SỐNG THIỀN - Bạn có muốn xóa đi nghiệp chướng của quá khứ ngàn kiếp không?

SỐNG THIỀN - Bạn có muốn xóa đi nghiệp chướng của quá khứ ngàn kiếp không?

Price:

Read more




Tôi đã nghe nói về một câu chuyện hay. Ngày xưa có một nhà điêu khắc lớn, một hoạ sĩ, một nghệ sĩ lớn. Nghệ thuật của ông ấy hoàn hảo tới mức khi ông ấy làm bức tượng một người, khó mà nói được ai là người và ai là tượng. Nó giống thế, sống động thế, tương tự thế. Một nhà chiêm tinh bảo ông ấy rằng cái chết của ông ấy đang tới, ông ấy sẽ chết sớm. Tất nhiên, ông ấy trở nên rất sợ và kinh hãi, và như mọi người đều muốn tránh cái chết, ông ấy cũng muốn tránh. Ông ấy nghĩ về điều đó, suy tư, và ông ấy tìm ra manh mối. Ông ấy làm tượng riêng của mình, mười một bức tượng về số lượng, và khi Cái chết gõ cửa nhà ông ấy và Thần chết bước vào, ông ấy đứng lẩn vào trong mười một bức tượng của mình. Ông ấy dừng thở.
Thần chết phân vân, không thể tin được vào mắt mình. Chuyện này chưa bao giờ xảy ra; nó bất thường thế. Thượng đế chưa bao giờ được biết là tạo ra hai người giống nhau; ngài bao giờ cũng tạo người duy nhất. Ngài chưa bao giờ tin vào bất kì thường lệ nào. Ngài không như dây chuyền lắp ráp. Ngài tuyệt đối chống lại bản sao; ngài tạo ra chỉ nguyên bản. Chuyện gì đã xảy ra? Mười hai người tất cả, tuyệt đối giống nhau sao? Bây giờ, mang ai đi đây? Chỉ một người phải bị mang đi. Cái chết, Thần chết, không thể quyết định được. Phân vân, lo lắng, sốt ruột, thần quay lại. Thần hỏi Thượng đế, "Ngài đã làm gì vậy? Có mười hai người đích xác như nhau, và tôi chỉ được mang một người thôi. Làm sao tôi chọn được?"
Thượng đế cười. Ông ấy gọi Thần chết tới gần, và ông ấy thì thào vào tai thần công thức, manh mối về cách tìm ra cái thật trong cái không thật. Ông ấy cho thần câu mật chú và bảo thần, "Cứ đi đi, và thốt ra điều đó trong phòng đó, nơi tay nghệ sĩ kia đang ẩn mình trong các tượng của anh ta."
Thần chết hỏi, "Làm sao nó có tác dụng được?" Thượng đế nói, "Đừng lo. Cứ đi và thử xem sao."
Thần chết tới, vẫn chưa tin lắm làm sao nó có tác dụng, nhưng khi Thượng đế đã nói, thần phải làm điều đó thôi. Thần đi vào phòng, nhìn quanh, và chẳng hướng vào người nào đặc biệt, thần nói, "Thưa ngài, mọi thứ đều hoàn hảo trừ mỗi một điều. Ngài đã làm tốt, nhưng ngài đã bỏ lỡ một điểm. Một lỗi có đó."
Người này hoàn toàn quên mất rằng mình đang trốn. Anh ta nhảy phóc ra, anh ta nói, "Lỗi gì?"
Và Thần chết cười. Và Thần chết nói, "Ông bị bắt rồi. Đây là lỗi duy nhất: ông không thể quên được bản thân ông. Lại đây, theo ta nào."
Cái chết là của bản ngã. Nếu bản ngã tồn tại, cái chết tồn tại. Khoảnh khắc bản ngã biến mất, cái chết biến mất. Bạn sẽ không chết, nhớ lấy, nhưng nếu bạn nghĩ rằng bạn có, bạn sẽ chết. Nếu bạn nghĩ rằng bạn là một hiện hữu, thế thì bạn sẽ chết. Thực thể giả này của bản ngã sẽ chết, nhưng nếu bạn nghĩ về bản thân bạn dưới dạng của vô hiện hữu, dưới dạng của vô ngã, thế thì không có chết - bạn đã trở thành bất tử. Bạn bao giờ cũng bất tử, bây giờ bạn đã nhận ra sự kiện này.
Nghệ sĩ này bị bắt vì anh ta không thể biến mất vào vô hiện hữu.
Phật nói trong Dhammapada: Nếu ông có thể thấy cái chết, cái chết không thể thấy được ông. Nếu bạn có thể chết trước khi cái chết đến, thế thì cái chết không thể tới bạn được, và không cần làm tượng. Điều đó sẽ không giúp gì. Sâu bên dưới bạn phải phá huỷ một bức tượng, không tạo ra mười một tượng nữa. Bạn phải phá huỷ hình ảnh của bản ngã. Không cần tạo ra nhiều tượng và nhiều hình ảnh. Tôn giáo, theo một cách nào đó, mang tính phá huỷ. Theo một cách nào đó, nó có tính phủ định. Nó triệt tiêu bạn - triệt tiêu bạn hoàn toàn và rốt ráo.
Bạn tới tôi với ý tưởng nào đó để đạt tới sự hoàn thành nào đó, và tôi ở đây để phá huỷ bạn hoàn toàn. Bạn có ý tưởng của bạn; tôi có ý tưởng của tôi. Bạn sẽ thích được hoàn thành - được hoàn thành trong bản ngã của bạn - và tôi muốn bạn mất bản ngã, tan biến, biến mất, bởi vì chỉ thế thì mới có hoàn thành. Bản ngã chỉ biết trống rỗng, nó bao giờ cũng không được hoàn thành. Bởi chính bản chất của nó, bởi chính bản chất cố hữu của nó, nó không thể đạt tới sự hoàn thành được. Khi bạn không có, hoàn thành có. Gọi nó là Thượng đế, hay cho nó cái tên mà Patanjali thích - samadhi - việc đạt tới điều tối thượng, nhưng nó tới khi bạn biến mất.
Những lời kinh này của Patanjali là các phương pháp khoa học về cách tan biến, cách chết, cách tự tử thực. Tôi gọi nó là thực bởi vì nếu bạn giết thân thể bạn, cái đó là tự tử không thực. Nếu bạn giết cái ta của bạn, đó mới là tự tử thực.
Và đó là điều ngược đời: rằng nếu bạn chết, bạn đạt tới cuộc sống vĩnh hằng. Nếu bạn bám lấy sống, bạn sẽ chết cả nghìn lẻ một lần. Bạn sẽ tiếp tục... bạn sẽ tiếp tục được sinh ra và chết đi lặp đi lặp lại mãi. Nó là cái bánh xe. Nếu bạn bám vào, bạn chuyển động cùng với bánh xe.
Rút ra khỏi bánh xe sống chết đi. Làm sao rút ra khỏi nó được? Dường như không thể nào vì bạn chưa bao giờ nghĩ về bản thân bạn như một vô hiện hữu, bạn chưa bao giờ nghĩ về bản thân bạn như chỉ là không gian, không gian thuần khiết, mà không có ai ở đó bên trong.
Đây là lời kinh. Từng lời kinh đều phải được hiểu rất sâu sắc. Kinh là thứ rất cô đọng. Kinh giống như hạt mầm. Bạn phải chấp nhận nó sâu bên trong tim bạn; tim bạn phải trở thành mảnh đất cho nó. Thế thì nó nảy mầm, và thế thì mới tới nghĩa.
Tôi chỉ có thể thuyết phục bạn mở để cho hạt mầm có thể rơi vào đúng chỗ bên trong bạn, để cho hạt mầm có thể đi vào bóng tối sâu của vô hiện hữu của bạn. Trong bóng tối đó của vô hiện hữu của bạn, nó sẽ bắt đầu sống động. Kinh là hạt mầm. Về mặt trí tuệ, rất dễ hiểu nó. Về mặt tồn tại, đạt tới nghĩa của nó là gian nan. Nhưng đó là điều Patanjali muốn, đó là điều tôi muốn.
Cho nên đừng chỉ là trí tuệ ở đây. Hoà hợp với tôi đi, hoà điệu với tôi đi. Đừng chỉ nghe tôi, thay vì thế, hiện hữu cùng tôi. Lắng nghe là phụ; hiện hữu cùng tôi là chính, căn bản - chỉ hiện hữu trong toán của tôi. Cho phép bản thân bạn được ở đây bây giờ cùng tôi một cách toàn bộ, trong sự hiện diện của tôi, bởi vì cái chết đó đã xảy ra cho tôi. Nó có thể trở thành lây nhiễm. Tôi đã làm việc tự tử đó. Nếu bạn tới gần tôi, nếu bạn trong hoà điệu với tôi cho dù một khoảnh khắc thôi, bạn sẽ có thoáng nhìn về cái chết.
Và, Phật là đúng khi ông ấy nói, "Nếu ông có thể thấy cái chết, cái chết sẽ không thể thấy được ông," bởi vì khoảnh khắc bạn thấy cái chết bạn đã siêu việt lên trên cái chết. Thế thì không có chết cho bạn.
Lời kinh thứ nhất:
Bằng việc thực hiện samyama trên hai kiểu nghiệp, tích cực và ngủ, hay trên điềm và điềm báo, thời gian đích xác của cái chết có thể được dự báo.
