Chương 1. Bí mật của hình dạng, âm thanh và hương thơm

Chương 1. Bí mật của hình dạng, âm thanh và hương thơm

Price:

Read more

Osho - Những điều huyền bí tiềm ẩn
Chương 1. Bí mật của hình dạng, âm thanh và hương thơm
21 tháng 4 năm 1971, buổi tối tại Woodland, Bombay, Ấn Độ

Giả sử chúng ta có chìa khóa trong tay. Chúng ta không thề hiểu công dụng của chính cái chìa, hoặc không thể hình dung rằng kho báu vĩ đại có khả năng được phát hiện bởi chính sự trợ giúp của nó. Không có sự chỉ dẫn ẩn dấu nào trong khóa liên quan đến kho báu; chính ổ khóa bị khóa. Thậm chí nếu chúng ta phá nó hoặc chúng ta cắt nó thành nhiều mảnh, chúng ta chỉ có thể tìm ra thứ kim loại làm ra nó, chúng ta không thể tìm được bất kì điều gì về kho báu tiềm ẩn mà chìa có khả năng phát hiện. Bất kì khi nào mà khóa được bảo tồn trong thời gian dài thì nó chỉ có thể trở thành gánh nặng trong cuộc đời chúng ta.
Thậm chí ngày nay, trong cuộc sống có rất nhiều chìa có thể mở các ô cửa của các kho báu, nhưng thật không may, chúng ta không biết bất kì điều gì về những kho báu đó hoặc những chìa có thể mở. Khi chúng ta không biết về, hoặc là những kho báu, hoặc những chiếc khóa, vậy thì điều gì còn lại trong tay chúng ta không thể gọi là chìa. Nó chỉ có thể là chìa nếu nó mở được khóa. Thỉnh thoảng trong quá khứ, chìa tương tự cũng có thể khám phá ra các kho báu, nhưng bởi vì ngày nay không gì có thể được mở, chìa đã trở thành gánh nặng. Nhưng thậm chí như vậy, chúng ta cũng không cảm nhận giống như việc ném một cái gì đó đi.
Chìa đã để rơi rớt lại hương thơm trong tâm trí vô thức của con người. Có thể, bốn nghìn năm trước chìa đó đã mở những chiếc khóa, và những kho báu đã được tìm ra: hồi ức của tâm trí vô thức làm cho chúng ta mang gánh nặng của chìa đó trong thời nay. Tuy nhiên con người có thể bị thuyết phục quá nhiều về sự vô dụng của những chiếc chìa, nhưng chúng ta không đủ can đảm để vứt chúng đi. Ở một góc nào đó chưa được biết đến của trái tim, vẫn còn phảng phất hi vọng rằng, vào một ngày nào đó, khóa có thể được mở bởi chính nó.
Hãy lấy ví dụ, những ngôi đền... Không có giáo phái nào mà không xây dựng một cái gì đó như ngôi đền - chẳng thành vấn đề cho dù nó được gọi là masjid, hoặc nhà thờ, hoặc gurudwara. Ngày nay, để tìm hiểu một cái gì đó từ những giáo phái khác là điều có thể đối với chúng ta, nhưng có thời kì chúng ta thậm chí không biết về sự tồn tại của những giáo phái khác, cho nên không có cách nào để tìm hiểu giáo phái đó. Ngôi đền không phải là kết quả kì cục của sự tưởng tượng của con người kì quặc nào đó, nhưng rễ của nó đã ăn sâu đâu đó trong tâm thức của con người.
Con người có thể sống trong rừng sâu, hoặc trên núi cao, hoặc trong hang động, hoặc ở bờ sông - họ có thể đã sống ở bất kì đâu - nhưng dù ở bất kì đâu họ đã sống thì con người cũng đã xây dựng một cái gì đó giống với ngôi đền. Một cái gì đó là sản phẩm của tâm thức họ. Không có sự bắt chước mù quáng; họ không xây dựng bằng việc nhìn theo những ngôi đền khác. Cho nên tất cả những ngôi đền đều có hình dạng và kiểu dáng khác nhau, nhưng chúng vẫn luôn tồn tại.
Có rất nhiều sự khác biệt giữa ngôi đền và masjid, sự bố trí và quy hoạch là rất khác nhau, nhưng không có sự khác nhau về khát vọng của con người, hoặc sự thôi thúc mạnh mẽ bên trong. Con người có thể ở bất kì nơi đâu; họ không quen thuộc, không quen biết với những người khác, họ vẫn có thể mang hạt mầm tiềm tàng ở nơi nào đó trong tâm trí mình.
Một điều khác nữa cũng đáng chú ý, mặc dù hàng ngàn năm đã trôi qua và chúng ta không có manh mối nào về những chiếc khóa, hoặc những kho báu tiềm ẩn, chúng ta vẫn tiếp tục mang những chiếc chìa kì lạ như là bị bùa mê về kí ức mong manh nào đó. Mặc dù tất cả những cuộc tấn công vào điều này - lý trí cố phá hủy từ mọi hướng; cái gọi là trí tuệ hiện đại không chấp nhận điều đó - tâm hồn con người vẫn đánh giá cao hồi ức này và tiếp tục bị mê hoặc bởi nó. Cho nên chúng ta buộc phải nhớ rằng, mặc dù ngày nay con người không nhận biết về điều đó, một nơi nào đó trong vô thức vẫn có tiếng nói vọng lại với chúng ta rằng, một cái khóa nào đó đã được mở vào một ngày nào đó.
Tại sao điều này được lưu giữ trong vô thức? Bởi vì không ai trong chúng ta là người mới đối với thế giới này. Tất cả chúng ta đã được sinh ra nhiều lần, không có thời đại nào mà chúng ta không tồn tại. Bất kì điều gì mà chúng ta biết một cách tỉnh táo trong quá khứ thì ngày nay lại là vô thức, bị chôn vùi sâu trong chúng ta dưới hàng nghìn lớp như là sự vô thức. Nếu trong quá khứ chúng ta biết ý nghĩa, biết những bí mật sâu kín của ngôi đền và trải nghiệm sự cởi mở của một vài ô cửa bên trong, vậy thì ở một nơi nào đó trong sâu thẳm của vô thức, hồi ức vẫn còn ẩn mình kín đáo. Trí tuệ có thể chối bỏ hoàn toàn sự tồn tại của nó, nhưng trí tuệ không thể đạt tới chiều sâu, nơi mà hồi ức được giữ lại.
Cho nên bất chấp tất cả những cản trở này, bất chấp sự xuất hiện vô nghĩa của chúng theo mọi cách, đây là một cái gì đó vẫn còn dai dẳng không thể dời bỏ. Có thể nó có hình thái mới, nhưng nó vẫn tiếp tục. Đây là khả năng duy nhất có thể nếu chúng ta biết một cái gì đó như là hành trình vô hạn của sinh và tử - mặc dù ngày nay chúng ta có thể không còn nhớ về điều đó.
Ngoại trừ công dụng bên ngoài - như là phương tiện cho mục đích - mỗi một trong những thứ đó cũng có ý nghĩa và mục đích sâu sắc hơn.
Sự lôi cuốn phổ biến về việc tạo ra ngôi đền là điều cố hữu chỉ trong con người. Thú vật cũng tạo ra chỗ ở cho chúng, chim cũng xây tổ nhưng chúng không xây dựng những ngôi đền. Khi phân biệt con người với thú vật, một đặc điểm nổi bật là, con người là thú vật biết tạo ra ngôi đền; không có con vật nào tạo ra những ngôi đền. Để tạo ra một vài nơi trú ngụ cho chính mình là điều hoàn toàn tự nhiên, bởi vì điều đó được thực hiện bởi mọi loài vật. Chim muông và thú vật làm điều đó, thậm chí những con côn trùng nhỏ bé cũng làm điều đó, nhưng để xây dựng ngôi nhà linh thiêng thì lại là đặc điểm khác biệt của con người.
Nếu không có một vài nhận biết sâu sắc của con người về điều linh thiêng thì ngôi đền không thể được xây dựng. Thậm chí nếu sau đó sự nhận biết bị mất đi thì ngôi đền sẽ vẫn giữ nguyên; và chắc chắn rằng nó không thể được xây dựng mà không có sự trải nghiệm sâu sắc về điều linh thiêng.
Bạn làm nhà khách bởi vì những vị khách liên tục viếng thăm bạn. Nếu không có những vị khách thì bạn hẳn sẽ là không lãng phí tiền bạc vì ngôi nhà khách đó. Nhưng thậm chí, mặc dù bây giờ có thể không có khách thì ngôi nhà khách đó vẫn giữ nguyên.  Cho nên toàn bộ ý tưởng về việc xây dựng ngôi đền, hoặc điện thờ thần thánh phải được hình thành ở những thời điểm, khi mà thần thánh không chỉ là vấn đề tưởng tượng, mà là sự thực sống động đối với con người. Quá trình hiện thân quan trọng của thần thánh trên thế gian đòi hỏi sự cần thiết nơi chốn đặc biệt ở mọi nơi chốn trên trái đất, và chúng có thể được dùng như là nơi ở đặc biệt cho các vị đó. Để thu nhận bất kì điều gì phù hợp thì mọi sự thu xếp đầy đủ phải được chuẩn bị.
Điều đó có thể dược hiểu như thế này... có nhiều sóng vô tuyến xung quanh chúng ta, nhưng chúng không thể được thu nhận nếu không có thiết bị thu sóng. Ngày mai, nếu có chiến tranh thế giới thứ ba và nếu công nghệ bị hủy diệt, nhưng bằng cách nào đó thiết bị thu sóng vô tuyến vẫn may mắn được giữ nguyên, bạn hẳn là không muốn vứt nó đi.
Sau nhiều thế hệ trong gia đình bạn, nếu một người nào đó được yêu cầu sử dụng máy thu sóng, không thành viên nào trong gia đình bạn còn sống để có khả năng lặp lại. Có thể họ chỉ nói rằng cha ông họ, tổ tiên của họ cứ khăng khăng muốn nó được giữ gìn, cho nên họ tiếp tục giữ nó. Tổ tiên họ chưa bao giờ nói nó dùng để làm gì, họ không biết sử dụng nó cho nên đối với họ nó là vô dụng; thậm chí nếu máy thu đó bị tháo rời ra thì cũng không hiểu biết thêm được gì. Bằng việc cho máy thu sóng hoạt động, vậy thì có thể biết rằng một lần nào đó trong quá khứ, âm nhạc và tiếng nói có thể được nghe bởi nó. Máy thu sóng vô tuyến chỉ được dùng như trạm thu đối với một cái gì đó xuất hiện ở đâu đó, nó có thể thu được sóng vô tuyến và làm việc như phương tiện trung gian để biến sóng vô tuyến thành âm thanh nghe được.
Chính xác theo kiểu như vậy, các ngôi đền được sử dụng như thiết bị thu.
Mặc dù sự mộ đạo ở khắp nọi nơi và con người cũng có mặt ở khắp nọi nơi, chỉ trong một vài trường hợp riêng biệt bên trong chúng ta, chúng ta trở nên hòa hợp với sự mộ đạo đó. Cho nên các ngôi đền được sử dụng như những trung tâm thu nhận, chúng cho chúng ta cảm nhận về sự tồn tại của thần thánh, của lòng mộ đạo, của sự cao cả tâm linh. Toàn bộ sự sắp xếp trong ngôi đền được thúc đẩy bởi quan điểm cuối cùng này. Những dạng người khác nhau nghĩ về những kiểu bố trí khác nhau, nhưng điều đó không quan trọng lắm, điều đó không tạo ra khác biệt. Các nhà máy khác nhau sản xuất ra máy thu sóng vô tuyến với những hình dạng và kiểu dáng khác nhau, nhưng công dụng cuối cùng là như nhau.
