hiện hữu ở lúc đó mà là bây giờ – Thượng Ðế hiện hữu ngay lúc này, không phải ở một thời điểm nào khác. NGAY BÂY GIỜ và TẠI ÐÂY. Không có một không gian hay thời gian nào khác. Khoảnh khắc này là tất cả. Trong khoảnh khắc này tất cả hiện hữu đều tụ hội. Trong khoảnh khắc này tất cả đều có mặt. Nếu bạn không thấy được điều này, không có nghĩa là chúng không có mặt – mà đơn giản là vì bạn không có thị kiến để nhìn thấy nó. Thượng Ðế không phải là cái gì đó để bạn tìm kiếm. Bạn chỉ cần mở rộng đôi mắt của mình ra. Thượng Ðế đã luôn sẵn ở đó.
Cầu nguyện cũng chẳng dính dấp gì đến Thiền – bạn cầu nguyện với ai? Không hề có một ông Thượng Ðế ngự sẵn ở một nơi nào đó ở trên Thiên Ðường và điều khiển cuộc sống con người. Không hề có một ông kiểm soát viên như thế. Dòng sống chuyển động một cách nhịp nhàng và hài hòa với chính nó. Không hề có ai đó ở bên ngoài để ra lệnh, chỉ huy. Khi có một thứ quyền lực ở bên ngoài như thế, lập tức nó tạo ra tình trạng nô lệ… những người Cơ Ðốc là những kẻ nô lệ. Những người Hồi giáo cũng thế. Khi có một vị Thượng Ðế đứng ở đâu đó chỉ huy, dứt khoát là bạn trở thành kẻ tôi tớ, hay tệ hại hơn, một tên nô lệ. Bạn mất hết tất cả phẩm cách.
Thiền không như thế. Thiền cho bạn phẩm cách con người. Không hề có một quyền lực nào ở bất cứ nơi đâu. Tự Do là hoàn toàn và tuyệt đối.
Nếu Frederick Nietzsche có đôi chút hiểu biết về Thiền, có lẽ ông ta đã trở thành trầm mặc thay vì nổi điên. Ông ta đã rơi tỏm vào một sự thực vĩ đại: “Không hề có Thượng Ðế. Thượng Ðế đã chết. Con người được hoàn toàn tự do.” Ông đã rơi tỏm vào chân giá trị của tự do, nhưng điều này quả là quá mức đối với ông. Tâm của ông không chuyên chở nổi vì quá tải. Nó làm ông phát khùng, nổi điên.
Con người có thể có niềm tin tôn giáo mà không cần đến Thượng Ðế. Thực ra, vấn đề là làm sao con người tín ngưỡng được với một vị Thượng Ðế? Ðây là vấn nạn mà Thiền nêu ra, một vấn nạn khá nhức nhối. Làm sao con người có thể có niềm tin tôn giáo nếu có bóng dáng của Thượng Ðế? – Bởi vì Thượng Ðế sẽ hủy diệt tự do của bạn, Thượng Ðế sẽ thống trị bạn. Không tin ư? Hãy nhìn vào Cựu Ước và nghe Thượng Ðế phán: “Ta là một Thượng Ðế rất ganh tỵ và ta không thể khoan dung với bất cứ một Thượng Ðế nào khác. Những ai không theo ta là kẻ thù ta. Ta cũng là một Thượng Ðế rất bạo động và hung dữ và ta sẽ trừng phạt ngươi, sẽ quẳng ngươi vào hỏa ngục đời đời.”
Làm sao con người có thể có được niềm tin tôn giáo với một vị Thượng Ðế như thế? Làm sao bạn có tự do và làm sao bạn có thể thăng hoa nhân cách? Không có tự do, dứt khoát không có nở hoa trí tuệ. Làm sao bạn có thể trở thành một con người thực với nhân cách toàn vẹn khi có một ông Thượng Ðế luôn ở bên cạnh giam hảm bạn, lên án bạn, buộc bạn phải làm điều này, điều kia và điều khiển bạn?