Nhiều điều. Thứ nhất, tại sao lo nghĩ về đích xác thời gian của chết? Nó sẽ có ích thế nào? Ích lợi gì từ nó? Nếu bạn hỏi nhà tâm lí học phương Tây, họ sẽ gần như gọi nó là tình trạng bệnh tật bất thường. Tại sao quan tâm tới cái chết? Tránh ra đi. Cứ tin rằng cái chết sẽ không xảy ra - ít nhất không xảy ra cho bạn. Nó bao giờ cũng xảy ra cho ai đó khác. Bạn đã thấy mọi người chết, bạn chưa bao giờ thấy bản thân bạn chết, cho nên sao sợ? Bạn có thể là ngoại lệ. Nhưng không ai là ngoại lệ cả; và chết đã xảy ra trong việc sinh của bạn rồi, cho nên bạn không thể né tránh nó được.
Bây giờ sinh là ở bên ngoài quyền năng của bạn. Bạn không thể làm gì được về nó; nó đã xảy ra rồi. Nó đã là quá khứ; nó đã được thực hiện xong rồi. Bạn không thể hoàn tác được nó. Chết đã xảy ra rồi: cái gì đó là có thể được thực hiện về nó.
Toàn thể tôn giáo phương Đông tuỳ thuộc vào cách nhìn cái chết, bởi vì đó là khả năng mà sẽ xảy ra. Nếu bạn biết nó từ trước, khả năng là vô cùng. Nhiều cánh cửa mở ra. Thế thì bạn có thể chết theo cách riêng của bạn, thế thì bạn có thể chết với dấu ấn của riêng bạn lên cái chết của bạn. Thế thì bạn có thể xoay xở không được sinh ra lần nữa - đó là toàn thể nghĩa. Nó không phải là bệnh tật ốm yếu. Nó là rất, rất khoa học. Khi mọi người sắp chết, điều tuyệt đối ngu xuẩn là không nghĩ tới cái chết, không suy tư về cái chết, không hội tụ vào nó, không đi tới hiểu sâu về nó.
Nó sắp xảy ra. Nếu bạn biết, nhiều điều là có thể.
Patanjali nói ngay cả đích xác ngày tháng, giờ, phút, giây của cái chết có thể được biết trước. Nếu bạn biết đích xác khi nào cái chết đến, bạn có thể chuẩn bị. Chết phải được đón nhận như vị khách lớn. Nó không phải là kẻ thù. Thực ra nó là món quà được thượng đế cho. Nó là cơ hội lớn để kinh qua. Nó có thể trở thành bước đột phá: nếu bạn có thể chết tỉnh táo, ý thức, nhận biết, bạn sẽ không bao giờ được sinh lại nữa - và sẽ không có chết thêm nữa. Nếu bạn bỏ lỡ, bạn sẽ được sinh ra lần nữa. Nếu bạn liên tục bỏ lỡ, bạn sẽ liên tục được sinh ra lặp đi lặp lại, chừng nào bạn còn chưa học được bài học của chết.
Để tôi nói điều đó theo cách này: toàn thể cuộc sống không là gì ngoài việc học về cái chết, việc chuẩn bị cho cái chết. Đó là lí do tại sao cái chết tới ở cuối. Nó là cực đỉnh, cao trào, chính đỉnh cao, ngọn.
Đặc biệt ở phương Tây, các nhà tâm lí đương đại đã trở nên nhận biết rằng trong hành động dục sâu sắc, một đỉnh nào đó có thể được đạt tới, cực đỉnh, cực thích lớn lao, mà cực kì thoả mãn, vui thích, cực lạc. Bạn được lau sạch, bạn thoát ra khỏi nó được làm sảng khoái, tươi tắn, lại trẻ trung, lại sống động - mọi bụi mất đi, dường như bạn đã tắm kĩ, tắm năng lượng. Nhưng họ vẫn còn chưa biết rằng hành động dục là cái chết rất nhỏ; và người có thể đạt tới cực thích sâu là người cho phép bản thân mình chết đi trong yêu. Nó là cái chết nhỏ, không có gì sánh được với cái chết. Cái chết là cực thích lớn nhất có đó.
Sự mãnh liệt của cái chết là tới mức gần như bao giờ mọi người cũng trở thành vô ý thức. Họ không thể đối diện nó được. Khoảnh khắc cái chết tới, bạn sợ thế, đầy lo âu, để né tránh bạn trở nên vô ý thức. Gần chín mươi chín phần trăm mọi người chết đi một cách vô ý thức. Họ bỏ lỡ cơ hội này.
Biết trước về cái chết chính là phương pháp để giúp bạn chuẩn bị để cho khi cái chết tới, bạn hoàn toàn tỉnh táo và nhận biết, chờ đợi, sẵn sàng đi với cái chết, sẵn sàng buông xuôi, sẵn sàng ôm choàng lấy cái chết. Một khi bạn đã chấp nhận cái chết trong nhận biết, không còn cách nào sinh ra cho bạn nữa - bạn đã học xong bài học này. Bây giờ không có quay lại trường lần nữa. Cuộc sống này chỉ là trường học, một bộ môn - bộ môn để học về chết. Nó không phải là bệnh tật.
Toàn thể tôn giáo quan tâm tới chết, và nếu tôn giáo nào đó không quan tâm tới cái chết, thế thì nó không phải là tôn giáo chút nào. Nó có thể là xã hội học, dân tộc học, đạo đức học, chính trị, nhưng nó không thể là tôn giáo được. Tôn giáo là việc tìm cái bất tử; nhưng cái bất tử đó là có thể chỉ thông qua cánh cửa của cái chết.
Lời kinh thứ nhất nói, "Bằng việc thực hiện samyama trên hai kiểu nghiệp, tích cực và ngủ, hay trên điềm và điềm báo, thời gian đích xác của cái chết có thể được dự báo." Phân tích của phương Đông về nghiệp nói rằng có ba kiểu nghiệp. Chúng ta hãy hiểu chúng.
Kiểu thứ nhất được gọi là sanchita. Sanchita nghĩa là toàn bộ, toàn bộ tất cả các kiếp quá khứ của bạn. Bất kì cái gì bạn đã làm, bất kì cách nào bạn đã phản ứng với tình huống, bất kì cái gì bạn đã nghĩ và ham muốn, đã đạt tới, đã bỏ lỡ - toàn bộ - toàn bộ việc làm của bạn, suy nghĩ, cảm giác của mọi kiếp sống đều được gọi là sanchita. Sanchita: từ này nghĩa là tất cả, tất cả mọi thứ được tích luỹ.
Kiểu nghiệp thứ hai được biết là prarabdha. Kiểu nghiệp thứ hai là một phần của sanchita mà bạn phải hoàn thành trong kiếp này, điều phải được thực hiện trong kiếp này. Bạn đã sống nhiều kiếp; bạn đã tích luỹ nhiều. Bây giờ một phần của nó sẽ có cơ hội được hành động, được thực hiện, được chịu đựng, được xảy ra qua kiếp này. Chỉ một phần của nó, bởi vì kiếp này có giới hạn - bẩy mươi năm, tám mươi năm, hay một trăm năm. Trong một trăm năm bạn không thể sống được mọi nghiệp quá khứ - sanchita, cái được tích luỹ - chỉ là một phần của nó. Phần đó được gọi là prarabdha.
Thế rồi có kiểu nghiệp thứ ba được biết tới là kriyaman. Đó là nghiệp hàng ngày. Thứ nhất là toàn thể mọi thứ được tích luỹ, thế rồi đến một phần nhỏ của nó cho kiếp sống này, thế rồi thậm chí một phần nhỏ hơn của nó cho hôm nay, cho khoảnh khắc này. Từng khoảnh khắc đều có cơ hội để làm cái gì đó hay không làm cái gì đó. Ai đó xúc phạm bạn: bạn trở nên giận. Bạn phản ứng, bạn làm cái gì đó; hay, nếu bạn nhận biết, bạn đơn giản quan sát, bạn không trở nên giận. Bạn đơn giản vẫn còn là nhân chứng. Bạn không làm cái gì, bạn không phản ứng. Bạn vẫn còn bình thản và tự chủ; bạn vẫn còn được định tâm. Người khác đã không có khả năng quấy rối bạn.
Nếu bạn bị quấy rối bởi người khác và bạn phản ứng, thế thì nghiệp kriyaman rơi vào kho chứa sâu của sanchita. Thế thì bạn đang lại tích luỹ lần nữa; thế thì với các kiếp tương lai bạn đang tích luỹ. Nếu bạn không phản ứng, thế thì nghiệp quá khứ được hoàn thành - bạn phải đã xúc phạm người này trong kiếp quá khứ nào đó, bây giờ người đó đã xúc phạm bạn; tài khoản được đóng lại. Được kết thúc. Con người của nhận biết sẽ cảm thấy sung sướng rằng ít nhất phần này được kết thúc. Người đó đã trở nên tự do hơn một chút.
Ai đó tới và xúc phạm Phật. Phận vẫn còn yên tĩnh, ông ấy lắng nghe chăm chú, và thế rồi ông ấy nói, "Cám ơn ông." Người này chưng hửng lắm, người đó nói, "Ông có điên không? Tôi đang sỉ nhục ông, làm tổn thương ông, và ông đơn giản nói cám ơn là sao?" Phật nói, "Vâng, bởi vì ta đã đợi ông. Ta đã xúc phạm ông trong quá khứ, và ta đã chờ đợi - chừng nào ông còn chưa tới ta sẽ không tự do toàn bộ. Bây giờ ông là người cuối cùng, tài khoản của ta được đóng lại. Cám ơn ông đã tới. Ông có thể chờ đợi, ông có thể không tới trong kiếp này, thế thì ta sẽ phải đợi ông. Và ta không nói gì thêm nữa, bởi vì thế là đủ rồi. Ta không muốn tạo ra dây chuyền khác."