Những ngôi đền ở Ấn Độ ần như được xây dựng từ một trong ba hoặc bốn kiểu; những ngôi đền khác là bản sao của những ngôi đền này. Những mái vòm của những ngôi đền này cơ bản dựa vào hình dạng của bầu trời. Có những mục đích quan trọng. Nếu tôi ngồi ngoài trời và lặp lại 'Aum' thì giọng của tôi sẽ bị mất đi, bởi vì cường độ giọng của cá nhân sẽ bị mất hút bởi không gian mở bao la. Tôi sẽ không có khả năng nghe âm điệu của tôi vọng lại - tất cả sự cầu nguyện của tôi bị mất hút vào bầu trời mênh mông.
Những mái vòm được xây dựng sao cho tiếng vọng của những lời cầu nguyện của chúng ta có thể vọng ngược trở lại chúng ta. Mái vòm chỉ nhỏ thôi, là nguyên mầu bán nguyệt của bầu trời. Nó có hình dạng giống như bầu trời chạm vào trái đất từ bốn phía. Bất kì lời cầu nguyện hay sự tụng kinh nào được tiến hành dưới vòm của nó sẽ không bị mất hút như là dưới bầu trời mênh mông bởi vì mái vòm sẽ phản xạ ngược lại tới người cầu nguyện. Mái vòm tròn hơn, nhẵn hơn thì càng dễ hơn cho âm thanh phản xạ, sự vọng âm của nó sẽ tăng lên theo cùng tỉ lệ.
Theo thời gian, thậm chí những tảng đá cũng được khám phá ra rằng nó cũng có thể làm tăng sự dội âm với mức độ không ngờ.
Có phòng cầu nguyện của phật tử ở động Ajanta, nơi mà những tảng đá dội âm với cùng cường độ của nhạc cụ Ấn Độ, tabla. Nếu chúng ta đ65p vào những tảng đá đó với cùng một lực như khi sử dụng để chơi đàn tabla thì chúng sẽ phát ra cùng một âm lượng. Những tảng đá bình thường được sử dụng để xây dựng vòm không có khả năng dội lại những âm thanh rất tinh tế nào đó, cho nên loại đá đặc biệt đã được sử dụng.
Mục đích đằng sau tất cả những điều này là gì?  Mục đích đó là, khi một người nào đó tụng kinh 'Aum' và điều đó được thực hiện với cường độ rất mạnh thì mái vòm của ngôi đền tạo ra sự vọng âm, tạo ra những vòng tròn âm câu tụng kinh hoặc của âm thanh. Vòm của ngôi đền, với tính tự nhiên của thiết kế, rất hữu ích cho việc tạo ra vòng tròn của tiếng vọng âm thanh. Vòng tròn âm thanh đó là duy nhất. Nếu 'Aum' được tụng dưới bầu trời rộng mở thì sẽ không có vòng tròm âm thanh nào được tạo ra, và bạn sẽ không bao giờ trải nghiệm được niềm vui đó.
Khi sự hình thành vòng tròn xuất hiện, bạn không giữ nguyên là người cầu nguyện khiêm nhường trước thần thánh, mà bạn trở thành người nhận - chính vì vậy mà có thể nói, sự cầu nguyện của người đó cũng được trả lời. Và với sự vọng âm đó, sự trải nghiệm điều linh thiêng bắt đầu vào bạn. Mặc dù âm thanh được tạo ra trong tụng kinh là của con người, khi nó được dội lại thì sự dội âm đó xuất hiện với vận tốc mới, và như là sự hấp thụ, như một tiềm năng khác được phát ra.
Những ngôi đền dạng vòm được sử dụng để tạo ra những vòng tròn âm thanh bằng việc tụng các câu thần chú. Nếu người tụng kinh ngồi một mình trong bình lặng và yên tĩnh tuyệt đối thì vòng tròn âm thanh sẽ nhanh cóng được tạo ra, ý nghĩ sẽ dừng. Về mặt này thì vòng tròn được tạo ra, về mặt khác thì ý nghĩ sẽ dừng. Như tôi thường nói, thậm chí vòng tròn năng lượng được tạo ra trong hoạt động dục giữa nam và nữ, và khi sự hình thành vòng tròn như vậy xuất hiện - đó là thời điểm hướng thẳng tới siêu tâm thức.
Hãy nhìn vào những bức tượng của Đức Phật và Mahavira ở Padmasan và Siddhasan. Những bức tượng đó chỉ ra những phương pháp của việc hình thành những vòng tròn như vậy. Khi chúng ta ngồi khoanh hai chân và hai tay đặt lên chân, sau đó toàn bộ cơ thể vận động như vòng tròn. Vậy thì thân điện không thể biến mất và dòng điện sẽ được tạo ra. Ngay khi dòng điện được tạo ra, con người sẽ trở nên vô nghĩ. Nếu chúng ta sử dụng ngôn ngữ của kĩ sự điện thì có thể nói rằng những ý nghĩ trong tâm trí là quá ồn ào bởi vì chúng ta không có dòng điện nội tại. Ngay khi dòng điện được tạo ra, năng lượng bên trong trở nên cân bằng và im lặng. Cho nên, việc tạo ra vòng tròn năng lượng với sự trợ giúp của các vòm của ngôi đền là một quá trình tuyệt vời, và đây chính là mục đích và ý nghĩa sâu sắc của nó.
Chúng ta nhìn thấy những cái chuông lớn và những cái chiêng lớn ở lối vào những ngôi đền, chúng được sử dụng cùng mục đích. Khi bạn tụng 'Aum', mặc dù có thể bạn thực hiện rất nhỏ và sự chú ý của bạn ở một nơi nào đó khác, nhưng âm thanh của chuông sẽ ngay lập tức mang sự chú ý của bạn quay trở lại vòng tròn âm thanh được tạo ra bởi sự rung động của chuông. Điều này giống như hòn đá bị ném xuống ao, nó tạo ra những gợn sóng nối tiếp nhau.
Trong những ngôi đền ở Tây Tạng, thay vì sử dụng chuông hoặc chiêng thì họ lại dùng chiếc thùng hình cái bát được làm bằng nhiều dạng kim loại, cà có một cậy gậy gỗ quay tròn bên trong. Cây gậy này quay trong chiếc thùng bảy lần, sau đó bất ngờ đánh vào vỏ thùng với tiếng kêu 'bang' rất lớn. Sự rung động tạo ra bên trong thùng đã tạo ra âm thanh giống như 'mani padme hum' - toàn bộ câu thần chú. Cái thùng dội lại âm thanh 'Mani padme hum' không phải một lần mà là bảy lần. Quay nhanh cây gậy bên trong thùng bảy lần, đánh vào thùng rồi lấy nó ra - sau đó bạn sẽ nghe âm thanh vọng lại của câu thần chú 'Mani padme hum' bảy lần. Mặc dù âm thanh sẽ yếu dần nhưng sẽ vẫn nghe được bảy lần.
Tương tự như vậy, trong ngôi đền mái vòm tạo ra trong chính bạn câu thần chú 'Aum mani padme hum', và nghe thấy: ngôi đền dội vọng lại. Mọi tế bào của cơ thể sẽ nhận được sự rung động và đáp lại với sự cộng hưởng sâu sắc hơn. Sau một vài khoảnh khắc bạn hoặc ngôi đền sẽ không có đó - chỉ còn lại những vòng tròn của năng lượng.
Nên nhớ rằng âm thanh là một dạng tinh tế của điện. Nhưng các hiền nhân Ấn Độ đi một bước xa hơn, họ nói rằng điện là một dạng của âm thanh, rằng âm thanh là cơ bản chứ không phải điện. Chính vì vậy mà họ gọi siêu bản thể là shabda-brahma - 'âm thanh là sự thực tối thượng'.
Hiện nay, sự tiếp cận của các nhà tư tưởng phương Đông và các nhà khoa học hiện đại gần như là tương tự, sự khác nhau giữa hai chỉ ở bước đầu tiên. Các nhà khoa học nói rằng điện là cơ sở, trong khi đó các hiền nhân nói rằng mật độ âm thanh tạo ra điện. Điều này có nghĩa rằng trong tương lai gần, khoa học sẽ phải nghiên cứu khía cạnh tuyệt đối của âm thanh.
Sự hiểu biết của hiền nhân bắt nguồn từ kinh nghiệm của âm thanh được tạo ra dưới mái vòm của ngôi đền. Khi âm thanh mãnh liệt 'Aum' được tạo ra trong ngôi đền bởi người mộ đạo, trong vòng vài phút người đó cảm nhận rằng chính mình hoặc ngôi đền không còn đó, mà chỉ còn điện được lưu giữ lại. Kết luận này không được đưa ra bởi bất kì phòng thí nghiệm nào - những người đưa ra tuyên bố không có phòng thí nghiệm, ngôi đền của họ được dùng như là phòng thí nghiệm duy nhất. Ở đó họ đã trải nghiệm rằng mặc dù họ bắt đầu với âm thanh nhưng những gì giữ lại cuối cùng lại là điện.
Hãy trải nghiệm sự biến đổi này của âm thanh được tạo ra bởi những ngôi đền mái vòm.
Khi những người phương Tây nhìn thấy những ngôi đền Ấn Độ đầu tiên, họ nghĩ chúng không hợp vệ sinh, có hại cho sức khỏe. Ý tưởng cơ bản nhất của những ngôi đền là không thể có nhiều cửa đi và cửa sổ. Chỉ có thể có một cửa, và nó cũng rất nhỏ. Ý tưởng ẩn sau điều này là để bảo đảm rằng vòng tròn âm thanh được tạo ra trong ngôi đền không bị tắc nghẽn. Cũng không có gì ngạc nhiên, những người phương Tây đó ra về với ấn tượng về những ngôi đền này rất cáu bẩn, tối tăm, dơ dáy, không khí trong lành không thể thâm nhập vào. Bằng việc so sánh thì thấy rằng những nhà thờ của họ rất thông thoáng, sạch sẽ, có nhiều cửa lớn và cửa sổ để ánh sáng, khí trời dễ dàng thâm nhập vào, và còn hợp vệ sinh nữa.
Tôi đã nói với bạn trước đây rằng khi bí mật sử dụng chìa khóa bị thất lạc thì tất cả các khó khăn lại xuất hiện bất ngờ. Ngày nay, không một người nào ở Ấn Độ sẽ có khả năng nói tại sao những ngôi đền không có các cửa sổ và các cửa đi. Cho nên khi được hỏi chúng ta đều có khuynh hướng đồng ý rằng những ngôi đền của chúng ta là không hợp vệ sinh; không ai có thể lí lẽ, trong những ngôi đền này, những người khỏe mạnh nhất đã sống ở bên trong và không bệnh tật nào được phép thâm nhập vào. Những người thường cầu nguyện và thờ cúng ở đó biểu hiện như là những người khỏe nhất theo đúng nghĩa của từ đó.
Tại sao? Dần dần con người cũng nhận ra âm thanh được tạo ra bởi việc tụng 'Aum' có sự ảnh hưởng thanh khiết duy nhất. Có những âm thanh cụ thể nào đó có ảnh hưởng thanh khiết, và có những thứ khác là ô uế. Một vài âm thanh đặc biệt tác động như là sự ngăn cản những bệnh tật, và có những lạoi âm thanh khác mời gọi bệnh tật. Tuy nhiên, toàn bộ khoa học về âm thanh đã bị thất lạc.
Những người đã nói âm thanh là tồn tại tuyệt đối thì họ cũng đã nói đó là điều cuối cùng có thể nói về âm thanh. Không có kinh nghiệm sâu sắc hơn tồn tại tuyệt đối, họ không biết bất kì điều gì sâu sắc hơn âm thanh lại có thể được sử dụng để biểu cảm chính mình.
Tất cả các giai điệu, các dạng và sự cải tiến của chúng đều sinh ra ở phương Động. Có những sự trải rộng của những kinh ghiệm về sự tồn tại tuyệt đối ở dạng âm thanh. Các tác phẩm âm nhạc cũng như các điệu múa đã khởi thủy trong những ngôi đền, sau đó chúng được phát triển ở một nơi nào đó như là những loại hình nghệ thuật đặc trưng. Chỉ trong ngôi đền, người mộ đạo mới trải nghiệm những hiệu ứng của âm thanh ở vô số sự biến tấu - quá nhiều đến mức bất kì sự lưu giữ thống kê nào về chúng cũng là điều khó khăn.