Thiền cho rằng với sự hiện hữu của Thượng Ðế, con người sẽ mãi mãi ở trong tình trạng nô lệ; với Thượng Ðế, con người mãi mãi chỉ là những kẻ chuyên môn qùy lạy; với Thượng Ðế con người luôn sống trong tình trạng sợ hãi. Làm sao đời sống của bạn sẽ nở hoa trong tình trạng sợ hãi? Bạn sẽ co rúm lại, bạn sẽ khô héo đi, và bạn sẽ chết dần chết mòn.
Thiền cho rằng khi Thượng Ðế không còn có mặt, Tự Do sẽ chan hòa, sẽ không có một quyền lực hiện hữu. Từ đây sẽ lớn dậy trách nhiệm. Hãy nhìn kỹ đi… Nếu bạn bị kẻ khác thống trị, bạn sẽ không bao giờ có ý niệm trách nhiệm. Quyền lực thống trị tạo ra tinh thần vô trách nhiệm; quyền lực thống trị tạo ra chống đối, phản kháng, nổi loạn ở trong bạn – bạn muốn thủ tiêu Thượng Ðế. Ðó là ý nghĩa câu nói của Nietzsche, Thượng Ðế đã chết – không phải Thượng Ðế tự sát, mà là bị giết chết.
Thượng Ðế phải bị giết chết. Bởi vì với sự hiện hữu của Thượng Ðế, con người không hề được tự do – y phải bị loại trừ. Nhưng rồi sau đó thì Nietzsche kinh hoàng. Sống không Thượng Ðế, con người phải rất can đảm; sống không Thượng Ðế đòi hỏi sự quán tưởng sâu xa; sống không Thượng Ðế con người cần tỉnh thức cao độ – tất cả những điều này đã chưa hề được chuẩn bị. Ðó là lý do tại sao tôi nói rằng Nietzsche bị rơi tỏm vào sự thực, ông ta không hề khám phá ra chân lý.
Ðối với Thiền, đây là sự khám phá. Ðây là một chân lý đã được thiết định: Thượng Ðế không hề hiện hữu. Con người chịu trách nhiệm với chính mình và với thế giới mà y đang sống. Nếu có khổ đau, bạn là người gánh chịu trách nhiệm, đừng có đổ lỗi cho ai khác. Bạn không thể chạy trốn trách nhiệm của mình. Nếu thế giới này xấu xa và đầy thống khổ, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm – mà không là ai khác. Nếu chúng ta không trưởng thành, chúng ta không thể quẳng gánh nặng trách nhiệm lên vai kẻ khác. Chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm.
Khi Thượng Ðế không còn hiện hữu, bạn được trả về nguyên vị. Bạn đã trưởng thành. Bạn buộc phải trưởng thành. Bạn phải gánh lấy trách nhiệm cuộc đời mình; bạn phải nắm lấy nó trong đôi tay mình. Bây giờ thì bạn đã trở thành chủ nhân ông của chính mình. Bạn trở nên cảnh giác hơn, tỉnh táo hơn, vì bất cứ điều gì xảy ra, bạn sẽ là người hoàn toàn nhận chịu trách nhiệm. Bạn đã đón nhận một trọng trách. Khi một người bắt đầu cảnh giác hơn, tỉnh táo hơn, họ bắt đầu có một cuộc sống hoàn toàn khác biệt. Họ sống tỉnh thức. Họ trở thành chứng nhân.
Và khi không còn gì ở ngoài tầm… Cái gì ở ngoài tầm cũng đang hiện hữu ở trong bạn, không có gì là xa xôi ở phía bên kia. Ðối với niềm tin Cơ Ðốc, cái ở phía bên kia đó luôn ở ngoài tầm; đối với Thiền nó ở bên trong. Thế nên bạn đâu có cần phải hướng đôi mắt của mình lên bầu trời để cầu khấn – một việc làm nhảm nhí, vô nghĩa; bạn đang cầu khấn với một khoảng không. Trong tâm tưởng, bầu trời kia còn thấp hơn là chính bạn.