Thế rồi kriyaman karma, nghiệp hàng ngày, không rơi vào trong kho chứa, không thêm vào cho nó, thực ra, kho chứa còn ít hơn nó đã từng. Cùng điều này là đúng về prarabdha - toàn thể cuộc sống, kiếp này. Nếu trong kiếp này bạn cứ phản ứng, bạn đang tạo ra kho chứa ngày càng nhiều hơn. Bạn sẽ phải tới lặp đi lặp lại. Bạn đang tạo ra quá nhiều dây chuyền, bạn sẽ bị trong lệ thuộc.
Cố hiểu quan niệm phương Đông về tự do. Ở phương Tây tự do có hàm nghĩa tự do chính trị. Ở Ấn Độ chúng ta không bận tâm mấy về tự do chính trị, bởi vì chúng ta nói chừng nào người ta chưa tự do về tâm linh, chả khác biệt gì mấy liệu bạn có tự do chính trị hay không. Điều nền tảng là tự do về tâm linh.
Lệ thuộc được tạo ra bởi nghiệp. Bất kì cái gì bạn làm trong vô nhận biết đều trở thành nghiệp. Bất kì hành động nào được làm trong vô nhận biết đều trở thành nghiệp bởi vì bất kì hành động nào được làm trong vô nhận biết đều không là hành động chút nào; nó là phản ứng. Khi bạn làm cái gì đó trong nhận biết đầy đủ nó không phải là phản ứng; nó là hành động, tự phát, toàn bộ. Nó không để lại dấu vết gì. Nó là đầy đủ trong bản thân nó; nó không phải là không đầy đủ. Nếu nó là không đầy đủ thế thì một ngày nào đó này khác nó sẽ phải được làm cho đầy đủ. Cho nên nếu trong kiếp này bạn vẫn còn tỉnh táo, thế thì prarabdha biến mất và kho chứa của bạn trở nên ngày một rỗng hơn. Trong vài kiếp kho chứa trở thành tuyệt đối trống rỗng.
Lời kinh này nói, "Bằng việc thực hiện samyama trên hai kiểu nghiệp..." Patanjali ngụ ý sanchita và prarabdha bởi vì kriyaman không là gì ngoài một phần của prarabdha, cho nên ông ấy chia làm đôi.
Samyama là gì? Điều đó phải được hiểu. Samyama là sự tổng hợp lớn nhất của tâm thức con người, sự tổng hợp của cả ba: dharana, dhyan, samadhi.
Bình thường, tâm trí bạn liên tục nhảy từ đối thể này sang đối thể khác. Không một khoảnh khắc nào bạn trong hài hoà với một đối thể. Bạn liên tục nhảy. Tâm trí bạn thường xuyên di chuyển; nó như một luồng. Khoảnh khắc này cái gì đó đang trong hội tụ của tâm trí, khoảnh khắc tiếp cái gì đó khác, khoảnh khắc tiếp lại cái gì đó khác. Đây là trạng thái bình thường của tâm trí.
Bước thứ nhất để ra khỏi nó là dharana. Dharana nghĩa là tập trung - cố định toàn thể tâm thức của bạn vào một đối thể, không cho phép đối thể biến mất, đem đi đem lại tâm thức của bạn vào đối thể để cho thói quen vô thức của tâm trí theo luồng liên tục có thể bị bỏ đi; bởi vì một khi thói quen thay đổi liên tục này có thể bị bỏ đi, bạn đạt tới tính toàn vẹn, tới sự kết tinh. Khi có nhiều đối thể di chuyển liên tục, bạn vẫn còn là nhiều thế. Hiểu điều đó đi. Bạn vẫn còn bị phân chia bởi vì đối thể của bạn bị phân chia.
Chẳng hạn, bạn yêu người đàn bà này hôm nay, người đàn bà khác ngày mai, người đàn bà khác nữa ngày thứ ba. Điều đó sẽ tạo ra phân chia trong bạn. Bạn không thể là một; bạn sẽ trở thành nhiều. Bạn sẽ trở thành đám đông. Do đó mới có sự nhấn mạnh của phương Đông để tạo ra tình yêu mà trong đó bạn có thể vẫn còn trong một thời kì dài hơn, dài nhất có thể được. Đã có những thực nghiệm ở phương Đông trong đó một đôi đã còn là một đôi trong nhiều kiếp cùng nhau. Lặp đi lặp lại cùng người đàn bà đó, cùng người đàn ông đó: điều đó cho tính toàn vẹn. Quá nhiều thay đổi làm xói mòn con người bạn, chia chẻ bạn. Cho nên nếu ở phương Tây tinh thần phân liệt đang trở thành gần như là điều bình thường, nó không phải là cái gì đó được lấy làm ngạc nhiên. Nó không phải là lạ, nó là tự nhiên. Mọi thứ đều thay đổi.
Tôi đã nghe nói rằng một nữ diễn viên điện ảnh ở Hollywood lấy người chồng thứ mười một. Cô ấy về nhà, giới thiệu người bố mới cho lũ con. Lũ trẻ đem tới một cuốn sổ đăng kí, và chúng nói với người bố, "Bố kí vào đó đi, vì hôm nay bố ở đây, ngày mai bố có thể đi mất rồi; và chúng con đang tích luỹ lại chữ kí, tiểu sử, về mọi bố của chúng con."
Bạn liên tục đổi nhà; bạn liên tục thay đổi mọi thứ. Ở Mĩ giới hạn trung bình của việc làm của một người là ba năm. Việc làm cũng liên tục thay đổi. Nhà - giới hạn trung bình của một người ở trong một thị trấn cũng là ba năm. Và giới hạn trung bình của hôn nhân cũng là ba năm. Bằng cách nào đó ba năm dường như là rất quan trọng. Dường như là nếu bạn còn ở bốn năm với cùng người đàn bà thì có sợ rằng bạn có thể bị lắng đọng lại. Nếu bạn vẫn còn trong cùng một việc làm hơn ba năm thì có nỗi sợ rằng bạn có thể bị lắng đọng lại. Cho nên mọi người cứ đi, họ đã trở thành gần như kẻ lang thang. Điều đó tạo ra phân chia bên trong bạn.
Ở phương Đông chúng ta cố lấy việc làm cho một người như một phần của đời người đó. Một người được sinh ra tron một gia đình Brahmin: người đó vẫn còn là người Brahmin. Đó là một thực nghiệm lớn để cho sự ổn định. Một người được sinh ra trong gia đình của người làm giầy: người đó vẫn còn là người làm giầy. Hôn nhân, gia đình, việc làm, thị trấn - mọi người sinh ra trong cùng thị trấn và họ sẽ chết đi trong cùng thị trấn đó. Lão Tử nhớ, "Ta đã nghe nói rằng trong thời cổ mọi người đã không đi ra ngoài dòng sông." Họ đã nghe chó sủa ở bờ bên kia, phía bờ bên kia. Họ đã suy luận rằng phải có một thị trấn vì buổi tối họ đã thấy khói bốc lên - mọi người phải nấu ăn. Họ đã nghe chó sủa, nhưng họ đã không bận tâm đi và xem. Mọi người được lắng đọng hài hoà thế.
Thay đổi thường xuyên này đơn giản giản nói lên rằng tâm trí bạn bị sốt. Bạn không thể dừng lâu ở bất kì cái gì; thế thì toàn thể cuộc đời bạn trở thành cuộc sống của thay đổi liên tục - cứ dường như cây đang lại bị nhổ bật rễ lặp đi lặp lại và chưa bao giờ có thời điểm đúng để cắm rễ nó sâu vào trong đất. Cây sẽ sống chỉ bởi vì cái tên thôi. Nó sẽ không có khả năng nở hoa, không có khả năng nào, bởi vì trước khi hoa tới, rễ phải được lắng đọng.
Cho nên, tập trung nghĩa là đem tâm thức của bạn tới một đối thể và trở nên có khả năng duy trì nó ở đó - bất kì đối thể nào. Nếu bạn đang nhìn vào hoa hồng, bạn liên tục nhìn vào nó. Tâm trí sẽ vẩn vơ lặp đi lặp lại, đi đây đi đó; bạn lôi nó lại. Bạn thuần phục tâm trí - bạn thuần phục con trâu. Bạn đem nó trở lại hoa hồng. Tâm trí lại đi, bạn lại đem nó về. Dần dần, tâm trí bắt đầu ở cùng với hoa hồng trong thời kì dài hơn. Một khi tâm trí bạn còn lại với hoa hồng trong thời kì dài, bạn sẽ có khả năng lần đầu tiên biết hoa hồng là gì. Nó không chỉ là hoa hồng: Thượng đế đã nở hoa trong nó. Hương thơm không chỉ của hoa hồng, hương thơm là điều thiêng liêng. Nhưng bạn chưa bao giờ có hoà hợp với nó được lâu.
Ngồi với cây và hiện hữu cùng với nó. Ngồi với bạn trai hay bạn gái của bạn và hiện hữu cùng anh ấy hay cô ấy, và đem bản thân bạn tới lặp đi lặp lại. Bằng không, cái gì đang xảy ra? Cho dù bạn đang làm tình với người đàn bà, bạn vẫn nghĩ về cái gì đó khác - có thể đi vào một thế giới khác toàn bộ. Ngay cả trong yêu bạn cũng không được tập trung. Bạn bỏ lỡ nhiều. Cánh cửa mở ra, nhưng bạn không có đó để nhìn nó. Bạn quay lại khi cánh cửa đã đóng lại.
Từng khoảnh khắc đều có cả triệu cơ hội để thấy Thượng đế, nhưng bạn không có đó. Ngài tới và gõ cửa nhà bạn, nhưng bạn không có đó. Bạn chưa bao giờ được tìm thấy ở đó. Bạn cứ đi lang thang khắp thế giới. Việc lang thang này phải được dừng lại; đó là nghĩa của dharana. Dharana là bước đầu tiên của sự tổng hợp lớn lao của samyama.