Chỉ bốn mươi năm trước, có một người sống ẩn dật ở varanasi được gọi là Vishudhananda. Ông ta đã đưa ra hàng tăm màn biểu diễn để chứng minh rằng bằng một vài âm thanh đặc biệt có thể giết chết một người nào đó. Sadhu này thường ngồi dưới vòm của ngôi đền, một ngôi đền mà có thể nói theo ngôn ngữ hiện đại là hoàn toàn mất vệ sinh. Lần đầu tiên, với sự hiện diện của ba bác sĩ đến từ nước Anh, một thử nghiệm đã được thực hiện. Các vị bác sĩ đã mang con chim vào ngôi đền cũng họ. Vishudhananda tạo ra những âm thanh đặc biệt nào đó: con chim sẻ vỗ cánh trong chốc lát và sau đó lăn ra chết. Các bác sĩ khám nghiệm và tuyên bố nó đã chết. Sau đó Vishudhananda tạo ra một số âm thanh khác: con chim sẻ sống lại và lại bắt đầu vỗ cánh. Như vậy là lần đầu tiên họ đã nhận ra tác động của âm thanh có thể tạo ra nhữn hiệu ứng rõ ràng.
Ngày nay chúng ta sẵn sàng chấp nhận những hiệu ứng đặc biệt được tạo ra bởi những âm thanh đặc biệt bởi vì khoa học có thể chứng minh điều đó. Bây giờ chúng ta có thể nói, nếu một tia sáng đặc biệt nào đó rọi vào cơ thể chúng ta thì nó sẽ cho những kết quả đặc biệt; nếu những loại thuốc riêng biệt được cung cấp cho bệnh nhân thì nó cũng cho ra những kết quả rõ ràng; nếu những màu sắc đặc biệt được sử dụng thì chúng sẽ mang đến những hiệu ứng rõ ràng. Vậy thì tại sao những âm thanh đặc biệt lại không gây ra những hiệu ứng cụ thể?
Hiện nay, một số phòng thí nghiệm ở phương Tây đang rất quan tâm đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa âm thanh và cuộc sống, hai hoặc ba phòng thí nghiệm đã đi tới kết luận có ý nghĩa rất sâu sắc.
Trong hai phòng thí nghiệm, các nhà khoa học đã thành công trong việc chứng minh những âm thanh đặc biệt có thể tạo ra nhiều sữa hơn ở những người mẹ.  Thông qua những ạm thanh cụ thể nào đó, cây có thể tạo ra những bông hoa trong vòng hai tháng, thay vì bình thường là sáu tháng. Những con bò cung cấp gấp đôi lượng sữa nếu chúng được nghe nhạc nhẹ trong thời kì tạo sữa. Ngày nay, tất cả những trại sản xuất bơ sữa ở nước Nga đang sử dụng phương pháp mới nhất này trong thời kì tạo sữa. Và vào một ngày không xa tất cả trái cây và rau xanh sẽ phát triển với sự trợ giúp của 6m thanh nào đó. Sự kiểm chứng đã được thực hiện ở các phòng thí nghiệm, và việc nó được áp dụng ở quy mô rộng lớn chỉ là vấn đề thời gian.
Bệnh tật và sức khỏe đều phụ thuộc vào những sóng âm thanh đặc biệt, cho nên trong quá khứ, con người đã tạo ra những sự sắp xếp hợp vệ sinh trong những ngôi đền của họ, nhưng không có bất kì sự phụ thuộc nào và không khí. Họ không tin rằng chỉ có lượng không khí dồi dào thì sức khỏe mới tốt. Ngược lại, không thể hình dung rằng, trong chu kì năm nghìn năm, họ không thể gặp ý tưởng về sự thông gió phù hợp ở nơi chốn thờ cúng của họ.
Ở Ấn Độ, người sống ẩn dật thường ngồi trong hanh động, nơi mà ánh sáng và không khí không thể thâm nhập vào, hoặc họ ngồi trong những ngôi đền có cửa rất nhỏ, nơi mà con người phải khom xuống thì mới có thể vào trong. Có vài ngôi đền mà bạn phải nằm xuống và bò vào trong; thậm chí có vài ngôi đền mà con người vào chỉ bằng việc tụng niệm. Mặc dù điều này nhưng vẫn không có bệnh tật nào ảnh hưởng tới sức khỏe của những người mộ đạo. Đó là kinh nghiệm của chúng ta trong hàng nghìn năm. Nhưng khi có sự ảnh hưởng của người phương Tây, chúng ta có thể bắt đầu nghi ngờ, và lần đầu tiên những ô cửa của ngôi đền được làm rộng hơn, những ô cửa sổ bắt đầu được lắp đặt. Chúng ta hiện đại hóa những ngôi đền; và bằng việc làm như vậy chúng ta đã biến chúng thành những ngôi nhà thông thường.
Âm học và kiến trúc của ngôi đền có sự liên kết sâu sắc.
Có quy định đặc biệt về góc mà ở đó âm thanh được tạo ra. Có những quy định để tạo ra âm thanh trong khi đứng hoặc khi ngồi. Thậm chí còn có quy định mà âm thanh được tạo khi chỉ nằm xuống bởi vì ảnh hưởng của âm thanh sẽ có tác động nào đó khi nó được tạo ra ở tư thế đứng, và sẽ thay đổi khi được tạo ra trong tư thế bạn đang ngồi. Rõ ràng rằng âm thanh được tạo ra cùng nhau và cũng được tạo ra riêng biệt. Cho nên, thật thú vị khi lưu ý đến sự bối rối nảy sinh khi văn hóa vedic được dịch ra các ngôn ngữ phương Tây.
Ngôn ngữ phương Tây nhấn mạnh đến hình thái hơn là ngữ âm, ngược lại, theo quan điểm của vedic, ý nghĩa của câu nói hoặc câu viết không quá quan trọng như đối với âm thanh riêng biệt và bố cục của âm thanh đó. Do vậy, ngôn ngữ Sanskrit là ngữ âm mà không phải là hình thái; nhấn mạnh nhiều hơn về âm thanh hơn là về từ. Cho nên trong hàng nghìn năm, có cảm nhận rằng những kinh có giá trị không được viết ra bởi vì, một cách tự nhiên, việc viết ra hẳn sẽ bị thất lạc nhanh hơn là bằng việc nhấn mạnh âm thanh. Khẳng định rằng kiến thức được hình thành bởi việc nói bằng miệng hơn là trong việc viết bởi vì bằng việc viết - chúng chỉ là từ ngữ, và những cảm giác tinh tế liên quan đến âm thanh hẳn sẽ bị thất lạc và sẽ trở nên vô nghĩa.
Nếu chúng ta viết những lời nói của Rama, những người đang đọc nó sẽ nói theo nhiều cách khác nhau. Một số người sẽ nhấn mạnh nhiều đến chữ 'r', một số khác nhấn mạnh đến chữ 'a' và một số người khác nữa lại nhấn mạnh đến chữ 'm'. Điều đó sẽ phụ thuộc vào cá nhân người đọc. Câu nói nhanh chóng được viết ra, hiệu quả của âm thanh bị hủy hoại. Ngày nay, để hiểu được hiệu quả âm thanh của những câu nói này, toàn bộ bài toán giải mã về phát âm chính xác những từ ngữ sẽ phải được thực hiện. Cho nên, trong hàng nghìn năm đã có sự quyết tâm mạnh mẽ về việc không viết ra bất cứ kinh nào bởi vì những nhà tiên tri không muốn sự sắp xếp ngữ âm bị thất lạc. Kinh phải được truyền trực tiếp cho người khác bởi lời nói phát ra từ miệng. cho nên các kinh được biết đến như shrutis, nghĩa của nó được hiểu bởi việc nghe.
Những gì được truyền dưới dạng những cuốn sách chưa bao giờ được chấp nhận như là kinh. Về mặt khoa học, tất cả điều đó cơ bản dựa trên sự sắp xếp của âm thanh. Ở một vài nơi, âm thanh phải được làm cho mềm mại, và ở những nơi khác, nó phải được làm cho lớn hơn. Việc viết những câu này ở dạng kinh sách là điều rất khó khăn. Vào ngày mà các kinh được cắt gọn để viết ra thì điều cốt lõi nguyên thủy vốn có, sự sắp xếp bên trong của âm thanh bị thất lạc. Việc hiểu chỉ bằng nghe là không cần thiết nữa. Bạn có thể đọc kinh - nó luôn có sẵn ở chợ. Bây giờ không còn mối quan hệ hoặc sự liên quan tới âm thanh.
Lưu ý rằng, các kinh chưa bao giờ nhấn mạnh về ý nghĩa, đây là lưu ý quan trọng. Sự nhấn mạnh về ý nghĩa sau này trở thành liên quan khi chúng ta cắt gọt kinh để viết. Nếu một cái gì đó được viết ra mà không có ý nghĩa gì thì nó có vẻ như là điên khùng, cho nên nghĩa là cần thiết đối với những điều được viết ra. Vẫn còn một số phần của vedic lore không có nghĩa có thể được giải mã - và có những phần thực sự, bởi vì chúng là hoàn toàn thuộc về ngữ âm. Chúng không truyền đạt bất kì nghĩa nào.
Ví dụ, câu hỏi về nghĩa của câu thần cú 'Aum mani padme hum' không nảy sinh bởi vì ý nghĩa của nó là hoàn toàn ngữ âm. Tương tự như vậy, không có vấn đề về bất kì nghĩa nào trong câu thần chú 'Aum', nhưng nó có sự tác động âm thanh-cơ bản, điều đó tạo ra hiệu ứng đặc biệt của âm thanh. Khi thiền nhân lặp lại 'Aum mani padme hum' nhiều lần, âm thanh tác động đến các chakras (luân xa) khác nhau và làm cho chúng hoạt động. Vấn đề không phải là nghĩa mà là ý nghĩa liên quan đến chính âm thanh. Cho nên thực tế là những kinh cổ không nhấn mạnh đến bất kì điều gì mà chỉ nhấn mạnh đến công dụng của chúng - đó là mục đích mà chúng có thể được sử dụng, và lợi ích có thể bắt nguồn từ chúng - điều đó đáng để chúng ta lưu ý đến.
Có một lần Đức Phật được hỏi, "Sự thật là gì?", Người trả lời, "Sự thật là điều có thể được sử dụng." Định nghĩa về sự thật là điều có thể được sử dụng. Khoa học cũng định nghĩa tương tự như vậy. Định nghĩa của nó sẽ là thực dụng: Sự thật có thể được tạo ra để sử  dụng trong cuộc sống và có thể được chứng tỏ.
Nếu nói rằng khi hydrogen và oxygen trộn với nhau thì nước được tạo ra, chúng ta không quan tâm cho dù tuyên bố đó là thật hay không; nếu chúng ta có thể nhìn thấy, nước được tạo ra bởi sự hòa lẫn giữa hydrogen và oxygen, vậy thì đó là sự thật, ngược lại là sai. Chính tuyên bố không có giá trị gì, giá trị là công dụng của nó. Nếu có thể tạo ra nước theo cách như vậy, thế thì điều đó phải được chứng minh bởi thực tế. Ngày nay khoa học đã chấp nhận định nghĩa này về sự thật, điều mà tôn giáo đã chấp nhận ăm nghìn năm trước. Trong tôn giáo, công dụng của thử nghiệm là để xác minh sự thật.
Câu thần chú 'Aum' không có nghĩa nhưng nó lại có tác dụng; ngôi đền không có ý nghĩa nhưng nó có công dụng. Việc tạo ra công dụng của nó là nghệ thuật, có dòng chảy vốn có trong tất cả các nghệ thuật mà chúng không thể được dạy, không thể được thuyết giảng nhưng phải là sự miệt mài cuốn hút.