Có một số người đứng khấn vái trước một cái cây. Không ít người Ấn Ðộ giáo khấn cầu với một cái cây, có rất nhiều những người Ấn Ðộ giáo khác tìm đến sông Hằng và khấn cầu với một giòng sông, có nhiều người lại cầu khấn với một tảng đá, có người cầu khấn với bầu trời, thậm chí với một ý niệm, một tư tưởng. Kẻ bề trên lại đi cầu khấn với kẻ dưới. Thật là một việc làm nhảm nhí vô nghĩa.
Thiền nói rằng: Chỉ có một con đường duy nhất là thiền quán. Bạn không còn phải qùy trước bất cứ ai. Hãy liệng bỏ thói quen nô lệ cũ. Bạn chỉ cần một chút lặng lẽ, yên tĩnh và quán chiếu nội tâm để tìm ra cái cốt lõi. Ðây cũng chính là cái cốt lõi của hiện hữu. Khi bạn đạt đến điểm rốt ráo tận cùng này ở trong bạn, thì đây cũng chính là cái rốt ráo tận cùng của hiện hữu. Ðó là Thượng Ðế ở trong Thiền. Nhưng người ta không gọi đó là Thượng Ðế. Quả là một điều may.
Như vậy, điều cần phải ghi nhớ đầu tiên, rằng Thiền không phải là thần học, nó là một tôn giáo – một tôn giáo hoàn toàn khác biệt với những tôn giáo khác. Hãy lấy một thí dụ. Nó không giống với Hồi giáo. Hồi giáo cần ba điều cơ bản: một Thượng Ðế, một cuốn thánh kinh và một nhà tiên tri. Thiền không cần Thượng Ðế, không cần thánh kinh, không cần nhà tiên tri. Hiện hữu toàn vẹn chính là lời tiên tri của Thượng Ðế. Hiện hữu toàn vẹn chính là thông điệp của Thượng Ðế.
Nên nhớ rằng Thượng Ðế không hề cách ly với chính thông điệp của mình. Thông điệp tự thân đã thiêng liêng. Nó không cần đến người trung gian – tất cả những điều nhảm nhí vô nghĩa này không có trong Thiền. Thần học được dựng lên bằng một cuốn sách. Nó cần đến một cuốn sách giả bộ như là thánh kinh, nó cần một cuốn sách tự nhận là rất đặc biệt – không hề giống với bất cứ một cuốn sách nào khác. Vì đây là lời Thượng Ðế, vì đây là Phúc Âm. Nó được mang tên là Bible. Nó được mang tên là Koran…
Thiền thì cho rằng tất cả mọi thứ đều nhiệm mầu, thiêng liêng, tại sao lại có cái này đặc biệt hơn cái khác? Tất cả đều đặc biệt như nhau. Không có gì là không đặc biệt, thế nên không có gì cũng là đặc biệt. Mỗi cọng lá trên mỗi cành cây, mỗi viên sỏi trên từng bờ biển đều đặc biệt, nhất thể, thánh hoá. Không phải chỉ có Bible là thiêng liêng, cũng không phải chỉ có kinh Koran là thiêng liêng. Khi một tình nhân viết thư cho người mình yêu dấu, lá thư đó cũng là một thiêng liêng.
Thiền đem thiêng liêng mầu nhiệm đến với cuộc sống đời thường. Bokogu, một vị đại thiền sư, luôn luôn nói: “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm! Tôi đang khiêng dầu, tôi đang gánh nước.” “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!” Việc khiêng dầu và gánh nước từ giếng lên được ông tán thán “Thật là mầu nhiệm!” Ðó chính là tinh thần của Thiền. Nó chuyển hoá cái bình thường thành phi thường. Nó chuyển hoá cái ô trọc thành thiêng liêng. Nó xóa nhòa biên giới giữa phàm và thánh. Ðó cũng là lý do tại sao tôi nói rằng Thiền không phải là thần học. Thần học làm nhiễm độc tôn giáo. Trên bình diện tôn giáo, sẽ không có gì khác nhau giữa một người Hồi giáo, Cơ Ðốc hay Ấn Ðộ giáo, nhưng trên bình diện thần học là cả một sự cách biệt lớn lao. Họ được xây dựng trên những nền tảng thần học khác nhau. Và rồi con người đánh nhau cũng chỉ vì thần học.