Bước thứ hai là dhyan. Trong dharana, trong tập trung, bạn mang tâm trí bạn về hội tụ: đối thể là quan trọng. Bạn phải mang đi mang lại đối thể vào tâm thức của bạn; bạn không để mất dấu vết của nó. Đối thể là quan trọng trong dharana. Bước thứ hai là dhyan, suy tưởng. Trong suy tưởng đối thể là không quan trọng nữa; nó trở thành phụ. Bây giờ, luồng tâm thức trở thành quan trọng - chính tâm thức mà được rót vào đối thể. Bất kì đối thể nào cũng có tác dụng, nhưng tâm thức của bạn phải được rót vào trong sự liên tục; phải không có lỗ hổng.
Bạn có quan sát không? Nếu bạn đổ nước từ bình này sang bình khác, có lỗ hổng. Nếu bạn đổ dầu từ bình này sang bình khác, không có lỗ hổng. Dầu có sự liên tục, nước rơi không liên tục. Dhyan nghĩa là, thiền nghĩa là, tâm thức của bạn phải rơi vào bất kì đối thể nào của việc tập trung theo sự liên tục. Bằng không nó đang rung rinh. Nó thường xuyên rung rinh; nó không phải là ngọn đuốc liên tục. Thỉnh thoảng nó có đó, thế rồi nó biến mất; thế rồi nó lại có đó, thế rồi biến mất, thế rồi lại có đó. Trong dhyan bạn phải làm nó thành sự liên tục, liên tục tuyệt đối.
Khi tâm thức trở thành liên tục, bạn trở thành cực kì mạnh. Lần đầu tiên bạn cảm thấy cuộc sống là gì. Lần đầu tiên, các lỗ hổng trong cuộc đời bạn biến mất. Lần đầu tiên bạn liên tục. Tính liên tục của bạn nghĩa là tính liên tục của tâm thức. Nếu tâm thức bạn giống như giọt nước và không liên tục, bạn không thể thực sự ở đó. Những lỗ hổng đó sẽ là việc quấy rối. Cuộc đời bạn sẽ rất mờ nhạt và yếu ớt; nó sẽ không có sức mạnh, lực, năng lượng. Khi tâm thức chảy trong hiện tượng liên tục, như dòng sông, bạn đã trở thành thác năng lượng.
Đây là bước thứ hai của samyama, chất liệu thứ hai; và thế rồi có chất liệu thứ ba, cái tối thượng, cái là samadhi. Trong dharana, tập trung, đối thể là quan trọng bởi vì bạn phải chọn một đối thể trong cả triệu. Trong dhyan, suy tưởng, tâm thức là quan trọng, bạn phải làm tâm thức thành một luồng liên tục. Trong samadhi chủ thể là quan trọng: chủ thể phải bị bỏ đi.
Bạn đã bỏ nhiều đối thể. Khi có nhiều đối thể, bạn là nhiều chủ thể, đám đông, sự tồn tại đa tâm trí - không một tâm trí, nhiều tâm trí. Mọi người tới tôi và họ nói, "Tôi muốn nhận tính chất sannyas, nhưng..." Cái "nhưng" đó đem tới tâm trí thứ hai. Họ nghĩ chúng là một, nhưng cái "nhưng" đem tới tâm trí khác. Chúng không là một. Họ muốn làm cái gì đó và, đồng thời, họ không muốn làm nó - hai tâm trí. Nếu bạn quan sát bạn sẽ thấy nhiều tâm trí trong bạn - gần như bãi chợ.
Khi có quá nhiều đối thể, có quá nhiều tâm trí tương ứng với chúng. Khi có một đối thể, một tâm trí nảy sinh - được hội tụ, được định tâm, được bắt rễ, được tiếp đất. Bây giờ một tâm trí này phải bị bỏ đi; bằng không bạn sẽ vẫn còn trong bản ngã. Cái nhiều đã bị bỏ đi, bây giờ vứt luôn cái một nữa. Trong samadhi một tâm trí này phải bị bỏ đi. Khi một tâm trí bị bỏ đi, một đối thể cũng biến mất bởi vì nó không thể có đó được. Chúng bao giờ cũng ở cùng nhau.
Trong samadhi duy nhất tâm thức còn lại, như không gian thuần khiết.
Ba điều này cùng nhau được gọi là samyama. Samyama là sự tổng hợp vĩ đại nhất của tâm thức con người.
Bây giờ bạn sẽ có khả năng hiểu được lời kinh: "Bằng việc thực hiện samyama trên hai kiểu nghiệp, tích cực và ngủ, hay theo điềm và điềm báo, đích xác thời gian của chết có thể được dự báo." Bây giờ nếu bạn tập trung, suy tưởng, và vào hài hoà trong samadhi, bạn có thể có khả năng biết đích xác thời gian chết. Nếu bạn di chuyển samyama của bạn, sự tổng hợp vĩ đại của tâm thức, quyền năng vĩ đại đã nảy sinh trong bạn; nếu bạn chuyển nó hướng tới cái chết, bạn sẽ có khả năng biết ngay lập tức khi nào bạn sẽ chết.
Nó xảy ra như thế nào? Khi bạn đi vào trong phòng tối, bạn không thể thấy được cái gì có đó. Khi bạn đi cùng chiếc đèn, bạn có thể thấy cái gì có đó, hay cái gì không có đó. Bạn đi gần như trong bóng tối cả đời bạn, cho nên bạn không biết bao nhiêu prarabdha vẫn có đó - prarabdha, nghiệp mà bạn phải hoàn thành trong kiếp này. Khi bạn đi cùng samyama, với chiếc đèn cháy sáng, bạn đem ngọn lửa vào; bạn biết bao nhiêu prarabdha còn lại. Bạn thấy toàn thể ngôi nhà trống rỗng, chỉ trong góc nhà một vài thứ còn bỏ lại, chẳng mấy chốc chúng sẽ biến mất. Bây giờ bạn có thể thấy khi nào bạn sẽ chết.
Người ta nói về Ramakrishna rằng ông ấy quá quan tâm tới thức ăn; thực ra bị ám ảnh. Điều đó là rất không chắc xảy ra. Ngay cả vợ ông ấy, Sharda, cũng thường cảm thấy rất bối rối; bởi vì ông ấy là vị thánh vĩ đại thế, chỉ mỗi một thói xấu - và thói xấu là ở chỗ ông ấy quá quan tâm tới thức ăn. Ông ấy quan tâm nhiều tới mức trong khi ông ấy đang cho đệ tử của mình buổi satsang, ngay giữa chừng ông ấy sẽ nói, "Đợi đã, ta sẽ tới," và ông ấy sẽ đi nhìn vào bếp, cái gì đang được nấu. Ông ấy sẽ đi tới đó và hỏi, "Cái gì đang được chuẩn bị cho hôm nay?" và thế rồi sẽ quay lại và bắt đầu buổi satsang lần nữa.
Các đệ tử thân thiết nhất của ông ấy trở nên lo nghĩ. Họ nói, "Điều này có vẻ không ổn, Paramahansa. Và mọi thứ đẹp hoàn hảo thế - chưa bao giờ có một người hoàn hảo và bước đi đẹp thế - nhưng sự việc nhỏ bé này, sao thầy không thể bỏ nó được?" Ông ấy sẽ cười và sẽ không nói gì cả.
Một hôm vợ ông ấy Sharda khăng khăng hỏi quá nhiều. Ông ấy nói, "Thôi được, nếu em cứ khăng khăng, anh sẽ nói. Prarabdha của anh kết thúc rồi; và anh đang bám lấy thức ăn này thôi. Nếu anh bỏ nó thì anh mất đấy."
Người vợ không thể tin được vào điều này. Rất khó cho vợ tin được vào chồng riêng của họ - ngay cả người chồng là một Paramahansa điều đó cũng không tạo ra khác biệt gì. Vợ phải đã nghĩ rằng ông ấy đang lừa, hay ông ấy cố hợp lí hoá. Thấy điều đó, Ramakrishna nói, "Nhìn kìa, anh có thể thấy rằng em không tin cậy vào anh, nhưng em sẽ biết. Ngày anh sẽ chết, chỉ ba ngày trước ngày đó, ba ngày trước cái chết của anh, anh sẽ không nhìn vào thức ăn. Em sẽ đem món thali vào, và anh sẽ bắt đầu nhìn sang hướng khác; thế thì em có thể biết rằng chỉ ba ngày nữa anh ở đây thôi."
Điều đó nữa cũng không tin được; họ quên về điều đó. Thế rồi, ngay ba ngày trước khi Ramakrishna chết, ông ấy đang nghỉ, Sharda mang món thali, thức ăn của ông ấy vào: ông ấy quay đi, bắt đầu nhìn vào phía khác. Đột nhiên người vợ nhận ra, nhớ lại. Món thali rơi khỏi tay bà ấy, bà ấy bắt đầu khóc. Ramakrishna nói, "Đừng khóc bây giờ. Bây giờ công việc của anh đã được kết thúc; anh không cần bám nữa." Và đích xác sau ba ngày ông ấy chết.
Ông ấy bám lại trong từ bi, chỉ cố để tạo ra sự lệ thuộc với một dây xích. Tù túng mất rồi, nhà tù đã biến mất. Từ từ bi ông ấy đã cố bám lại, nấn ná lâu hơn chút nữa trên bờ bên này, để giúp những người đã tụ tập quanh ông ấy. Nhưng khó hiểu được một Paramahansa. Khó hiểu một người đã trở thành một siddha, vị phật, người đã làm trống rỗng tất cả sanchita của mình, tất cả các nghiệp đã tích luỹ. Rất khó. Người đó không có sức hấp dẫn, cho nên Ramakrishna đang bám vào một tảng đá. Tảng đá có sức hấp dẫn. Ông ấy bám vào đá để cho ông ấy có thể nấn ná trên đất này lâu hơn chút nữa.