Tôi đã đọc rằng, một nghìn năm trăm năm trước đây, có vị Hoàng đế ở Trung Hoa rất thích thịt - rất thích đến mức ông ta có thể giết ngay con bò hay con trâu trước mắt ông ta. Mỗi buổi sáng, người đồ tể đã giết mổ súc vật ngay trước mặt vị hoàng đế trong suốt mười lăm năm. Vào một ngày, hoàng đế hỏi, "Ta chưa lần nào nhìn thấy ông mài cái rìu trong suốt mười lăm năm. Lưỡi của nó không cùn đi sao?"
Người đồ tể nói, "Không, tâu hoàng đế, không phải như vậy. Cái lưỡi của nó trở nên cùn chỉ khi đồ tể không phải là chuyên gia, không biết vị trí để đâm vào. Người đồ tể phải biết đâu là xương, đâu là khớp nối, và cái rìu cắt con vật làm hai chỉ với một nhát chặt. Nghệ thuật này được truyền từ thế hệ này tới thế hệ khác. Cho nên lưỡi không bị cùn đi mà nó còn trở nên sắc hơn hàng ngày."
Vị hoàng đế đã đề nghị người đồ tể dạy ông ta nghệ thuật.
Người đồ tể trả lời, "Điều đó hẳn sẽ là rất khó. Tôi đã không học nghệ thuật này nhưng đã tiêm nhiễm nó từ việc quan sát cha tôi từ khi tôi còn nhỏ. Tôi đã không được dạy điều đó, tôi hấp thụ nghệ thuật bằng việc quan sát cha tôi hàng ngày. Đội khi tôi đưa cây rìu cho ông, đôi khi tôi xếp các chi của con vật thành đống. Đó là cách tôi học được nghệ thuật. Nếu hoàng thượng sẵn sàng thực hiện điều tương tự - xin hãy đứng bên cạnh tôi, thỉnh thoảng cầm cây rìu cho tôi và sau đó để nó lại chỗ cũ, thỉnh thoảng chỉ ngồi và quan sát - vậy thì có thể hoàng thượng sẽ học được nghệ thuật. Nhưng tôi không thể dạy nó cho ngài."
Khoa học có thể được dạy nhưng nghệ thuật phải được hấp thụ.
Tất cả các câu thần chú đó đều không có nghĩa nhưng chúng có giá trị thực tế, và chúng ta đã làm cho trẻ con bị thu hút từ lúc còn rất nhỏ. Họ đã học được công dụng của ngôi đền nhưng thậm chí họ chưa bao giờ nhận biết mình đã học được điều gì. Họ hẳn là muốn học nghệ thuật của việc đi vào đến, làm cách nào để ngồi đó, làm cách nào để sử dụng những giới hạn linh thiêng. Bất kì khi nào có sự khẩn cấp hoặc khó khăn, họ vội vả đến ngôi đền, sau đó quay về nhà trong trạng thái sự cân bằng và bình ổn. Mỗi buổi sáng họ đến đền bởi vì những gì họ có được ở đó thì không thể tìm thấy ở bất kì nơi nào khác. Nhưng tất cả những điều đó không được dạy cho họ, họ đã hợp thành điều đó từ giai đoạn rất sớm khi còn là trẻ con. Điều đó không được dạy cho họ nhưng được hấp thụ. Bất kì ở đâu có nghệ thuật thì nghệ thuật đó không thể được dạy.
Những hiệu quả âm thanh trong ngôi đền và của chính ngôi đền đã là sự sắp đặt để thử nghiệm. Chừng nào mà hiệu quả âm thanh của lời nói chưa được hiểu thì toàn bộ thử nghiệm là vô nghĩa.
Ví dụ có truyền thống cho rằng câu thần chú chỉ nên cho môn đệ bởi bậc thầy. Sự nhấn mạnh câu thần chú được thuật lại bởi bậc thầy vào tai của môn đệ. Có thể bạn biết câu thần chú từ rất lâu nhưng bậc thầy vẫn muốn thì thầm vào tai bạn.
Có thể bạn th8ác mắc, "Có gì mới trong đó? Mình không thể thực hiện điều đó mà không có bậc thầy sao? Mọi người đều biết cách lặp lại câu thần chú nhưng bậc thầy vẫn thì thầm vào tai mình cứ như đó là điều bí mật vĩ đại vậy!" Nhưng điều cần được hiểu là khi bậc thầy nói vào tai môn đệ, ông ta làm điếu đó theo cách đặc biệt sao cho đó như là sự nhấn mạnh những âm thanh đặc biệt - một cái gì đó không ai biết đến. Thực tế là có nhiều ngữ âm khác nhau của 'Ram' có những hiệu ứng khác nhau.
Chúng ta biết câu chuyện về hiền nhân Valmiki nhưng ngày nay câu chuyện này đã bị thất lạc ý nghĩa thực của nó và có vẻ  rất trẻ con. Câu chuyện kể rằng, Valmiki là người thất học và quê mùa.Bậc thầy của ông ta nói ông ta lặp lại câu thần chú 'Rama, Rama' nhưng một lúc sau ông ta quên và bắt đầu tụng nó ngược lại 'Mara, Mara' - và trở nên chứng ngộ.
Khi những chìa khóa thực sự để lần ra manh mối của những điều huyền bí bị thất lạc thì mọi rắc rối nảy sinh. Thực tế là trong khi tụng câu thần chú 'Rama, Rama', sau một chu kì bạn bắt đầu tụng 'Mara, Mara', cho nên điều đó tạo ra cường độ. Khi 'Ram, rama' được tụng nhanh hơn thì câu tụng biến thành 'Mar, Mara'; vậy thì có sự nhấn mạnh ngữ âm đúng. Vậy thì một cái gì đó duy nhất xuất hiện: bạn ngừng, bạn không là bạn nữa, và trong thời điểm quan trọng đó, khi bạn ngừng là bạn, hoặc bạn chết đối với sự nhận dạng của mình, lúc đó câu thần chú trở nên hoàn thiện. Đó là thời điểm của kinh nghiệm thực sự - khi bạn ngừng, bản ngã của bạn đã chết.
Thật thú vị khi lưu ý rằng, nếu quá trình này được hoàn thành một cách phù hợp - bạn sẽ bắt đầu với sự lặp lại câu 'Rama, rama', thời điểm sẽ nhanh chóng xuất hiện khi bạn bắt đầu lặp lại 'Mara, mara', và thậm chí nều bạn muốn nói 'Rama, Rama', bạn sẽ không có khả năng; toàn bộ bản thể bạn sẽ lặp lại 'Mara, Mara'... ở thời điểm đó, chính bạn sẽ chết - và đó chính là bước đầu tiên của thiền. Khi chính bạn đang hoàn toàn hấp hối, bỗng nhiên bạn sẽ nhận ra rằng 'Mara, Mara' bắt đầu quay trở lại như cũ là 'Rama, Rama'. Khi 'Ram, Rama' đó bắt đầu từ bên trong, thực tế bên ngoài bạn sẽ trải nghiệm rama - nhưng không phải trước đó. Ở khoảng giữa, sự biến đổi thành 'mara' là cần thiết.
Cho nên có ba phần với câu thần chú. Bắt đầu với 'Rama', mất sự nhận dạng của bạn với 'Mara', sau đó câu thần chú sẽ biến thành 'Rama'. Bước thứ hai 'Mara' là phần cần thiết của quá trình; trừ khi điều đó xuất hiện ở giữa chừng, kinh nghiệm rama thực sự cuối cùng ở bước thứ ba sẽ không xuất hiện. Nếu bạn biết ngữ âm thực và nếu bạn tụng nó phù hợp - nếu bạn nhấn mạnh 'ra' và ít nhấn mạnh 'm', chỉ khi đó 'Rama' sẽ thay đổi thành 'Mara'. Khi 'm' ít nhấn mạnh, nó giống như thung lũng và 'r' trở thành ngọn, thành đỉnh cao nhất. Trong việc bạn lặp lại 'm' của 'rama' với ít sự nhấn mạnh thì sự biến đổi xuất hiện, và bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng 'm' trở thành đỉnh và 'r' trở thành thung lũng. Sau đó bạn lặp lại 'Mara, Mara' mà không biết về nó.
Giống như sóng trên đại dương, sau mỗi ngọn sóng là hõm sâu. Giống như sóng biển, âm thanh cũng có sóng giống như cao độ và trường độ trong âm nhạc. Trừ khi bạn nhận ra sự phát âm phù hợp, bạn không thể lặp lại câu thần chú và sẽ không có kết quả gì.
Ai đó viết câu chuyện về Valmiki lặp lại câu thần chú 'Mara, Mara' vì ông ta là người thất học, quê mùa, điều đó rất xa sự thật. Valmiki là người thất học và quê mùa nhưng trong trường hợp đặc biệt này, ông ta quá thông minh. Ông ta biết toàn bộ khoa học làm cách nào để tụng 'Rama', để biến đổi âm thanh thành 'mara'. Chỉ sau sự biến đổi giữa chừng đó mà Rama sẽ được sinh ra. 'Rama' đó không phải là câu được nói bởi bạn, bởi vì trong bước thứ hai của 'Mara', bạn ngừng là mình. Ai sẽ lặp lại điều đó? 'Rama' thực sự sinh ra trong bạn ở thời điểm cuối của bước thứ hai, nó sẽ không được nói bởi bạn mà sẽ chỉ là hiện tượng mặc dù bạn có đó. Nó sẽ xuất hiện tự động, nó sẽ không là sự lặp lại của bạn.
Giá trị của shrutis - nghĩa của kinh được nghe hoặc lắng nghe - là sự nhấn mạnh ngữ âm. Chỉ có người biết khoa học của ngữ âm mới có thể truyền đạt kiến thức của shrutis; chỉ khi đó nó mới là hữu dụng. Nếu không, lời nói sẽ là tương tự như khi viết trong sách - bất kì ai cũng có thể đọc chúng - nhưng khoa học vẫn giữ nguyên chưa biết. Khoa học đó của âm thanh - sự lên xuống trầm bổng của nó và độ dài của quãng lặng - tạo thành toàn bộ sự huyền bí.
Đã từng có kinh hoàn thiện của những câu thần chú, và những ngôi đền được sử dụng như các phòng thí nghiệm để thử nghiệm chúng. Đây là giá trị vĩ đại đối với người tìm kiếm. Con số những người trải nghiệm nhận biết về Thượng đế bên trong khu vực của các ngôi đền luôn nhiều hơn những người trải nghiệm bên ngoài ngôi đền. Điều này đã xảy ra, mặc dù thực tế rằng lòng mộ đạo hiện diện bên ngoài những ngôi đền nhiều hơn bên trong.
Con người như Mahavira, người đã trải nghiệm bên ngoài những ngôi đền, đã tìm ra những phương pháp khác nhau, đòi hỏi nhiều nghị lực hơn những người bên trong ngôi đền. Mahavira đã phải mất nhiều năm kiểm soát các tư thế để có thể tạo ra dòng năng lượng bên trong. Ông ấy không muốn sự trợ giúp của ngôi đền, nhưng sự thay đổi là một quá trình dài gồm những bài thực hành khó trong nhiều năm, và chỉ có thể được hoàn thành bởi con người có ý chí sắt đá như Mahavira.
Đức Phật cũng đạt được sự chứng ngộ mà không cần sự trợ giúp của ngôi đền. Nhưng ngay sau cái chết của cả Mahavira và Đức Phật thì những ngôi đền đã được xây dựng bởi vì những ngôi đền có thể mang đến cho con người bình thường thì không cần thiết là những gì Mahavira hoặc Đức Phật đã tạo ra. Những gì mà Đức Phật và Mahavira chủ trương không phải luôn là điều để con người bình thường có thể đạt được.