Tôn giáo chỉ có một, mà thần học thì đủ thứ. Thần học bao hàm triết học về Thượng Ðế, luận lý về Thượng Ðế… tất cả đều nhảm nhí vô nghĩa bởi vì không có cách gì chứng minh có Thượng Ðế – cũng như không có Thượng Ðế. Tranh cãi những điều chẳng dính dấp vào đâu cả. Vâng, người ta có thể nói có những điều chỉ có thể thực chứng mà không thể chứng minh – và đó là điều mà thần học tiếp tục làm những công việc ngu xuẩn – chẻ sợi tóc ra làm tư. Khi bạn là người khách quan đứng ở xa nhìn vào, bạn sẽ không khỏi bật cười. Sao mà lại có chuyện lố bịch như thế.
Trong thời đại Trung Cổ, các nhà thần học Cơ Ðốc đã vô cùng quan tâm, vô cùng lo lắng, vô cùng hoang mang với những vấn nạn mà xem ra sẽ chẳng bao giờ là vấn nạn của bạn cả. Thí dụ như, có bao nhiêu thiên thần có thể cùng đứng được trên một mũi kim? Ðã có không biết bao nhiêu sách vở luận bàn về đề tài này – đã nổ ra một cuộc tranh luận khá lớn lao.
Mulla Nasrudin, chủ nhân của hai con chim vẹt xanh, một hôm mang chim đến cho một vị bác sĩ thú y nhờ chăm sóc: “Tôi lo quá, những con chim của tôi không đi cầu cả tuần nay rồi.”
Nhà thú y sĩ nhìn vào lồng và hỏi, “Ông luôn luôn lót lồng chim với những tấm bản đồ thế giới?”
"Không," Mulla Nasrudin trả lời, “Tôi chỉ mới thay nó vào hôm thứ Bảy vừa rồi vì hết cả giấy báo.”
“Ðấy là lý do!” nhà thú y sĩ trả lời. “Vẹt xanh là giống vật rất nhạy cảm. Nó nín đi cầu vì sợ rằng trái đất này sẽ lấy hết phân mà nó có thể bài tiết nổi!”
Thần học là thứ cặn bả phế thải. Tôn giáo đã bị đầu độc bởi thần học. Một người có tín ngưỡng đích thực không hề biết đến thần học. Vâng, y sẽ thực chứng, sẽ đạt đến chân lý, đến điểm linh quang mà không cần đến thần học. Nhưng thần học lại giúp ích cho các nhà học giả, bác học, những người được gọi là trí thức. Nó còn cần thiết hơn nữa cho giới tu sĩ, các ông giáo hoàng, các Shankaracharyas. Nó mang lại mối lợi lớn cho họ. Toàn bộ cái dịch vụ làm ăn của họ đều nương tựa vào đây.
Thiền thì khác, nó cắt đứt tất cả mọi gốc rễ. Nó hủy diệt cái dịch vụ cơ bản nhất của giới tu sĩ. Và đây cũng là cái dịch vụ tồi tệ nhất trên thế giới vì được đặt trên sự dối gạt lớn lao. Nhà tu sĩ không hề biết gì cả nhưng lại tiếp tục đi rao giảng; nhà thần học không hề biết gì cả nhưng lại tiếp tục đi nói chuyện huyên thuyên về học thuyết. Ðương sự cũng dốt nát như bao nhiêu người khác – có khi còn dốt nát hơn nữa là khác, nhưng là một sự dốt nát rất có lớp lang bài bản, được tô vẽ bởi nhiều thứ – tô vẽ bởi kinh sách, tô vẽ bởi học thuyết; tô vẽ một cách xảo quyệt và thông minh khiến người ta khó mà tìm ra được kẻ hở. Thần học như thế chẳng có ích lợi gì cho nhân loại, nhưng chắc chắn là nó giúp ích cho một số người: những tu sĩ. Từ đó nhân danh những học thuyết xuẩn động, họ khai thác con người.