Khi bạn có samyama, tâm thức tỉnh táo đầy đủ, bạn có thể thấy bao nhiêu nghiệp còn lại. Nó đích xác như khi bác sĩ điều trị tới và ông ấy nhìn và lấy mạch của người sắp chết và ông ấy nói, "Không quá hai, ba giờ nữa." Ông ấy đang nói gì? Với kinh nghiệm lâu ông ấy đã đi tới biết bao nhiêu mạch đập khi một người sắp chết. Đích xác theo cách đó, một người tỉnh táo biết bao nhiêu prarabdha còn lại - mạch bao nhiêu - và người đó biết khi nào người đó phải đi.
Điều này có thể được thực hiện theo hai cách. Kinh này nói hoặc hội tụ vào cái chết, đó là nghiệp prarabdha... "Bằng việc thực hiện samyama trên hai kiểu nghiệp, tích cực và ngủ, hay trên điềm và điềm báo, thời gian đích xác của chết có thể được dự đoán." Điều này có thể được thực hiện theo hai cách: hoặc bạn nhìn vào prarabdha hoặc có vài điềm và điềm báo mà có thể được quan sát.
Chẳng hạn, trước khi một người chết, gần như đích xác quãng chín tháng trước đó, điều gì đó xảy ra. Bình thường chúng ta không nhận biết, bởi vì chúng ta không nhận biết chút nào, và hiện tượng này rất tinh tế. Tôi nói gần chín tháng bởi vì nó có khác biệt. Cũng còn tuỳ: thời gian giữa thụ thai và sinh sẽ là thời gian này. Nếu bạn được sinh ra sau chín tháng trong bụng mẹ, thế thì chín tháng. Nếu bạn được sinh ra sau khi ở mười tháng trong bụng mẹ, thế thì mười tháng. Nếu bạn được sinh ra sau bẩy tháng trong bụng mẹ, thế thì bẩy tháng. Điều đó là tuỳ vào khối lượng thời gian giữa thụ thai và sinh. Đích xác cùng thời gian này trước cái chết, điều gì đó nảy ra trong hara, trong trung tâm rốn. Nó phải nhoáng lên bởi vì giữa việc thụ thai và sinh có lỗ hổng thời gian chín tháng: chín tháng bạn cần cho việc sinh; đích xác cùng thời gian này sẽ được cần cho việc chết. Như bạn được chuẩn bị chín tháng trong bụng mẹ để sinh ra, bạn sẽ phải chuẩn bị chín tháng để chết. Thế thì vòng tròn sẽ là đầy đủ. Cái gì đó trong trung tâm rốn xảy ra. Những người nhận biết, họ sẽ lập tức biết rằng cái gì đó đã vỡ ra trong trung tâm rốn; bây giờ cái chết đang lại gần hơn. Xấp xỉ chín tháng.
Hay chẳng hạn, có điềm và điềm báo khác. Một người, trước khi người đó chết, đích xác sáu tháng trước khi người đó chết, trở nên ngày càng không có khả năng thấy được chỏm mũi mình bởi vì mắt bắt đầu quay lên, cuộc hành trình trở về, trước cái chết. Điều đó xảy ra: khi đứa con được sinh ra, đứa trẻ mất gần sáu tháng, đó là thông thường - có thể có ngoại lệ - đứa trẻ mất sáu tháng để có mắt được cố định. Bằng không mắt linh động. Đó là lí do tại sao trẻ con có thể đưa cả hai mắt của nó lại gần mũi, có thể đưa chúng ra xa tới khoé mắt rất dễ dàng. Mắt của chúng vẫn còn linh động. Ngày mắt đứa trẻ trở nên bị cố định: nếu ngày đó tới sau sáu tháng hay chín tháng hay mười hay mười hai tháng, thế thì đích xác cùng số đó sẽ là thời gian; mắt sẽ lại bắt đầu trở nên linh động và chuyển lên trên. Đó là lí do tại sao ở Ấn Độ dân làng nói - họ phải đã đi tới biết từ người yogis - rằng trước khi một người chết người đó trở nên không có khả năng nhìn được chỏm mũi của riêng mình.
Và có nhiều phương pháp theo đó người yogis liên tục quan sát chỏm mũi của họ. Họ tập trung vào nó. Những người đã từng tập trung vào nó, đột nhiên một ngày nào đó nhận ra họ không thể thấy được mũi của riêng họ. Bây giờ họ biết cái chết đang tới gần.
Theo sinh lí học yoga có bẩy trung tâm trong con người. Trung tâm thứ nhất, trung tâm dục; và trung tâm cuối cùng là sahasrar, trong đầu; giữa hai trung tâm này có năm trung tâm khác. Bất kì khi nào bạn chết, bạn chết từ một trung tâm đặc biệt. Điều đó chỉ ra sự trưởng thành mà bạn đã làm trong kiếp này. Bình thường, mọi người chết qua trung tâm dục, bởi vì toàn thể cuộc sống mọi người đều sống quanh trung tâm dục, liên tục nghĩ về dục, tưởng tượng về dục, làm mọi thứ về dục - dường như toàn thể cuộc sống được định tâm quanh trung tâm dục. Những người này chết đi qua trung tâm dục. Nếu bạn đã tiến hoá một chút và bạn đã đạt tới yêu, đi ra ngoài dục, thế thì bạn sẽ chết từ trung tâm tim. Nếu bạn đã tiến hoá hoàn toàn, nếu bạn đã trở thành một siddha, bạn sẽ chết từ sahasrar.
Trung tâm bạn sẽ chết từ đó sẽ có một lối mở bởi vì toàn thể sinh lực sẽ được thoát ra từ đó...
Mới vài ngày trước đây, Vipassana chết. Anh của cô ấy Viyogi được yêu cầu đánh vào đầu cô ấy; điều đó đã trở thành biểu tượng ở Ấn Độ. Khi một người chết và được đưa lên dàn hoả thiêu, đầu phải bị đánh vào. Chỉ là biểu tượng, bởi vì nếu người đó đã đạt tới điều tối thượng, thế thì đầu sẽ vỡ ra theo cách riêng của nó; nhưng người này đã không đạt tới. Nhưng chúng ta hi vọng và cầu nguyện, và đập vỡ sọ.
Điểm thoát trở nên mở. Điểm này có thể được thấy. Ngày này hay ngày khác, khi y học phương Tây sẽ trở nên nhận biết về sinh lí yoga, điều này cũng sẽ trở thành một phần của mọi khám nghiệm tử thi - cách người này chết. Ngay bây giờ họ chỉ thấy liệu người này chết một cách tự nhiên hay bị đầu độc hay bị giết hay tự tử - toàn những thứ thông thường. Điều cơ sở nhất họ bỏ lỡ, điều phải có đó trên báo cáo - cách người này chết: từ trung tâm dục, từ trung tâm tim, hay từ sahasrar - từ đâu người đó chết. Và có một khả năng - và người yogis đã làm nhiều công trình về điều đó - nó có thể được thấy trên thân thể bởi vì trung tâm đặc biệt đó vỡ ra và cái gì đó đã đi ra từ nó.
Khi ai đó, người đã đạt tới samyama, trở nên nhận biết, chỉ ba ngày trước khi người đó chết, người đó sẽ đi từ trung tâm nào, gần như bao giờ người đó cũng đi từ sahasrar. Một hoạt động nào đó, một chuyển động, ngay ở đỉnh đầu bắt đầu làm việc ba ngày trước khi người đó chết.
Những chỉ dẫn này có thể chuẩn bị cho bạn cách đón nhận cái chết, và nếu bạn biết cách đón nhận cái chết trong lễ hội lớn lao, trong vui vẻ lớn lao, trong vui mừng - gần như nhảy múa và trong cực lạc - bạn sẽ không được sinh ra lần nữa. Bài học của bạn là đầy đủ. Bạn đã học được bất kì cái gì có đó để được học ở đây trên trái đất này; bây giờ bạn sẵn sàng đi ra ngoài vì sứ mệnh lớn hơn, vì cuộc sống lớn hơn, vì cuộc sống vô giới hạn hơn. Bây giờ bạn sẵn sàng được hấp thu bởi vũ trụ, bởi cái toàn thể. Bạn đã thu được nó.
Một điều nữa về kinh này. Nghiệp kriyaman, nghiệp hàng ngày, chính là phân mảnh rất nhỏ; theo thuật ngữ tâm lí học hiện đại chúng ta có thể gọi nó là "ý thức." Dưới nó là prarabdha; theo thuật ngữ tâm lí học hiện đại chúng ta có thể gọi nó là "tiềm thức." Thậm chí dưới đó là sanchita; theo thuật ngữ tâm lí học hiện đại chúng ta gọi nó là "vô thức."
Bình thường, bạn không nhận biết về hoạt động hàng ngày của bạn, cho nên làm sao bạn có thể nhận biết về prarabdha hay sanchita? Không thể được. Cho nên bắt đầu bằng việc trở nên nhận biết về các hoạt động hàng ngày đi. Bước đi trên đường, tỉnh táo vào. Ăn thức ăn, tỉnh táo vào. Vẫn còn quan sát về điều bạn đang làm. Vẫn còn với hoạt động này. Đừng đi đây đó. Đừng làm mọi điều như kẻ sống dở chết dở. Đừng đi dường như bạn đang trong thôi miên sâu. Bất kì cái gì bạn nói, nói mọi thứ một cách tỉnh táo đầy đủ, để cho bạn không phải ăn năn bao giờ.