Ngày nay, nếu chúng ta hiểu biết rõ về khoa học cường độ âm thanh, chúng ta có thể phát minh ra những dụng cụ tốt hơn ngôi đền. Hiện nay một vài nghiên cứu đã được tiến hành theo hướng này. Phát minh ra dụng cụ tốt hơn là điều có thể bởi vì hiện nay chúng ta biết nhiều về đi65n. Nhưng những sự thử nghiệm đó cũng rất nguy hiểm. Cho đến khi những thu xếp khoa học phù hợp được thiết lập, bất kì sự trợ giúp nào của ngôi đền đã được đưa ra cũng sẽ xuất phát từ khoa học, bởi vì hiện nay, vòng tròn năng lượng được tạo ra trong ngôi đền thì cũng sẽ được tạo ra bởi một vài phương pháp khác. Hiện nay, bạn có thể mang một dụng cụ nhỏ trong túi của mình, dụng cụ đó có thể kích hoạt dòng điện bên trong bạn. Nhờ dụng cụ điện đó mà bạn có thể lưu những âm thanh được ghi, những âm thanh này có thể tạo ra cường độ bên trong bạn. Một vài nghiên cứu về vấn đề này hiện đang trong quá trình tiến hành ở nước Mỹ.
Hiện nay, bảy hoặc tám nhà khoa học ở Mỹ đang thu hút đến đề tài hấp dẫn được nhắc đến này, mọi sự trải nghiệm của chúng ta về niềm vui và nỗi đau khổ không là gì mà là những dòng điện chạy qua những trung tâm của cơ thể.
Chẳng hạn, nếu khắp cơ thể bạn bị châm bởi những cái kim, ở một vài điểm, bạn không cảm thấy đau. Có một vài điểm chết trên cơ thể mà bạn sẽ không cảm nhận bất kì điều gì. Nếu một người nào đó châm vào lưng bạn nhiều vị trí thì ba hay bốn chỗ này sẽ không có cảm giác. Tương tự như vậy, sẽ có năm hoặc mười chỗ rất nhay cảm, thậm chí châm nhẹ cũng làm cho đau đớn.
Đầu của chúng ta có nhiều điểm rất nhạy cảm. Có hàng triệu tế bào trong não, mỗi trong chúng có sự nhạy cảm riêng biệt nào đó. Bạn cảm thấy vui vẻ khi nói, dòng điện chạy qua một tế bào cụ thể nào đó và cho bạn cảm giác vui vẻ. Giả sử bạn đang ngồi cạnh người yêu, cầm tay cô ấy và bạn nói bạn cảm thấy hạnh phúc. Điều gì sẽ xảy ra? Nếu nhà khoa học mô tả hiện tượng này, dòng điện chạy qua trung tâm cụ thể trong não bạn, về mặt tinh thần, đó chỉ là sự liên tưởng quá khứ của bạn với người làm cho bạn qua 1hạnh hạnh phúc bởi sự hiện diện của cô ta. Nhưng có thể bạn sẽ không cảm thấy niềm hạnh phúc đó nữa sau hai hay ba tháng, bởi vì nếu bạn thường xuyên sử dụng một trung tâm cụ thể thì dòng điện qua nó thường xuyên, và tế bào đó trở nên vô cảm.
Ví dụ, nếu bạn châm cái gai liên tục vào điểm cụ thể ở chân mình thì sự đau đớn sẽ trở nên ít đi. Ngày mai sự đau đớn sẽ ít hơn ngày hôm nay, và ngày sau đó nữa lại càng ít hơn. Nếu bạn liên tục thực hiện điều đó thì điểm đó sẽ phát triển thành nút không cảm giác và không còn cảm thấy đau đớn nữa. Người chơi đàn sita làm cho bề mặt da ở ngón tay trở nên vô cảm. Vậy thì việc gãy dây đàn không tạo ra sự khác biệt nào; ngón tay của họ không còn cảm giác đau.
Cho nên nếu bạn cảm thấy rằng tình yêu của bạn đã chết sau ba hay bốn tháng, hoặc trở nên ít hơn thì điều đó cũng không có nghĩa rằng tình yêu của bạn bị tan vỡ, điều đó chỉ có nghĩa rằng điểm bên trong bạn, nơi mà cảm giác hạnh phúc xuất hiện, đã trở thành vô cảm bởi vì bị sử dụng quá nhiều. Nếu cô ấy đi xa ba hoặc bốn tháng, khi cô ấy quay trở về, cô ấy lại làm cho bạn cảm thấy hạnh phúc.
Những thử nghiệm của các nhà khoa học trên con chuột là biểu lộ rất ý nghĩa. Họ mổ óc con chuột, và một dạng cửa sổ được giữ cho mở để quan sát những gì xuất hiện khi chuột đang quan hệ dục. Điểm đặc biệt mà dòng điện chạy qua khi chuột xuất tinh đã được đánh dấu. Sau đó, điểm đó được nối với điện cực và 'cửa sổ' được đóng lại. Điểm cuối khác của điện cực được nối với thiết bị, thiết bị này có thể tạo ra lượng điện được kiểm soát. Có một công tắc, khi nhấn vào công tắc này thì dòng điện được tạo ra - dòng điện có cường độ tương tự xuất hiện tại thời điểm xuất tinh của chuột.
Con chuột được huấn luyện để sử dụng công tắc, bất kì khi nào nó nhấn công tắc thì lượng điện yêu cầu cũng được cung cấp bởi thiết bị đó, dòng điện đó kích hoạt điểm của não được nối với điểm cuối khác của dây, lúc đó nó cũng tạo ra cho con chuột cảm giác khoái lạc như khi quan hệ dục. Con chuột cảm thấy rất thích thú khi nhấn công tắc; nó qua 1htích thú đến mức lại nhấn công tắc lần nữa. Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng con chuột không làm bất kì điều gì khác sau hai mươi bốn giờ. Nó chỉ liên tục nhấn vào nút - sáu nghìn lần trong một giờ. Nó không bận tâm đến việc ăn, uống hoặc ngủ, mà chỉ liên tục nhấn công tắc cho đến khi kiệt sức hoàn toàn!
Nhà khoa học, người thực nghiệm thử nghiệm đã nói rằng con chuột quá thích thú khoái cảm tình dục - nhiều hơn khi nó thực hiện quan hệ dục, mặc dù thực tế đó không phải là hoạt động dục mà chỉ là sự trải nghiệm khoái cảm dục do dòng điện được tạo ra ở bộ não của nó. Nhà khoa học khuyến cáo rằng cảm giác tương tự sẽ nhanh chóng bị mất đi hấp dẫn đối với con chuột và trở nên rất bình thường.
Thời kì mà chúng ta có khả năng nối bộ óc con người với điện cực để nhận dòng điện ở điểm cụ thể, thực tế lúc đó, chúng ta sẽ không có khả năng tìm ra bất kì người nào muốn tham gia vào dục - bởi vì người đó không đạt được gì và mất đi rất nhiều năng lương. Có thể anh ta có một thiết bị vận hành có nguồn nhỏ trong túi mình, bất kì khi nào anh ta muốn, anh ta có thể kích hoạt trung tâm dục và trải nghiệm niềm khoái cảm tương tự như khi quan hệ dục. Nhưng điều này có sự nguy hiểm của chính nó.
Một lúc nào đó có thể cấy nhiều trung tâm vào não về sự nghi ngờ, sự tức giận, hoặc vân vân, những trung tâm này có thể được giải phẫu đế lấy đi. Trung tâm nối với sự nổi loạn có thể bị ngắt ra và con người sẽ trở nên ngoan ngoãn, dễ sai khiến. Chính quyền có thể lạm dụng những thành tựu khoa học đó.
Các nhà khoa học không biết điều đó, nhưng có thể với sự trợ giúp của các thiết bị khoa học, chúng ta có thể tạo ra môi trường như vậy tồn tại trong ngôi đền. Những sự trải nghiệm có thể mất hàng giờ, hàng tháng, hàng năm nhằm đạt được hiệu quả của âm thanh trong ngôi đền thì lại có thể dễ dàng tạo ra nhiều hơn với các thiết bị khoa học. Cho nên tôi nói rằng ngôi đền dựa trên nền tảng rất khoa học, và bằng việc sử dụng phương tiện trung gian của âm thanh thì cảm giác hạnh phúc, bình yên, yêu thương và phúc lạc nảy sinh. Và trong sự hiện diện của những cảm giác ấy, toàn bộ thái độ của bạn với cuộc sống đã được chuyển hóa.
Về mặt khác, những gì các nhà khoa học thực hiện có thể rất nguy hiểm. Sự nguy hiểm là ở chỗ, bất kì điều gì khoa học thực hiện thì lại trở thanh công nghệ và tâm thức không đóng vai trò gì trong đó. Có thể là, với việc sử dụng các thiết bị điện, sẽ xuất hiện trạng thái giống như điều có được trong ngôi đền nhưng sự chuyển hóa trong tâm thức sẽ là không thể. Đỉnh cao của tâm thức và sự chuyển hóa không thể xuất hiện theo kiểu như vậy; những gì con người có thể nhận được bằng việc nhấn công tắc sẽ không mang lại bất kì sự biến đổi nền tảng nào.
Cho nên, tôi không nhìn thấy bất kì khả năng nào mà các thiết bị có thể thỏa mãn sự mong đợi như đối với những ngôi đền.
Bạn có thể thắc mắc, nếu như ngày nay những ngôi đền có thể được sử dụng trong những thời điểm thay đổi này. Đúng, điều đó là có thể, nhưng tu sĩ truyền thống chính thống trong ngôi đền ngày nay sẽ không có khả năng giải thích những gì xảy ra, và làm cách nào xảy ra trong ngôi đền ở thời cổđại. Ông ta vẫn có chìa, nhưng lại không có bất kì ý tưởng nào về những bí mật ẩn chứa bên trong nó. Ngày nay, toàn bộ triết lí và khoa học của ngôi đền có thể vẫn còn tác dụng. Hiện nay ch1ng ta có thể tạo ra những ngôi đền tốt hơn. Chúng ta có thể thiết lập toàn bộ hệ thống âm thanh theo cách mà âm thanh có thể được khuếch đại lên hàng nghìn lần. Những bức tường có thể được tạo ra rất nhạy cảm đến mức, nếu khi bạn tụng 'Aum' thì bức tường sẽ dội âm hàng nghìn lần.
Ngày nay chúng ta có những thiết bị tốt hơn nhưng chúng ta nên biết chìa để có thể mở khóa bí mật của bản thể chúng ta.
Trong quá khứ, có ít nhất một ô cửa trong ngôi đền, nhưng ngày nay, chúng ta có thể xây dựng ngôi đền mà không có bất kì ô cửa nào. Nói chung, trong quá khứ những người xây dựng những ngôi đền đã sống trong những ngôi nhà như túp lều được làm bằng phân bò và đất sét. Họ đã làm tốt nhất trong khả năng giới hạn của họ, và những gì họ đã làm là rất vĩ đại. Ngày nay chúng ta có kĩ năng công nghệ tuyệt vời nhưng chúng ta không có khả năng tận dụng điều đó.
Cho đến bây giờ, chúng ta đã tranh luận về lợi ích của những ngôi đền, về những người đã vào trong những ngôi đền đó. Nhưng bên ngoài những ngôi đền cũng có những ý nghĩa và công dụng của nó. Cho đến ngày nay chúng ta đã tranh luận, làm cách nào người mộ đạo vào trong ngôi đền lại đi sâu hơn vào thiền và cầu nguyện. Nhưng thậm chí những người chỉ đi ngang qua ngôi đền cũng được hưởng lợi, mặc dù ngày nay điều đó không xuất hiện; ngày nay thậm chí những người vào ngôi đền và khi đi ra cũng không thu nhận được gì. Nhưng vào những ngày đó, ngôi đền có thể giúp ích cho những người ở gần nó bởi vì những người đã ở trong ngôi đền đã thực sự thực hiện một cái gì đó. Hàng trăm người mộ đạo trong ngôi đền đã kích hoạt sự rung động âm thanh đặc biệt, vì vậy mà toàn bộ không khí bên trong ngôi đền trở nên được nạp. Ngôi đền không chỉ rung động bên trong, nó cũng rung động bên ngoài và những đợt sóng tinh tế cũng lan tỏa bên ngoài. Toàn bộ môi trường cũng trở nên sống động bởi chính ngôi đền rất sống động.