Hai nhà phân tâm học gặp gỡ nhau tại một nhà hàng đông khách và bắt đầu nói chuyện. Một người khoe là mình đang chữa trị một ca phân sinh nhân cách khá thích thú. Người kia chặn họng: “Phân sinh nhân cách có gì mà đặc biệt? Những trường hợp này xảy ra thông thường quá mà!”
“Thích thú ở chỗ là tớ được cả hai người trả tiền!”
Những nhà thần học cũng sống như thế. Thần học là chính trị. Nó chia rẽ con người. Chia để trị là thủ thuật muôn đời.
Thiền không thế, nó nhìn nhân loại không bằng ánh mắt phân chia – nó không chia rẽ. Nó có một cái nhìn toàn diện. Ðó là lý do tại sao tôi hay nói rằng Thiền là tôn giáo của tương lai. Nhân loại ngày càng trưởng thành dần trong tỉnh thức, lúc đó thần học sẽ bị loại trừ và tôn giáo sẽ được chấp nhận một cách thuần khiết như là một thực chứng tâm linh.
Nhật Bản có một từ ngữ đặc biệt để diễn tả điều này. Họ gọi đó là konomama hay sonomama – “Cái Ðây là” của hiện hữu. Một chữ Ðây viết hoa - không là cái gì khác. Chính cái như thị này của đời sống mới là Thượng Ðế, không là cái gì khác. Chính cái như thị trong khoảnh khắc này đây, mới thánh hóa, thiêng liêng: cái như thị của một cành cây, cái như thị của một hòn đá, cái như thị của một người nam, cái như thị của một người nữ, cái như thị của một đứa trẻ. Và cái như thị đó không hề được định nghĩa, không thể được định nghĩa. Bạn có thể tan biến vào đó, thể nhập vào đó, nếm được hương vị của nó. “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!”
Vâng, bạn không thể định nghĩa được nó, không thể phân tích nó một cách luận lý, không thể đóng khung nó vào một ý niệm dứt khoát, rõ ràng. Nó sẽ bị giết chết bởi ý niệm. Nó sẽ không còn là như thị nữa mà là một sản phẩm cấu trúc của tâm. Cái danh từ “Thượng Ðế” không phải là Thượng Ðế, cái ý niệm về Thượng Ðế không phải là Thượng Ðế. Cũng vậy ý niệm về “tình yêu” không phải là tình yêu, ý niệm về “thực phẩm” không phải là thực phẩm.
Thiền đã nói ra điều này một cách rất đơn giản: Hãy nên nhớ rằng thực đơn không phải là món ăn. Bạn đừng có xơi luôn thực đơn nhé. Nhưng đó là điều mà người ta đã làm hàng bao thế kỷ qua: xơi luôn cả thực đơn!
Thế thì bạn đừng ngạc nhiên khi thấy con người ốm đói, con người không thể thăng hoa, con người không sống động, con người không sống một cách trọn vẹn; dĩ nhiên thôi, ai cũng có thể thấy trước điều này. Họ không hề sống bằng thực phẩm thực. Họ nói quá nhiều về thực phẩm đến độ quên mất đi thực phẩm là cái gì.
Thượng Ðế phải được ăn, Thượng Ðế phải được nếm, Thượng Ðế phải được sống – không phải là để tranh luận. Cái tiến trình “nói về” này chính là thần học. Cái “nói về” này dẫn ta đi lòng vòng, chẳng bao giờ đưa ta đến cái đích thực. Ðây là cái vòng luẩn quẩn. Luận lý chỉ là cái vòng lẩn quẩn. Và Thiền chính là những nỗ lực nhằm đưa ta thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó.