Khi tôi nói, "Tôi lấy làm tiếc. Tôi đã nói cái gì đó mà tôi chưa bao giờ muốn nói," điều đó đơn giản chỉ ra bạn đang ngủ, không nhận biết. Khi bạn nói, "Tôi đã làm cái gì đó, tôi không biết tại sao và thế nào. Tôi không biết làm sao nó đã xảy ra. Tôi đã làm nó mặc cho bản thân tôi," thế thì nhớ lấy, bạn đã làm việc khi ngủ. Bạn là người mộng du đi trong khi ngủ.
Làm bản thân bạn ngày một tỉnh táo hơn đi. Điều đó nghĩa là hiện hữu ở đây bây giờ. Ngay bây giờ bạn đang nghe tôi: bạn có thể chỉ là cái tai. Ngay bây giờ bạn đang nhìn tôi: bạn có thể chỉ là đôi mắt, tỉnh táo đầy đủ, thậm chí không một ý nghĩ thoáng qua trong tâm trí bạn, không rối loạn, không mây mù bên trong. Cứ hội tụ vào tôi đi - lắng nghe một cách toàn bộ, nhìn một cách toàn bộ - hiện hữu cùng tôi ở đây bây giờ: đó là bước đầu tiên.
Nếu bạn đạt tới cái đó, bước thứ hai trở thành sẵn có; thế thì bạn có thể đi vào trong tiềm thức. Thế thì khi ai đó xúc phạm bạn, bạn sẽ không trở nên nhận biết chỉ khi bạn trở nên giận. Bạn sẽ trở nên nhận biết lập tức ai đó đã xúc phạm - ở đó, một cơn giận nào đó đã đi vào trong chiều sâu tiềm thức của bản thể bạn, chỉ một con sóng nhỏ, rất tinh tế. Nếu bạn không rất nhạy cảm và nhận biết, bạn sẽ không biết nó - chừng nào nó chưa bùng lên trong ý thức bạn sẽ không biết nó. Dần dần bạn sẽ trở nên nhận biết sắc thái tinh tế, cái bóng tinh vi của xúc động - đó là prarabdha, tiềm thức.
Khi bạn trở nên nhận biết về tiềm thức, một bước nữa sẽ trở thành sẵn có cho bạn. Bạn càng trưởng thành, việc trưởng thành thêm càng trở thành có thể cho bạn. Bạn sẽ có khả năng thấy, bây giờ, bước thứ ba, bước cuối cùng, của việc trở thành nhận biết về sanchita, quá khứ được tích luỹ. Một khi bạn đi vào trong vô thức - điều đó nghĩa là bạn đang đưa ánh sáng của tâm thức vào cốt lõi sâu nhất của bản thể bạn - bạn sẽ trở nên chứng ngộ. Đó là nghĩa của việc trở thành vị phật - không cái gì còn lại trong bóng tối bây giờ. Mọi xó xỉnh ngóc ngách đều được sáng. Thế thì bạn sống, bạn hành động, nhưng bạn không tích luỹ nghiệp nào.
Lời kinh thứ hai:
Bằng việc thực hiện sammyama trên sự thân thiết, hay bất kì thuộc tính nào khác, sức mạnh lớn trong phẩm chất đó được thu lấy.
Đầu tiên người ta phải trở nên nhận biết, và lập tức bước thứ hai là: đem samyama của bạn vào cảm nhận sự thân thiết. Yêu, từ bi. Để tôi kể cho bạn một câu chuyện:
Chuyện xảy ra, một sư Phật giáo lớn, Tamino là tên của ông ấy, kiên nhẫn, làm việc chăm chỉ, và đi vào trạng thái tỏ ngộ - trạng thái của samyama. Và ở đó ông ấy nhận biết về cái không...
Khi bạn thực sự nhận biết, bạn không nhận biết về cái gì cả. Bạn chỉ nhận biết về sự nhận biết. Điều đó nữa nói ra cũng không tốt, bởi vì thế thì nhận biết có vẻ giống như một đối thể. Không, bạn đơn giản nhận biết về cái không - chỉ nhận biết.
... Và ở đó ông ấy nhận biết về cái không, và linh hồn ông ấy giống như cái không. Và trạng thái này ở ngoài ngay cả an bình, và ông ấy đã vui mừng còn lại trong nó mãi mãi...
Nhớ điều đó, khi người ta đạt tới samyama, người ta muốn còn lại mãi mãi trong nó, người ta không muốn đi ra khỏi nó - nhưng đây không phải là chỗ cuối của cuộc hành trình. Đây chỉ là nửa cuộc hành trình. Chừng nào samadhi của bạn chưa trở thành tình yêu, chừng nào bạn chưa đem bất kì cái gì bạn đã tìm ra bên trong bạn cho thế giới rộng lớn hơn, chừng nào bạn chưa chia sẻ samadhi của bạn với người khác, bạn đang chứng minh bản thân bạn là kẻ keo kiệt. Samadhi không phải là mục đích; tình yêu là mục đích. Cho nên bất kì khi nào nó xảy ra cho bạn, bất kì cái gì của bạn, bạn cũng sẽ đi tới điểm mà người ta muốn không đi ra. Nó đẹp thế, nó cực kì phúc lạc thế, sao bận tâm?
... Và giai đoạn này ở bên ngoài ngay cả an bình, và ông ấy chắc đã vui mừng ở lại trong nó mãi mãi. Nhưng khi nó xảy ra, vào hôm đó ông ấy đã đi ra khỏi thiền vào rừng bao quanh tu viện. Và khi ông ấy ngồi đó bên đường, mất hút trong thiền, một lữ khách đi qua, và kẻ trộm nhảy vào lữ khách và đánh bị thương và cướp của ông ấy và bỏ ông ấy cho chết. Ông ấy kêu lên hỏi xin giúp đỡ từ Tamino, nhưng Tamino ngồi đó vô ý thức, không nhìn và nghe gì cả...
Tamino ngồi đó, và người này sắp chết ở đó, và người này đang kêu cầu giúp đỡ; nhưng ông ấy đang ở sâu bên trong bản thân ông ấy tới mức chẳng cái gì đạt tới ông ấy. Ông ấy không thể nghe được. Ông ấy không thể nhìn được - mắt mở đấy, nhưng ông ấy không có đó trong mắt. Ông ấy đã đi tới chính tảng đá đáy của bản thể ông ấy. Chỉ thân thể còn thở, nhưng ông ấy không có đó ở ngoại vi.
Và rồi người đó nằm chảy máu trên đất, và người đó ở đằng kia khi Tamino trở về với thế gian - quay về thân thể ông ấy, quay về giác quan của ông ấy. Tamino ngây người ra nhìn một lúc chẳng hiểu mình thấy gì lẫn chẳng biết mình phải làm gì...
Phải mất chút thời gian để đưa bản thân bạn về lại ngoại vi. Trung tâm khác toàn bộ thế. Bạn đi gần như trong lãnh thổ không biết tuyệt đối. Và khi bạn quay lại thật khó để lại vào hoà hợp với ngoại vi. Điều đó gần giống như những người đã từng lên mặt trăng: khi họ quay về, trong ba tuần họ phải vào trong nhà đặc biệt được chuẩn bị cho họ - để sẵn sàng trở lại di chuyển trên trái đất. Nếu ngay lập tức sau khi quay về từ mặt trăng họ đi về nhà họ, họ sẽ phát rồ hay phát điên; vì mặt trăng khác thế. Sức hút không có mấy ở đó - một phần tám của trái đất. Người ta có thể nhảy mười tám mét, hai mươi mốt mét dễ dàng. Người ta có thể nhảy lên thềm của bất kì ai, không vấn đề gì. Sức hút gần như bằng không. Và trăng trống rỗng thế, người ta sững sờ. Và im lặng mênh mông thế, không ngắt quãng trong cả triệu năm - nặng nề thế - tới mức khi người ta quay về từ mặt trăng, người ta tới dường như sau khi người ta đã chết và lại quay lại trái đất.
Khi con người đầu tiên bước đi trên mặt trăng, người đó không phải là người hữu thần, nhưng đột nhiên người đó quì xuống và bắt đầu cầu nguyện. Điều đầu tiên đã được làm trên mặt trăng là lời cầu nguyện. Điều gì đã xảy ra cho người đó? Im lặng thế, nó sâu sắc thế, và người đó một mình thế, đột nhiên người đó nhớ tới Thượng đế. Trong cô đơn đó, trong sự một mình đó, trong đơn độc đó, người đó quên tất cả về việc người đó đã không tin vào Thượng đế, rằng người đó có tâm trí ngần ngại, rằng người đó là người hoài nghi. Người đó quên tất cả. Người đó lập tức quì xuống và bắt đầu cầu nguyện.
Khi người ta tới từ mặt trăng, người đó phải được làm thích nghi lại với trái đất; nhưng điều này không là gì khi so với lúc bạn đi tới trung tâm của bản thể bạn và quay lại.
... Tamino ngây người ra hồi lâu không hiểu điều mình nhìn thấy cũng không biết mình phải làm gì. Nhưng ngay sau đó, khi khi luồng cuộc sống của ông ấy trong cơ thể bắt đầu lại, ông ấy đi tới người này và băng bó vết thương của người này cẩn thận nhất có thể được. Nhưng máu của người này đã chảy quá lâu. Người này nhìn Tamino và chết - và đôi mắt đó Tamino không thể quên được; và đôi mắt đó ám ảnh ông ấy; và ông ấy bị rối loạn nhiều thế - toàn thể tỏ ngộ bị mất - ông ấy quên tất cả về trung tâm. Ông ấy phân vân.
Và trong đôi mắt người này, trước khi người này chết, Tamino thấy cái nhìn mà ông ấy đã thấy một lần trên chiến trường; và mọi an bình của ông ấy, đạt được một cách đau đớn thế, biến mất khỏi ông ấy. Ông ấy về lại tu viện và đi ra một hòn đảo và trèo lên thềm đá cao nhất, và ngồi xuống ở đó bên cạnh một trong những ảnh của Phật Gautam. Lúc đó là buổi chiều tà, và mặt trời lặn một mình chiếu lên khuôn mặt bằng đá, dường như nó đổ vào cuộc sống.