Ý nghĩa của ngôi đền sống động chính là sự rung động mạnh mẽ này. Tượng thần sống động cũng biểu thị cùng điều đó; thậm chí chúng cũng ảnh hưởng đến những người tới đó mà không vì bất cứ lợi ích đặc biệt nào. Ngôi đền chỉ có thể được gọi là sống động nếu một người nào đó tình cờ đi ngang qua nó, và bỗng nhiên họ cảm thấy không khí và môi trường đã biến đổi, thậm chí có thể người đó không biết có ngôi đền ở vùng lân cận đó.
Giả sữ bạn đi bộ trên đường vào một đêm tối trời, khi bạn đi ngang qua ngôi đền, bạn cảm nhận một vài sự thay đổi bất ngờ bên trong bạn... Bạn nghĩ rằng bạn đã làm một cái gì đó sai, và bỗng nhiên suy nghĩ của bạn thay đổi. Bạn đang nghĩ về việc giết một người nào đó, và bỗng nhiên bạn cảm thấy tràn ngập lòng thương cảm. Nhưng điều này có thể xuất hiện nếu ngôi đền được nạp. Mọi viên gạcg và viên đá của ngôi đền đó, những ô cửa và cổng sẽ trở nên rung động; vậy thì toàn bộ ngôi đền sẽ trở nên rung động cùng âm thanh.
Phương pháp duy nhất để nạp cái chuông treo trước đền: bất kì ai đi vào cũng gõ vào chuông. Người đó thực hiện với toàn bộ sự tỉnh táo mà không phải là tâm trí mơ ngủ. Khi bạn gõ vào chuông của ngôi đền - không phải là sự thờ ơ mà với toàn bộ sự nhận biết - điều đó sẽ tạo ra sự đứt đạon trong ý nghĩ của bạn, một dạng đứt đoạn trong dây chuyền ý nghĩ của bạn, và bạn sẽ trở nên nhận biết sự thay đổi môi trường xung quanh. Có sự tương đồng giữa âm thanh của chuông và âm thanh của 'Aum'; thực tế có một vài sự liên hệ bên trong. Âm thanh của chuông liên tục nạp vào ngôi đền trong suốt cả ngày, và âm thanh của 'Aum' cũng nạp vào ngôi đền với sự rung động của chính nó.
Nhiều thứ khác tương tự như vậy đã tạo ra công dụng trong ngôi đền, chúng có sự liên hệ bên trong. Có thể là, những cây đèn đất cháy bằng bơ sữa tr6au, hương trầm cháy, hoặc tác dụng của hương bột gỗ trầm hương, hoặc những bông hoa, hoặc bất kì hươg thơm nào khác - tất cả đều liên hệ. Đó không phải là vấn đề của vị thần đặc biệt liên quan tới bông hoa cụ thể, đó là vấn đề về sự hòa hợp của ngôi đền. Dạng âm thanh và mùi thơm hòa hợp với ngôi đền được lựa chọn thông qua những trải nghiệm. Chỉ có hoa cụ thể với hương thơm cụ thể pha trộn trong sự hòa hợp với âm thanh nào đó là có tác dụng; những thứ hoa khác với những hương thơm khác đã bị cấm.
Trong nhà thờ Hồi giáo, cánh kiến trắng có tẩm dầu creosote có thể được sử dụng như hương trầm. Tất cả điều đó có sự liên hệ với âm thanh. Với âm thanh 'Allah', có sự hòa hợp bên trong với hương thơm của lobhan. Mối liên hệ và sự liên quan đã được khám phá thông qua sự tìm kiếm điều tối thượng bên trong; cúng không thể được tìm ra bởi bất kì quá trình suy tưởng nào. Tôi sẽ nói với bạn làm cách nào mà điều này được thực hiện.
Bạn có thể ngồi trong phòng không có lobhan được đốt cháy và liên tục lặp ại 'Allah' - không chỉ 'Allah' mà là 'Allahooh' với sự nhấn mạnh đặc biệt ở 'hoo'. dần dần bạn sẽ nhận ra rằng âm thanh 'Allah' biến mất và chỉ còn lại 'hoo' sẽ tiếp tục được lặp lại. Khi điều này xuất hiện, bỗng nhiên bạn sẽ nhận ra toàn bộ căn phòng của bạn thơm ngát ùi hương của lobhan. Lobhan được khám phá ra cũng tương tự với chất phát ra từ bạn. Cho nên lobhan cháy trong ngôi đền Hồi giáo được coi là dùng để hỗ trợ người tụng 'hoo'. Vậy thì quá trình sẽ tăng gấp đôi: sự lan tỏa của hương thơm bên trong con người có thể sẽ mất một khoảng thời gian nào đó nhưng hương thơm tương tự trong ngôi đền vào lúc ban đầu có thể được cung cấp ra bên ngoài. Nhưng sự lặp lại 'Aum' có thể không bao giờ mang đến hương htơm của lobhan. Âm thanh này tấn công trung tâm khác mà nó không thể nào tạo ra mùi này.
Có những vùng riêng biệt về hương thơm bên trong cơ thể bạn, và có những sự liên hệ với ý nghĩ và cảm giác của chúng ta.
Chính vì vậy mà người theo đạo Jain tin rằng cơ thể của Mahavira chưa bao giờ tỏa ra bất kì mùi hương tồi tệ nào. Cơ thể của ông ấy có mùi hương đặc biệt, dựa trên điều đó mới có khả năng nhận ra tirhankara. Trong thời đại của Mahavira, tám người khác đã tuyên bố là tirhankara; nhưng mùi hương đặc biệt này không xuất phát từ họ. Không ai trong họ kém am hiểu hơn Mahvira, họ có cùng tầm cỡ về tâm linh, nhưng họ không phải là những người thực hành hệ thống kỉ luật tâm linh, điều tạo ra hương thơm này, cho nên tuyên bố của họ đã bị từ chối.
Đức Phật cũng không thấp kém hơn Mahavira. Người cũng có cùng phẩm chất và trạng thái thức tỉnh như Mahvira, nhưng bởi vì người không theo phương pháp như Mahavira nên cơ thể gười không thể tỏa ra mùi hương tương tự. Hương thơm đó cũng tỏa ra từ Parshwanath, một tirhankara đã chết rất lâu trước thời kì của Mahavira. Thời đại của ông ta vẫn còn sống động và họ đã quả quyết rằng hương thơm của Mahavira cũng tương tự như của Parshwanath. Kết quả tối thượng của quá trình thần chú cụ thể là điều đặc biệt. Kết quả cuối cùng của việc thực hiện thần chú cụ thể là hương thơm đặc biệt đó.
Đây là sự sắp xếp dựa trên hồi ức để xác định tính thực chất của tirhankara. Cho nên mặc dù Mahavira chưa bao giờ tuyên bố mình là tirhankara, ông ấy dễ dàng được tuyên bố là như vậy. Về mặt khác, Makhkhali cũng đã tuyên bố nhưng lại không thể chứng minh. Bạn có thể thắc mắc tại sao hương thơm lại được sử dụng như là tiêu chuẩn đánh giá. Thử nghiệm phải là sâu sắc và không thể sai lầm - lời nói không thể được lặp lại. Toàn bộ cá thể con người đó sẽ phát ra hương thơm đặc biệt mà nó chỉ ra rằng có một sự nở hoa chắc chắn đã xuất hiện bên trong người đó, rằng cực điểm của việc thực hiện thần chú mà nó sinh ra tirhankra đã xuất hiện.
Makhkhali Goshal, Ajitkesh Kambal và Sanjay Vilethiputra là những người thỉnh cầu, rất hiểu biết, họ có sự bình đẳng về phẩm chất với Mahavira - mỗi người trong số họ có hàng nghìn người theo, họ đã tuyên bố rằng bậc thầy của họ là tirthankara - nhưng tất cả họ đã biến vào quên lãng. Về mặt khác, Mahavira tuyệt đối im lặng ở điểm này và không bao giờ đưa ra bất kì tuyên bố nào. Cuối cùng tì cũng được quyết định rằng chỉ cơ thể của người phát ra hương thơm đặc biệt mới có thể là tirthankara.
Mọi câu thần chú tạo ra hương thơm của chính nó. Những người đã thực hiện việc tụng 'Aum' đã biết hương thơm nào đó. Tương tự vậy, mọi câu thần chú tạo ra dạng đặc biệt của ánh sáng bên trong. Nhiều ánh sáng sẽ được tạo ra trong ngôi đền được lựa chọn dựa trên ánh sáng bên trong đó - không nhiều hơn hoặc không ít hơn. Thật ngạc nhiên, những người ngồi dưới ánh sáng điện chói lòa trong ngôi đền chỉ đơn giản là sự ngu ngốc. Chúng không bao giờ được cần đến, bởi vì ánh sáng nhiều như vậy chỉ cần đến dưới bầu trời rộng mở - ánh sáng rất dịu và vô hại. Cho nên ngọn đèn bơ sữa trâu được sử dụng bởi vì nó không bao giờ làm khó chịu và không làm chói mắt.
Có thể không dễ dàng để hiểu sự khác nhau giữa ánh sáng dầu lửa và ánh sáng bằng mỡ trâu bởi vì chúng ta chưa bao giờ thử nghiệm thiền bằng ánh sáng. Tập trung vào ngọn lửa của ngọn đèn dầu trong vòng một giờ; mắt bạn sẽ bắt đầu cháy và trở nên mệt mỏi, đau nhức. Ngọn đèn khác cháy bằng mỡ trâu và tập trung vào ngọn lửa của nó trong một giờ: mắt bạn sẽ cảm thấy dịu hơn và tỉnh hơn. Tất cả những kinh nghiệm bên trong của hàng nghìn người đã tiết lộ điều này, và hào quang đã được phát hiện ra đã trở thành sự trợ giúp bên ngoài. Tất nhiên, không thể cung cấp ngọn đèn chính xác như ánh sáng bên trong cho nên chỉ có điều gần đ1ung là được tìm ra. Hương thơm chính xác được tạo ra bê trong bạn sau khi tụng thần chú đặc biệt không thể tìm thấy ở bên ngoài cho nên chúng ta phải bằng lòng với sự gần đúng nhất.
Bột gỗ trầm hương trở thànhphổ biến trong tất cả ngôi đền. Vị trí trên trán, nơi bột gỗ trầm hương được phết vào gọi là agyna chakra trog Yoga. Việc thự hành những câu thần chú cụ thể tạo ra trải nghiệm bên trong về mùi thơm trầm hương, nhưng nguồn của hương thơm đó lại là chakra agya. Bất kì khi nào sự trải nghiệm của con mắt thứ ba mạnh mẽ hơn thì mùi trầm hương tỏa ra, cho nên mùi trầm hương đã trở thành biểu tượng của kinh nghiệm đó, do vậy mà chúng ta phết bột trầm hương ở trán. Khi chakra agya tỏa ra mùi hương này thì sẽ cảm nhận được sự mát dịu, cứ như bạn đặt miếng đá lạnh lên con mắt thứ ba. Có sự khác nhau giữa những thứ mát lạnh và những thứ êm dịu - tương tự như giữa đèn dầu hỏa và đèn mỡ trâu.
Đá đóng băng là lạnh nhưng nó không dễ chịu hoặc êm dịu. Cảm giác mát mẻ của đá đóng băng chỉ kéo dài trong chốc lát và theo sau là cảm giác nóng. Cảm giác cuối cùng buộc phải là nóng; cảm thấy nóng hơn một chút trước đó. Nhưng bột trầm hương dễ chịu và không lạnh; nó êm dịu. Êm dịu là một dạng của chiều sâu. Nếu đặt đá lạnh lên chakra agya thì nó chỉ làm cho bề mặt lạnh. Nếu bột tr6àm dược phết lên chakra agya, bạn sẽ thấy sự êm dịu đang thấm qua những lớp sâu bên trong da một cáhc hiệu quả. Sự êm dịu phải thấm tới vị trí con mắt thứ ba.