Tại sao luận lý là cái vòng lẩn quẩn? Bởi vì chính trong tiền đề đã hàm chứa kết luận. Kết luận chẳng có gì là mới mẻ, nó đã được chứa sẵn trong tiền đề. Và rồi trong kết luận, tiền đề được chứa sẵn. Cũng chẳng khác gì một cái hạt: cái cây được chứa sẵn trong cái hạt, rồi cái cây sản sinh ra vô số hạt, rồi trong những hạt này sẽ lại ươm mầm những cái cây. Cái vòng lẩn quẩn là như thế. Hạt, rồi cây, rồi hạt. Tiếp tục như thế mãi. Cũng giống như trứng, rồi gà, rồi trứng, rồi gà, rồi trứng… tiếp tục không ngừng. Một cái vòng bất tận.
Thiền là tất cả những gì nhằm bẻ gãy cái vòng lẩn quẩn này – tâm của bạn sẽ không còn tiếp tục lang thang qua những ngôn từ và ý niệm mà trực nhập ngay vào hiện hữu của tự thân.
Nanin, một vị đại thiền sư đang đốn củi ở trong rừng. Một vị giáo sư đại học tìm đến thăm. Nghĩ rằng gã tiều phu này chắc biết Nanin đang sống ở đâu trong vùng núi non này, ông ta liền hỏi thăm. Gã tiều phu nâng cái búa lên và nói: “Ta phải trả giá cái này đắt lắm đấy.”
Dĩ nhiên vị giáo sư đâu có hỏi về cái búa. Ông muốn tìm hỏi xem Nanin đang ở đâu; ông muốn biết Nanin có đang ở trong chùa hay không để ông đến gặp. Gã tiều phu lại nâng cái búa lên và nói: “Nhìn đây này. Ta phải trả giá cái búa này đắt lắm đấy.” Vị giáo sư hơi hoang mang và trước khi kịp tháo lui thì người tiều phu đã tiến sát đến gần hơn, đưa lưỡi búa hạ xuống ngay sát trên đỉnh đầu ông. Vị giáo sư hoảng hồn đứng run lên thì người tiều phu nói tiếp: “Cái búa này bén lắm đó.” Ðến đây thì vị giáo sư bỏ chạy.
Sau đó, khi tìm được đến chùa, ông mới biết được rằng gã tiều phu kia không ai khác hơn là Nanin. Ông mới hỏi, “Bộ ông ấy điên hả?”
“Không,” người đệ tử trả lời. “Khi ngài hỏi rằng Nanin có ở trong đó không thì ông ta trả lời rằng có bằng cách chỉ cho ngài thấy cái “ở trong” và cái “như thị” của ông ấy. Trong khoảnh khắc đó, Nanin là gã tiều phu; trong khoảnh khắc đó, cái búa ở trong tay ông ta, ông ta hoàn toàn thể nhập vào sự sắc bén của cái búa. Ông ta đã trả lời ‘Tôi đang ở trong’ bằng cái hiện sinh lập tức và toàn vẹn của mình ngay chính trong khoảnh khắc hiện tại đó. Ngài đã không lãnh hội được ý nghĩa này. Ông ta đã chỉ cho ngài thấy cái phẩm chất của Thiền.”
Thiền là vô niệm và vô trí – không hề là sản phẩm của ý niệm, và trí tuệ. Ðây là tôn giáo duy nhất trên thế giới rao giảng về trực nhận tức thời; trực nhận tức thời trong từng khoảnh khắc, trực nhận tức thời trong từng sát na; hiện hữu ngay trong chính hiện tại, không quá khứ, không tương lai.
Thế nhưng con người bị bao quanh bởi thần học. Những lý thuyết thần học này giữ họ mãi trong tình trạng ấu trỉ, không cho phép họ trưởng thành. Bạn không thể nào trưởng thành được khi bị giam hảm ở trong hàng rào thần học, khoác lên người chiếc áo Ky tô hữu, hay Ấn Ðộ giáo, hay Hồi giáo, và ngay cả Phật tử. Bạn không thể trưởng thành. Bạn không đủ chỗ để lớn dậy. Bạn bị giam hảm quá kỹ, trong một không gian nhỏ hẹp; bạn đang bị cầm tù.