Tamino nhìn vào trong đôi mắt của khuôn mặt và nói, "Hỡi Phật, chân lí của ngài thật vậy sao?" Và hình ảnh đáp lại, "Thật và giả." "Cái gì là thật trong nó?" Tamino hỏi. "Từ bi và tình yêu." "Và cái gì là giả trong nó?" "Trốn chạy khỏi cuộc sống, trốn thoát." "Tôi phải quay lại cuộc sống sao?" Nhưng ánh sáng đã nhạt nhoà khỏi khuôn mặt và nó trở lại thành đá.
Đó là câu chuyện hay. Vâng, Tamino phải quay lại cuộc sống. Người ta phải quay lại để yêu từ samadhi; do đó, lời kinh của Patanjali ngay sau samadhi, trong đó cái chết được kinh nghiệm: "Bằng việc thực hiện sammyama trên sự thân thiết, hay bất kì thuộc tính nào khác," từ bi, tình yêu, "sức mạnh lớn trong phẩm chất đó được thu lấy."
Các nhà tâm lí học đương đại cũng sẽ đồng ý - tới giới hạn nào đó. Nếu bạn thường xuyên nghĩ về cái gì đó, nó bắt đầu vật chất hoá. Bạn phải đã nghe nói tới cái tên của Emile Coue, hay nếu bạn chưa nghe tới cái tên này bạn phải đã nghe tới khẩu hiệu của ông ấy: Mọi ngày, theo mọi cách, tôi đang ngày càng khoẻ hơn. Ông ấy đã điều trị cho hàng nghìn bệnh nhân - trong những bệnh nặng, những người bị bệnh nặng - và ông ấy đã giúp họ vô cùng. Và đây là thuốc duy nhất của ông ấy. Ông ấy sẽ chỉ nói với họ, "Lặp lại: mọi ngày, theo mọi cách, tôi đang ngày càng khoẻ hơn. Chỉ lặp lại nó, chỉ cảm thấy nó, chỉ bao quanh bản thân bạn bằng ý tưởng này 'Tôi đang khoẻ hơn lên, mạnh khoẻ hơn, hạnh phúc hơn.'" Và hàng nghìn người đã được giúp đỡ, họ thoát ra khỏi bệnh tật của họ. Họ thoát ra khỏi bệnh tinh thần của họ. Họ thoát ra khỏi rắc rối và lo âu của họ. Họ lại phát triển mạnh, họ trở nên sống động lần nữa, và chẳng có gì trong nó cả - chỉ là một câu mật chú nhỏ.
Nhưng điều gì xảy ra: bạn tạo ra thế giới mà bạn sống trong. Bạn tạo ra thân thể mà bạn cũng sống trong; bạn tạo ra tâm trí mà bạn cũng sống trong. Bạn tạo ra bằng ý tưởng của bạn. Bất kì cái gì bạn nghĩ sớm hay muộn đều trở thành thực tại. Mọi ý nghĩ đều trở thành một sự vật chung cuộc, cuối cùng.
Và điều này là vậy với tâm trí bình thường thế, cái cứ thay đổi đối thể mọi khoảnh khắc, cứ nhảy từ đây sang đó; nói gì tới nghĩ về samyama? Khi không có tâm trí và chỉ có ý tưởng về thân thiết nảy sinh, người ta trở thành hoà hợp với nó thế, người ta trở thành nó.
Phật đã nói, "Lần sau ta tới thế giới này, tên của ta sẽ là Maitreya, 'người bạn.'" Nó rất biểu tượng - dù ông ấy có tới hay không, điều đó không phải là vấn đề. Nhưng nó rất biểu tượng. Ông ấy đang nói rằng sau khi trở thành vị phật, người ta phải trở thành người bạn.
Sau khi người ta đạt tới samadhi, người ta phải đạt tới từ bi. Từ bi là tiêu chí liệu samadhi của bạn là thực hay không.
Nhớ lấy, đừng là kẻ keo kiệt; bởi vì thói quen còn dai dẳng. Nếu trong thế giới bên ngoài bạn là kẻ keo kiệt và bạn níu bám lấy mọi thứ, lấy tiền bạc và thế này thế nọ; khi samadhi nảy sinh trong bạn, bạn sẽ bám lấy samadhi. Việc níu bám sẽ tiếp tục - và việc níu bám phải bị vứt bỏ. Do đó, ngay lập tức, sau cái chết, khi bạn bắt đầu cảm thấy sự bất tử, Patanjali nói đem sự thân thiết vào, bây giờ nghĩ tới chia sẻ.
Có hai biển ở Palestine. Một biển đầy nước sạch và sủi tăm. Cây và hoa mọc quanh nó. Cá sống trong nó, và bờ của nó xanh rờn. Nước thuần khiết của biển này, có phẩm chất chữa lành, được mang tới bởi Sông Jordan từ những núi quanh đỉnh Hermon...
Jesus yêu dòng sông này, Jesus yêu biển này. Nhiều phép màu xảy ra quanh chỗ này với ông ấy.
... Thầy yêu biển này, và nhiều khoảnh khắc hạnh phúc hơn của đoàn mục sư của thầy đã được dành ra ở bên cạnh nó. Nó là chỗ chất đầy tới ngày nay với thanh bình và quyền năng.
Sông Jordan chảy xuống miền nam vào một biển khác. Ở đây không có sự sống, không có tiếng chim hót, không có tiếng cười của trẻ con. Không khí mang đầy sát khí và nặng nề trên nước, và không con người, con vật hay chim chóc nào sẽ uống nước. Biển này là chết.
Cái gì làm ra khác biệt lớn lao giữa hai biển này của Palestine - biển này sống thế, cực kì sống động, và biển kia chết thế, chết vô cùng thế?
Đây là khác biệt: Biển Galilee nhận nhưng không giữ nước của Sông Jordan. Với mọi giọt chảy vào trong nó, giọt khác chảy ra khỏi nó. Nó càng cho đi một cách vui vẻ, đáp lại nó càng nhận nhiều hơn. Đây là biển của sự sống - Biển Galilee.
Biển kia tích trữ mọi giọt nước đạt tới nó và đáp lại chẳng cho gì. Biển Galilee cho và sống. Biển kia chẳng cho gì và không sống. Nó được đặt tên đúng là "Chết" - Biển Chết.

Và cùng điều đó là đúng về cuộc sống con người. Bạn có thể trở thành Biển Galilee hay bạn có thể trở thành Biển Chết. Nếu bạn trở thành Biển Galilee, sớm hay muộn bạn sẽ hấp dẫn tâm thức của Jesus tới bạn. Thầy sẽ bước quanh bạn lần nữa. Lần nữa thầy sẽ được thấy cùng đệ tử của thầy ở gần bạn; lần nữa bạn sẽ ở trong một thế giới khác toàn bộ. Bạn sẽ có cái chạm của điều thiêng liêng. Hay bạn có thể trở thành Biển Chết; thế thì cứ nhận và không cho; thế thì cứ tích trữ và không cho. Làm sao nó đã trở thành chết? Người keo kiệt là người chết; người keo kiệt chết mọi ngày. Chia sẻ, bất kì cái gì bạn có, chia sẻ đi, và bạn sẽ nhận được nhiều hơn. Đó là nghĩa của thân thiết.
Và Patanjali nói đem samyama của bạn tới từ bi, tình yêu và thân thiết; và chúng sẽ phát triển. Không phải là bạn sẽ trở nên người thân thiết đâu: bạn sẽ trở thành tình bạn. Không phải là bạn sẽ trở thành người thân mật: bạn sẽ trở thành tình bạn, sự thân thiết. Không phải là bạn sẽ yêu đâu: bạn sẽ trở thành tình yêu, bạn sẽ là chính phẩm chất của yêu.
Lời kinh thứ ba:
Bằng việc thực hiện sammyama trên sức mạnh của voi, sức mạnh của voi được thu lấy.
Bất kì cái gì bạn muốn, bạn đem samyama của bạn vào cho nó và nó sẽ xảy ra - bởi vì bạn là vô hạn. Bất kì hình dạng nào bạn muốn lấy bạn đều có thể lấy sau samyama. Mọi phép màu là có thể; điều đó tuỳ vào bạn. Nếu bạn muốn trở thành mạnh mẽ thế như voi, bạn có thể trở thành. Chỉ bằng việc giữ cho ý tưởng nào như hạt mầm bên trong bạn và mưa rào lên nó bằng samyama, bạn sẽ trở thành cái đó. Bởi vì lời kinh này, nhiều người đã làm nhiều điều sai. Đây là chìa khoá, nhưng nếu bạn muốn trở thành cái gì đó gian tà, bạn có thể trở thành. Bạn có thể dùng sai yoga nhiều như bạn có thể dùng sai khoa học. Khoa học đã làm thoát ra năng lượng nguyên tử. Bây giờ bạn có thể dùng nó bằng việc thả nó xuống các thành phố và giết người. Bạn có thể tạo ra nhiều Hiroshima và Nagasaki - bạn có thể làm cho cả trái đất thành chỗ chết và cháy bỏng, nghĩa địa.
Cùng năng lượng nguyên tử này có thể được dùng một cách sáng tạo. Mọi nghèo nàn tồn tại trên trái đất có thể biến mất trong vòng vài phút. Mọi thức ăn được cần có thể được tạo ra, và mọi xa hoa sẵn có chỉ cho rất ít người có thể trở thành một phần của cuộc sống thông thường của mọi người. Không ai chắn con đường này cả, nhưng bằng cách nào đó con người không có hiểu biết sáng tạo đó. Yoga đã bị dùng sai theo cùng cách.