Những người đã trải nghiệm hoạt động của chakra agya, cảm nhận ảnh hưởng êm dịu của nó đã tìm kiếm sự tương tự, và họ đã tìm ra nó trong bột trầm hương. Nó có mùi hương tương tự khi nó phát ra từ bên trong.
Tất cả những sự trợ giúp bên ngoài đó chỉ là tương đương. Và khi ngôi đền được trang bị bời chúng thì nó sẽ trở nên được nạp. Cho nên có quy định rằng không ai có thể vào đền mà không phải tắm rửa. Tắm bằng nước lạnh để phá bỏ những suy tính và ý nghĩ liên quan. Không ai được phép và đền mà không rung chuông. Không ai được phép vào đền với quần áo cũ và bẩn; thực tế, phải mặc trang phục bằng lụa khi viếng thăm đền, bởi vì vải lụa giúp tạo ra điện cơ thể và bảo vệ nó, cho nên vải lụa luôn duy trì sự tươi mát, do vậy mà bạn mặc nó nhiều hơn.
Tất cả những sự phòng ngừa và sắp xếp đã làm cho ngôi đền được nạp, cho nên bất kì ai chỉ đi ngang qua cũng bị ảnh hưởng bởi từ trường của ngôi đền.
Người ta đã nói về Mahavira rằng, trong phạm vi nào đó xung quanh ông ấy - bất kì nơi nào ông ấy có mặt - việc phạm tội ác nào là điều không thể. Đó là trường được nạo của ông ấy, bên trong trường đó thì bạo lực là điều không thể. Ông ấy thích đi bộ đến đền, và trong giới hạn của trường hình quả cầu đó, bất kì điều gì bất ngờ xuất hiện cũng bị thay đổi.
Teilhard de Chardin đã đặt ra từ mới 'noosphere' thay cho từ 'atmosphere'. Atmosphere có nghĩa là môi trường bên ngoài, noosphere có  nghĩa là trạng thái tinh thần và tâm lí, và bên trong trường đó không bao giờ xảy ra bất kì sự kiện cụ thể nào.
Vào thời kì đầu tiên, các môn phái được quản lí bởi các rishi. Không khí xung quanh những môn phái này được cho là thuần khiết và bất khả xâm phạm. Nếu có một cái gì đó sai xuất hiện ở các môn đệ thì rishi sẽ trừng phạt chính mình mà không phải trường phạt họ, bởi vì điều đó có nghĩa là trường đã bị mất phẩm chất cốt lõi của nó - cho nên các môn đệ không thể bị khiển trách. Khiển trách họ là điều phù phiếm; một vài sự kiện rủi ro chỉ có nghĩa rằng, trường đã bị mất tính thiêng liêng của nó. Cho nên chính bậc thầy ăn năn, phải chịu sự nhịn ăn và làm trong sạch lại chính mình.
Những ý tưởng này đã bị Gandhi hiểu sai. Tự làm trong sạch không có nghĩa là cách để chứng tỏ lại một cái gì đó khác, không có ý định tạo áp lực lên một người nào đó khác. Việc hành hạ chính mình, hoặc nhịn ăn cho đến chết để thay đổi trái tim hoặc tâm hồn của một người nào đó không phải là ý tưởng. Gandhi không hiểu. Rishi không làmtrong sạch chính mình để thay đổi một người nào đó khác, ông ta làm điều đó để nạp lại trường, hoặc để làm tinh khiết lại môi trường xung quanh. Nếu khuôn mẫu tư tưởng bị thay đổi, nếu quả cầu tinh thần bị biến đổi thì con người sống trong đó cũng sẽ trở nên thay đổi. Không có vấn đề về việc thay đổi tâm thức của một người nào đó, mà chỉ là sự thay đổi môi trường xung quanh và trường từ tính mà mọi người mang theo họ.
Những người như Mahavira thích đi bộ đến đền. Những người như vậy không thể hi vọng nghỉ cố định ở một nơi cụ thể nào đó. Cho nên chúng ta cần một cái gì đó khácổn định hơn, trở thành trung tâm của cuộc sống đối với toàn bộ thị trấn - một cái gì đó xung quanh cuộc đời của con người sẽ tiếp tục được biến đổi. Chúng ta cần nơi chốn, ngôi đền, ở đó hàng ngày chúng ta dâng tặng lễ vật và nhận lại một cái gì đó. Thậm chí, có thể chúng ta không nhận biết một cái gì đó xảy ra, mọi thứ xảy ra bởi chính nó. Bất kì ai đi ngang qua ngôi đền đều nhận được một cái gì đó vô giá. Có một trường từ tính rộng lớn được tạo ra xung quanh nó, giống như sắt có chứa từ tính bị hút bởi chính trường từ tính, cho nên bất kì ai đi ngang qua ngôi đền hẳn sẽ bị thu hút, và bị ảnh hưởng bởi chính năng lượng của nó. Trường của ngôi đền cũng giống như vậy.
Người ta nói rằng khi Moses đi lên núi, ông ấy nhìn thấy ngọn lửa linh thiêng đang cháy ở đó. Toàn bộ bụi cây bị cháy nhưng ở lưng chừng có một số bông hoa nở và nhiều lá xanh. Moses đi tìm kiếm Thượng đế. Ông ấy ngay lập tức tiến thẳng đến bụi cây và bỗng nhiên nghe thấy giọng nói phát ra từ đó, giọng đó nói, "Ông là kẻ ngốc! Hãy bỏ giày lùi lại mấy bước trước khi vào bụi cây này!" Trong vòng nửa cây số không có bụi cây nhỏ nào - cho nên Moses tiếp tục đi lên phía trước, tìm kiếm bờ đất để có thể bỏ lại đôi giầy của mình. Khi ông ấy đi ngang qua một điểm xác định, ông ấy không còn là Moses; một cái gì đó trong ông ấy thay đổi. Từ bên ngoài bờ đất, nơi mà ông ấy đã để lại đôi giày của mình, ông ấy đi vào cầu trường, cầu xin được tha thứ do sự báng bổ đối với nơi chốn linh thiêng đó.
Ngôi đền đã thay đổi mạnh trường rung động xung quanh nó, và trường đó có sự ảnh hưởng hữu ích tới toàn bộ ngôi làng. Đó không phải là sự hư cấu; thực tế đã đạt được những kết quả. Sự đơn giản đặc trưng, sự trong trắng, sự tinh khiết của những ngôi làng Ấn Độ trong hàng nghìn năm, do trường được nạp của những ngôi đền hơn là chính những ngôi làng. Cho dù ngôi làn có nghèo thì sự tồn tại của ngôi đền trong nó vẫn là tuyệt đối cần thiết. Không có ngôi đền, mọi thứ có vẻ hỗn loạn mà không có sự nhịp nhàng.
Trong hàng nghìn năm, những ngôi làng có tính linh thiêng nào đó, và có những nguồn vô hình lớn lao của điều linh thiêng đó. Điều tồi tệ nhất, có thể được thực hiện để hủy diệt nền văn hóa phương Đông, là hủy diệt trường được nạp của những ngôi đền.  Những ngôi đền rung động đó bị hủy diệt thì toàn bộ văn hóa phương Đông cũng bị sụp đổ. Chính vì vậy mà ngày nay mọi người hoài nghi về giá trị của những ngôi đền. Bất kì ai đã đến trường phổ thông, hoặc trường chuyên nghiệp đều chỉ được dạy về ngôn ngữ và logic - họ chỉ được phát triển về trí tuệ còn tâm hồn thì bị đóng chặt - không bao giờ có sự trải nghiệm về sự sống của những ngôi đền. Cho nên, theo thời gian, những ngôi đền mất dần ý nghĩa của chúng.
Ấn Độ không thể là Ấn Độ nữa cho đến khi những ngôi đền trở nên sống lại. Toàn bộ thuật giả kim của Ấn Độ là ở trong những ngôi đền; Ấn Độ đã nhận được mọi thứ từ những ngôi đền của nó. Có thời kì mà mọi thứ xuất hiện trong cuộc đời con người đều được coi là vì ngôi đền. Nếu anh ta bị bệnh, anh ta đến ngôi đền, nếu anh ta bất hạnh, anh ta cũng chạy đến ngôi đền; thậm chí nếu anh ta hạnh phúc, anh ta chạy đến ngôi đền để cảm tạ. Nếu một cái gì đó tốt xảy ra trong gia đình, anh ta chạy đến ngôi đền với trái cây và hoa tươi; nếu có rắc rối nào đó, anh ta đến ngôi đền để cầu nguyện. Đối với anh ta, ngôi đền là tất cả. Tất cả mọi hi vọng, ước mong, tham vọng của anh ta đều liên quan đến ngôi đền. Tuy anh ta là người nghèo, anh ta vẫn giữ cho ngôi đền được trang trí bằng vàng, bằng bạc và tất cả các loại trang sức khác.
Ngày nay chúng ta nghĩ rằng, sự thái quá của ngôi đền là điên khùng. Thật quá ngu ngốc, khi mọi người đang hấp hối vì đói mà ngôi đền mới lại đang được xây dựng! Dừng lại ngay! Hãy xây bệnh viện và trường học; hãy để cho ngôi đền thành nơi trú ngụ cho những người lánh nạn, hãy làm cho chúng có ích. Bởi vì chúng ta đã quên công dụng thực sự của những ngôi đền cho nên nó trở thành vô dụng. Chúng ta nghĩ, "Tại sao vàng bạc quý báu lại để ở ngôi đền trong khi mọi người đang chết đói?" Nhưng cũng nên nhớ rằng chỉ có những người đói đo mới dâng tặng vàng và kim cương cho nhữngngôi đền; bất kì điều gì họ cảm thấy là giá trị nhất thì họ dâng cho ngôi đền, bởi vì bất kì điều gì có giá trị lớn lao trong cuộc đời họ thì họ đều học được từ ngôi đền. Không có gì là đủ để hoàn lại sự mắc nợ của họ, cho nên bất kì cái gì họ có, họ đều dâng tặng. Bất kì điều gì thực hiện thì cũng là chính đáng, bởi vì không có gì diễn ra liên tục trong hàng nghìn năm mà lại không có lí do chính đáng. Ảnh hưởng của những thành quả vô hình của ngôi đền luôn được đón nhận. Có những lợi ích rõ ràng và dễ hiểu về việc ở gần ngôi đền.
Con người luôn luôn quên. Bất kì điều gì có giá trị lớn thì chúng ta lại quên; bất kì điều gì tầm thường và sáo rỗng thì chúng ta lại luôn nhớ đến, hai mươi bốn giờ liên tục. Chúng ta phải tại nỗ lực để nhớ Thượng đế, nhưng những ước mong và sự say mê của chúng ta thì lại không cần nhớ, chúng luôn có đó ở mọi thời điểm. Xuống dốc là điều rất dễ; lên dốc luôn là điều khó khăn.
Cho nên ngôi đền được xây dựng giữa làng sao cho trong ngày, mọi người có thể tới đó thường xuyên khi cần thiết. Nó làm cho sự tìm kiếm vẫn giữ nguyên sống động. Một cách tự nhiên, một số rất ít người trong chúng ta nhớ những gì chúng ta đang tìm kiếm; gần như tất cả chúng ta chỉ cảm thấy cảm hứng khi chúng ta nhìn thấy những điều thực tế. Khi không có máy bay, chúng ta không có ước mong du hành bằng máy bay. Đúng, một người nào đó như Wright Brothers đã mơ về việc bay bởi vì họ đã phát minh ra máy bay, nhưng con người bình thường sẽ không có giấc mơ như vậy, trừ khi họ nhìn thấy máy bay.