Một vị mục sư trẻ thụt két một trăm ngàn đô-la của qũy nhà thờ và đem nướng hết vào thị trường chứng khoán. Rồi bà vợ trẻ đẹp của ông ta cũng chán ngán bỏ đi. Quá đổi tuyệt vọng, ông ta tìm đến một dòng sông và sắp sửa buông mình ra khỏi chiếc cầu để tự tử thì bị chặn lại bởi một người đàn bà trong chiếc áo khoác dài đen, khuôn mặt nhăn nheo, mái tóc quăn queo màu muối tiêu.
“Ðừng nhảy”, người đàn bà với giọng the thé, "Ta là mụ phù thủy đây, và ta sẽ ban cho ngươi ba điều ước nếu ngươi làm cho ta một việc!"
“Không ai có thể giúp tôi được nữa,” ông ta trả lời.
“Này, đừng có ngớ ngẩn như thế,” bà ta đọc thần chú, “Alakazam! Tiền bị mất sẽ trở lại hộp an toàn của nhà thờ! Alakazam! Vợ ngươi hiện đang ở nhà chờ ngươi với tình yêu say đắm nhất. Alakazam! hai trăm ngàn đô la hiện ở trong nhà băng của ngươi!”
“Thật là tuyệt…tuyệt…tuyệt vời,” vị mục sư lắp bắp, “bây giờ thì tôi phải làm điều gì cho bà đây?”
“Ngủ và làm tình với ta trong đêm nay.”
Cái ý tưởng phải ăn nằm với một mụ già không răng xấu như ma đã bị đẩy lùi vì quả tình nó rất đáng giá, thế rồi họ ngủ lại qua đêm với nhau tại một khách sạn cạnh đó. Buổi sáng, sau khi màn trao đổi ghê tởm kết thúc, vị mục sư đang sửa soạn bận áo quần để về nhà thì có tiếng nói vọng lên từ trên giường: “Này con trai cưng, bao nhiêu tuổi rồi vậy?”
“Bốn mươi hai! Có chuyện gì không?”
“Có phải ngươi chưa đủ già đến nỗi tin rằng chuyện phù thủy là có thực?”
Ðó là những gì đang xảy ra. Nếu bạn tin tưởng vào Thượng Ðế, bạn cũng có thể tin tưởng vào chuyện phù thủy, cũng cùng một loại thôi. Nếu bạn tin tưởng vào một chuyện nhảm nhí vô nghĩa, bạn có thể tin tưởng vào tất cả những chuyện nhảm nhí vô nghĩa khác. Thế là bạn không bao giờ trưởng thành. Bạn vẫn luôn là trẻ con dễ bị lừa.
Thiền có nghĩa là chín chắn. Thiền có nghĩa là loại bỏ tất cả những mụ phù thủy hoang đường để nhìn thẳng vào vấn đề. Ðừng mang những giấc mộng của bạn vào thực tại. Hãy chùi sạch đôi mắt mơ ngủ của mình để nhìn rõ thực tại. Cái như thị đó được gọi là konomama hay sonomama. Kono hay sonomama có nghĩa là cái như thị của một sự vật – cái thực tướng trong cái như thị của nó.
Tất cả mọi ý thức hệ đều ngăn chặn tầm nhìn của bạn. Những ý thức hệ là những chiếc khăn bịt mắt cản trở thị kiến của bạn. Một người Ky tô hữu không thể thấy được cái gì cả, người Ấn Ðộ giáo cũng thế, kể cả người Hồi giáo. Bởi vì bạn bị chiếm ngự bởi những ý tưởng của riêng mình nên bạn chỉ trông thấy những gì muốn trông thấy, cái thực tại không hề xuất hiện, bạn đang phóng chiếu, bạn đang diễn dịch, bạn đang tạo ra một thực tại riêng tư của chính bạn vốn không hề hiện hữu ở đó. Ðiều này tạo ra một sự phá sản tâm linh. Trong số một trăm người được gọi là ông thánh của bạn, có đến chín mươi chín người là kẻ mất trí.