Mọi tri thức đều đem tới quyền năng, và quyền năng có thể được dùng một cách tích cực hay tiêu cực. Tôi đã nghe một giai thoại:
Một người say lê bước tới một chủ ngân hàng giầu có và hỏi xin năm nghìn cho một cốc cà phê. Là người cực kì hào phóng, ông chủ ngân hàng rút ngay tờ bạc trăm nghìn đồng đưa cho anh ta.
"Đây," ông ta nói, "anh có thể mua cho bản thân anh hai mươi cốc cà phê bằng tiền đó."
Tối hôm sau ông chủ ngân hàng thấy người say lại lê bước tới. "Hôm nay anh khoẻ chứ?" ông ta hỏi một cách vui vẻ.
Kẻ lang thang nhìn ông ta một cách giận dữ. "Sao ông đểu thế không biết," anh ta nói một cách thô lỗ. "Ông và hai mươi cốc cà phê của ông. Chúng làm cho tôi thức suốt đêm qua."
Điều đó là tuỳ. Ân huệ có thể trở thành tai ương. Điều Patanjali đang nói là phép thần thuần trắng; nó là công thức thần kì. Bạn có thể làm nó thành phép quỉ đen ác độc. Thế thì bạn sẽ có tính phá huỷ với người khác - và phá huỷ bản thân bạn. Nhớ điều đó. Đó là lí do tại sao đầu tiên ông ấy nói trở nên thân thiện; thế rồi ông ấy nói về quyền năng.
Những người như Patanjali là thận trọng thế. Họ phải thận trọng bởi vì bạn. Họ quan sát mọi bước của họ. Đầu tiên ông ấy nói cách đạt tới samyama; ngay lập tức ông ấy nói về từ bi và thân thiết; thế rồi ông ấy nói về quyền năng. Bởi vì khi bạn có từ bi thì quyền năng không thể bị dùng sai.
Bằng việc hướng ánh sáng của khả năng siêu hình, tri thức được thu lấy về cái tinh tế, cái ẩn kín, và cái ở xa.
Mọi chiều trở thành sẵn có - "về cái tinh tế, cái ẩn kín, cái ở xa" - một khi bạn biết cách không hiện hữu. Một khi bạn biết cách hiện hữu mà không có bản ngã nào, một khi bạn biết cách là tâm thức thuần khiết không có chủ thể và không đối thể, mọi thứ trở thành có thể. Bạn có thế biết mọi điều. Bằng việc biết cái một, mọi thứ đều được biết.
Bằng việc thực hiện samyama trên mặt trời, tri thức về hệ thống mặt trời được thu lấy.
Lời kinh này có chút ít phức tạp - không trong bản thân nó, mà bởi vì những người bình luận. Mọi người bình luận về bài nói của Patanjali về lời kinh này cứ dường như Patanjali đang nói về mặt trời ngoài kia. Ông ấy không nói về mặt trời đó; ông ấy không thể nói được về điều đó. Ông ấy không phải là nhà chiêm tinh. Ông ấy quan tâm tới con người. Ông ấy quan tâm tới việc ánh xạ tâm thức con người. Và mặt trời không ở bên ngoài.
Theo thuật ngữ yoga con người là một vũ trụ vi mô. Con người theo một cách tinh tế là một tiểu vũ trụ, cô đặc trong một sự tồn tại nhỏ. Sự tồn tại, toàn thể sự tồn tại, không là gì ngoài con người được mở rộng. Đây là thuật ngữ yoga: vũ trụ vi mô và vũ trụ vĩ mô. Bất kì cái gì tồn tại bên ngoài cũng tồn tại đích xác ở bên trong con người.
Cũng như mặt trời, con người có mặt trời bên trong; và giống như mặt trăng, con người có mặt trăng bên trong. Và Patanjali quan tâm tới việc cho bạn toàn thể địa lí của thế giới bên trong, của con người bên trong. Cho nên khi ông ấy nói, "Bhuwan gyanam surya samyamat" - "Bằng việc thực hiện samyama trên mặt trời, tri thức về hệ thống mặt trời được thu lấy," ông ấy không ngụ ý mặt trời ở bên ngoài. Ông ấy ngụ ý mặt trời ở bên trong.
Mặt trời bên trong của bạn ở đâu? Trung tâm của hệ thống mặt trời bên trong của bạn ở đâu? Nó đích xác ẩn sâu trong hệ thống sinh sản. Đó là lí do tại sao dục là nóng; nó là một loại nhiệt. Chúng ta có cách diễn đạt cho con vật: bất kì khi nào con cái sẵn sàng để được mang thai, chúng ta nói nó đang động đực, đang nồng nhiệt. Cụm từ đó chính xác đích thị. Trung tâm dục là mặt trời. Đó là lí do tại sao dục làm cho bạn nóng lên và phát sốt. Khi bạn đi vào hành động dục, bạn trở nên ngày càng nóng hơn và nóng hơn. Bạn chạm và gần như đỉnh sốt; bạn vã mồ hôi, việc thở của bạn bị rối loạn. Và sau nó bạn cảm thấy cạn kiệt. Thế rồi bạn rơi vào giấc ngủ.
Khi dục bị cạn kiệt, ngay lập tức trăng bắt đầu vận hành. Khi mặt trời lặn, mặt trăng lên. Đó là lí do tại sao sau hành động dục bạn lập tức rơi vào giấc ngủ. Vận hành của mặt trời qua đi, vận hành của mặt trăng bắt đầu.
Mặt trời là trung tâm dục. Bằng việc thực hiện samyama trên nó, bạn sẽ có khả năng biết toàn thể hệ thống mặt trời bên trong. Bằng việc thực hiện samyama trên trung tâm dục bạn sẽ trở nên có khả năng đi ra ngoài nó. Bạn sẽ biết mọi bí mật của nó, nhưng điều đó không liên quan gì tới mặt trời bên ngoài.
Nhưng nếu bạn biết mặt trời bên trong, bằng suy ngẫm bạn có thể hiểu mặt trời bên ngoài nữa. Mặt trời này là trung tâm dục của hệ thống mặt trời. Đó là lí do tại sao mọi thứ sống đều cần mặt trời. Cây vươn lên ngày càng cao hơn. Ở châu Phi chúng lên cao hơn bất kì chỗ nào khác bởi vì rừng rậm thế và có nhiều cạnh tranh; bởi vì nếu bạn không vươn lên cao hơn bạn sẽ chết. Bạn sẽ không có khả năng đạt tới mặt trời. Bạn sẽ không sẵn có cho mặt trời và mặt trời sẽ không sẵn có cho bạn. Bạn sẽ không được trút đầy bởi sinh lực.
Mặt trời là cuộc sống, dục là cuộc sống. Mọi sự sống đều nảy sinh từ mặt trời; mọi sự sống đều nảy sinh từ dục. Mọi sự sống.
Cây cố vươn lên cao hơn để cho chúng có thể trở thành sẵn có cho mặt trời và mặt trời trở thành sẵn có cho chúng. Quan sát mà xem. Cùng cây ở phía bên này. Những cây kiểu cây thông này, cùng những cây này ở phía này - chúng vẫn còn nhỏ. Phía này chúng đang đập rộn ràng cao lên. Mặt trời sẵn có nhiều hơn ở phía này; phía kia mặt trời không sẵn có.
Dục là mặt trời bên trong; mặt trời là trung tâm dục của hệ mặt trời. Bằng suy ngẫm bạn sẽ có khả năng hiểu hệ thống mặt trời bên ngoài nữa, nhưng điều cơ bản là hiểu hệ thống mặt trời bên trong. Cho nên tôi sẽ nhấn mạnh vào điều này, nhớ lấy, rằng Patanjali đang ánh xạ vào mảnh đất bên trong. Và tất nhiên nó có thể được bắt đầu chỉ từ mặt trời bởi vì mặt trời là trung tâm. Không phải là đích, mà là trung tâm. Không phải điều tối thượng, mà là trung tâm. Người ta phải vươn lên trên nó, người ta phải đi lên trên nó, nhưng nó là cái bắt đầu. Nó không phải là omega, nhưng nó là alpha.
Một khi Patanjali đã nói cách đạt tới samyama, cách biến đổi thành từ bi, tình yêu, và tình bạn, cách trở nên mạnh mẽ cho từ bi, cho tình yêu, ông ấy đi tới lãnh thổ bên trong, phân loại bên trong: "Bằng việc thực hiện samyama trên mặt trời, tri thức về hệ thống mặt trời được thu lấy."
Toàn thế giới có thể được chia thành hai kiểu người: người mặt trời và người mặt trăng, hay bạn có thể gọi là dương và âm. Mặt trời là nam, mặt trăng là nữ. Mặt trời xông xáo, tích cực; mặt trăng là cảm nhận, thụ động. Bạn có thể chia toàn thể sự tồn tại giữa mặt trời và mặt trăng. Và bạn có thể phân chia thân thể bạn cũng giữa mặt trời và mặt trăng; yoga đã phân chia.
Nó đã phân chia chi tiết tới mức nó đã phân chia ngay cả hơi thở của bạn, việc thở của bạn. Mũi này là hơi thở mặt trời, mũi kia là hơi thở mặt trăng. Nếu bạn trở nên giận bạn sẽ thở từ phía mặt trời. Nếu bạn muốn trở nên im lặng, bạn sẽ thở từ phía mặt trăng. Toàn thân được phân chia: một phía của bạn là nam, phía kia là nữ. Tâm trí được phân chia: phần này của tâm trí là nam, phần kia của tâm trí là nữ.
Và người ta phải đi từ mặt trời hướng tới mặt trăng, và thế rồi ra ngoài cả hai.


0 Đánh giá

Ads Belove Post

Powered by RedCircle