Cho nên khi chúng ta nhìn thấy lòng mộ đạo nhân hình hóa bên trong hình dáng ngôi đền, một cái gì đó của lòng mộ đạo vẫn nán lại trong tâm trí của chúng ta. Cho nên đây là điều đặc biệt đối với những người không thể hình dung sự không rõ ràng của thần thánh. Đối với những người có thể thì không cần ngôi đền. Nhưng theo cách đó thì những người này đã gây ra sự tổn hại ghê gớm đối với những ngôi đền, bởi vì họ đã nói rằng ngôi đền không có ích gì và họ không cần đến sự giúp đỡ của nó.
Bản thân tôi thường nói rằng những ngôi đền là vô dụng, hãy di dời chúng; nhưng dần dần tôi bắt đầu nhận ra rằng nếu những ngôi đền bị phá hủy, làm cách nào những người không thể hình dung dạng không rõ ràng của lòng mộ đạo lại có thể nghĩ về lòng mộ đạo? Từ góc nhìn đó mà có những khó khăn nảy sinh. Nếu con người như Mahavira, người không bao giờ cần đến ngôi đền, nói ra từ mức độ tỉnh thức của mình thì người đó muốn những ngôi đền bị bỏ đi; nhưng nếu ông ấy nghĩ về nhu cầu của bạn thì ông ấy sẽ ngừng nói như vậy.
Ngôi đền giữ nguyên là nguồn cảm hứng trong suốt hai mươi bốn giờ. Bạn nên nhớ rằng, còn có một cửa nữa trong cuộc đời, nó khác với những nhà hàng hay ngôi nhà của bạn, tách rời với vợ bạn và sự giàu có... khía cạnh đó không phải là một phần của thương trường hoặc của những ước mong. Nó sẽ không cho bạn sự giàu có, sự nổi tiếng hoặc sự mãn nguyện của những ước mong; ngôi đền nhắc nhở bạn liên tục về điều đó. Có những thời điểm trong cuộc đời khi bạn mệt mỏi với đời thường, buồn bực với gia đình mình; trong những thời điểm đó, bạn có thể tìm thấy sự tĩnh tại, thanh thản trong ngôi đền.
Nếu như ngôi đền bị phá hủy thì sẽ không còn sự lựa chọn khác. Nếu bạn chán thức ăn ở nhà, bạn có thể đến khách sạn, nhà hàng. Nếu bạn chán với đời, bạn sẽ đi đâu?  Ngôi đền cho bạn những khía cạnh khác, khác xa với thế giới thực dụng. Cho nên những người đã biến những ngôi đền thành thương trường thì coi như họ cũng đã hủy hoại chúng. Ngôi đền không phải là nơi chốn để mặc cả, đó là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn, khi tất cả những hoạt động ngoài đời trở nên mệt mỏi và iệt sức; thế thì bạn có thể tìm thấy sự tĩnh tại và thanh thản ở đó. Không có điều kiện nào cho việc vào ngôi đền, ngôi đền chấp nhận bạn như là bạn. Điều này tồn tại ở nơi quá bình dị đến mức bạn được chấp nhận như là bạn.
Nhiều lần bạn trở nên mệt mỏi vì cuộc sống mà bạn đang sống. Ở những thời điểm đó, có thể bạn đã cảm nhận được ô cửa cầu nguyện mở ra. Và nếu thậm chí một lần nào đó ô cửa mở ra thì nó lại có thể mở nhiều lần nữa, thậm chí ở cửa hàng hay ở nhà bạn. Bất kì khi nào bạn muốn, ô cửa đó sẽ sẵn sàng cho bạn với bất kì thời điểm nào - bởi vì có thể nói, những thời điểm đó là sự xuất hiện hiếm hoi, nhưng tuyệt vời. Không cần thiết phải đến cuộc hành hương, hoặc tìm kiếm Mahavira hoặc Đức Phật. Những thời điểm đó quá ngắn ngủi. Sẽ phải có một nơi nào đó gần để bạn có thể đi vào một cách dễ dàng.
Những hồi ức thời trẻ con là rất quan trọng. Các nhà khoa học nói rằng, tới bảy tuổi, trẻ con đã học được hầu hết các điều cơ bản; nhờ vào đó mà thượng tầng kiến trúc về kiến thức của nó đã được xây dựng. Chính một chút cái mới được bổ sung mà kiến thức của nó đã được hình thành. Chính một chút cái mới đó được thêm vào mà vài điều cơ bản có thể sẽ được bổ sung thêm. Nếu chúng ta không có khả năng hình thành mối liên hệ với ngôi đền trong tâm trí trẻ nhỏ lúc bảy tuổi, thế thì điều đó sẽ trở thành khó khăn, thậm chí là không thể, bởi vì sẽ là quá muộn để thực hiện điều đó. Rất nhều nỗ lực sẽ cần đến, vậy thì nhiều hồi ức sẽ chỉ là hời hợt, là vẻ bề ngoài.
Chính vì vậy, chúng ta muốn ngôi đền là hồi ức đầu tiên của đức trẻ ngay sau khi ra đời. Môi trường xung quanh nó được chuẩn bị theo cách, nó có thể được nuôi dưỡng và lớn lên gần ngôi đền, dần dần nó biết điều đó và thu hút tới điều đó trong suốt cuộc đời. Ngôi đền hẳn sẽ trở thành một phần trọn vẹn của thực tại nó, khi nó vào đời, ngôi đền hẳn sẽ có vị trí bên trong nó, bởi vì nó đã được cung cấp nơi ẩn náu để tránh tất cả các hoạt động cuồng nhiệt của cuộc đời. Cho nên chúng ta muốn ngôi đền có vị trí trong tâm trí nó từ lúc mới sinh ra; muộn hơn sẽ là điều rất khó khăn...
Tất cả những người sống xung quanh ngôi đền đều có ấn tượng in đậm trong tâm trí họ. Nó ăn sâu vào vô thức đến mức không còn là vấn đề của tư tưởng, mà trở thành một phần của bản thể họ. Cho nên trên khắp thế giới, kiểu dáng và hình dạng của những ngôi đền có thể khác nhau nhưng chúng là tuyệt đối cần thiết.
Trên thế giới này nay, hình bóng ngôi đền không được coi là không thể thiếu nữa; những thứ khác đã được thay thế vào vị trí đó - những ngôi trường, bệnh viện và địa vị; những thứ khác đã chiếm chỗ - trường học, bệnh viện và thư viện. Nhưng chúng rất vật chất và hoàn toàn không có mối liên hệ nào với thế giới tâm linh. Thay vì vậy, điều cần thiết là một cái gì đó chỉ ra sự siêu việt. Khi chúng ta dậy vào buổi sáng, chúng ta sẽ nghe tiếng chuông của ngôi đền; khi chúng ta đi ngủ vào buổi đêm, chúng ta sẽ nghe những bài thánh ca từ ngôi đền.
Có một sự kiện trong cuộc đời của Mahavira... Có một người đàn ông a9n trộm đang nằm chờ chết trên giường của mình, con trai của ông ta hỏi một vài lời khuyên cuối cùng có ích cho anh ta trong công việc. Người đàn ông nói, "Đừng làm bất kì điều gì với con người gọi là Mhavira. Nếu con biết ông ta trong ngôi làng của chúng ta thì hãy chạy đi chỗ khác. Nếu ông ta đi ngang qua con trên đường thì hãy trốn đâu đó. Và nếu không nhận biết rằng con đang ở đâu đó, và có thể nghe thấy lời nói của ông ta thì hãy thận trọng về ông ta!"
Khi người con trai hỏi, tại sao ông ta lại quá sợ Mahavira thì người cha nói người con trai không được lí lẽ, "Chỉ nghe những gì ta nói. Nếu con đến gần người đàn ông đó thì công việc của chúng ta sẽ nguy hiểm và gia đình ta sẽ cchết đói."
Những gì xảy ra tiếp theo rất thú vị. Con trai của người ăn trộm đó luôn chạy xa khỏi Mahavira; nhưng vào một ngày nào đó anh ta đã phạm sai lầm. Mahavira đang ngồi tĩnh lặng trong vườn xoài, và không biết rằng con trai của người ăn trộm đã đi qua con đường đó. Bỗng nhiên, Mahvira bắt đầu nói. Tên trộm nghe được một nửa câu n1i, và điều đó làm cho anh ta vô cùng bối rối... Anh ta đang bị cảnh sát truy lùng - toàn bộ cảnh sát khu vực đó đang lùng bắt anh ta vì một vụ trộm mà anh ta đã thực hiện - sau vài tuần anh ta đã bị bắt.
Gia đình anh ta là gia đình trộm cắp, vì vậy anh ta là chuyên gia trong công việc của mình. Anh ta quá htông minh đến mức chưa bao giờ để lại chứng cứ buộc tội nào. Anh ta là tên trộm nổi tiếng và đã thực hiện rất nhều phi vụ; mọi người đều biết về điều đó nhưng không có bằng chứng nào. Cho nên không có khả năng buộc anh ta thú tội.
Anh ta tự làm cho mình hoàn toàn say xỉn, và tình trạng đó làm cho anh ta trở nên bất tỉnh trong hai hay ba ngày. Khi anh ta mở mắt trở lại, anh ta vẫn còn trong trạng thái nửa mê, nửa tỉnh. Mọi người đang ở xung quanh, anh ta nói với người phụ nữ xinh đẹp đang đứng bên cạnh và hỏi xem mình đang ở đâu. Anh ta n1i rằng anh ta đã chết, và các thủ tục đã được chuẩn bị để đưa anh ta lên thiên đường hoặc địa ngục. Anh ta được nói lại rằng, mọi người đang chờ anh ta tỉnh lại để anh ta thừa nhận tội ác mà mình phạm phải. Nếu anh ta thừa nhận thì sẽ được lên thiên đường; nếu không sẽ phải xuống địa ngục. Nếu nói sự thật, anh ta sẽ được an toàn.
Bấy giờ anh ta cảm thấy nên nói sự thật, và không nên bỏ lỡ cơ hội lên thiên đường; mình đã chết nên không có gì phải sợ. Nhưng ở thời điểm đó, anh ta nhớ lại nửa câu nói mà Mahavira đã nói. Mahavira đã nói về chúa trời và ma quỷ. Anh ta còn được gợi ý về yamadoots, người có thể đưa con người đến thế giới bên ngoài cái chết. Tên trộm đã nghe ông ta nói rằng, những ngón chân của yamadoots luôn mọc ngược: anh ta mở mắt và nhìn thấy chân mọi người đứng bên cạnh đều bình thường, cho nên anh ta bắt đầu cảnh giác. Bấy giờ anh ta nhận thấy không cần phải thú nhận. Anh ta đã nhìn thấy trò bịp bợm và nói rằng mình không phạm bất kì tội ác nào; có thể thú nhận điều gì? Nếu họ muốn, họ có thể mang anh ta tới địa ngục. Nhưng khi anh ta không thú nhận bất kì tội ác nào thì làm cách nào họ có thể thực hiện? Cho nên họ phải cho anh ta đi.
Anh ta chạy đến Mahavira, phục xuống chân và đề nghị ông ta nói nốt câu hoàn chỉnh để cứu anh ta. Khi một nửa câu của Mahavira đã cứu sống thì toàn bộ câu nói sẽ còn có ích như thế nào! Anh ta nói đã buông bỏ hoàn toàn với Mahavira. Một lúc nào đó anh ta chắc chắn sẽ bị bắt và bị treo cổ, nhưng anh ta đã nghe phần còn lại của câu nói nên đã được cứu sống. Cho nên Mahavira thường nói rằng, thậm chí nghe một nửa câu nói của người thức tỉnh thì vào một ngày nào đó cũng có thể trở thành có ích.
Tương tự như vậy, người chạy qua ngôi đền hoặc chỉ tình cờ đi ngang qua, nghe thấy âm thanh rung động xuất phát từ ngôi đền, hoặc ngửi thấy mùi hương của nơi chốn đó... thậm chí điều đó cũng có thể trở thành có ích đối với người đó.

Ads Belove Post

Powered by RedCircle