Thiền mang lại sự lành mạnh tinh thần cho thế giới, một sự lành mạnh hoàn toàn. Nó giải trừ tất cả mọi giáo điều, ý thức hệ, khi nói: “Hãy trở nên trống rỗng. Hãy nhìn bằng đôi mắt vô niệm. Nhìn thẳng vào bản tánh của vạn pháp, mà không khởi lên một ý niệm, không thiên kiến, không giả định.” Không nên để bị nhồi nhét trước, đó là một trong những điều cơ bản nhất. Thế nên thần học phải bị loại trừ, nếu không bạn sẽ vẫn mãi mãi bị nhồi nhét bởi những thiên kiến.
Bạn đã thấy được trọng tâm của vấn đề chưa? Khi bạn đã mang sẵn một ý tưởng ở trong đầu, thường một điều chắc chắn là bạn sẽ tìm thấy nó ở trong thực tế – bởi vì tâm rất là sáng tạo. Dĩ nhiên cái sáng tạo này chỉ thuần là tưởng tượng. Nếu bạn đang tìm kiếm Christ, có thể bạn sẽ thấy những ảo ảnh về Jesus Christ, và tất cả đều là hư huyễn. Nếu bạn đang tìm kiếm Krisna, bạn có thể bắt đầu thấy Krisna, và tất cả cũng chỉ là hư huyễn.
Thiền rất mực thực tế. Nó cho rằng những gì là ảo tưởng cần phải được loại trừ. Ảo tưởng đến từ quá khứ. Từ thuở ấu thơ bạn đã bị điều kiện hoá bởi một số ý tưởng. Từ thuở ấu thơ bạn đã được đưa đến nhà thờ, đưa đến chùa, đưa đến thánh đường Hồi giáo; bạn đã được dẫn đến các nhà học giả, các nhà thông thái, các nhà tu sĩ; bạn đã bị buộc phải lắng nghe những bài thuyết pháp – đủ mọi thứ chuyện được nhét vào tâm trí của bạn. Với gánh nặng chồng chất như thế, bạn chớ vội đi tìm chân lý – vì nếu không, bạn sẽ không bao giờ biết rõ được chân lý là cái gì.
Phải cởi bỏ cái gánh nặng đó. Cởi bỏ cái gánh nặng đó tức là Thiền.
Một vị mục sư đang rao giảng Phúc Âm trong một bệnh viện tâm thần cho những người mất trí. Bài giảng của ông ta nửa chừng đột nhiên bị cắt đứt bởi tiếng ré lớn: “Này, nghe tôi nói đây này, chúng ta có nên lắng nghe những chuyện vớ vẩn này không?”
Vị mục sư hơi ngạc nhiên và bối rối hỏi người canh giữ: “Tôi có nên ngưng nói không?”
Người gác trả lời: “Không, không, hãy cứ tiếp tục. Chuyện này tôi bảo đảm là sẽ không xảy ra nữa đâu, ít nhất là bảy năm nữa. Cái tên điên này cứ bảy năm hắn mới tỉnh táo được một lần đó mà.”
Quả thật là rất khó khăn để tỉnh táo trong một thế giới đang điên loạn.
Thiền dễ nhưng mà khó. Thiền như ta được biết là những gì đơn giản – rất mực đơn giản, đơn giản nhất, bởi vì đây là sự tự phát - nhưng lại rất khó khăn, bởi vì tâm của ta đã bị điều kiện hóa, bởi vì cái thế giới khùng điên mà chúng ta đang sống, chúng ta được nuôi dưỡng lớn lên, nó làm cho chúng ta hư hỏng.

0 Đánh giá

Ads Belove Post