Chương 5. Như ngày lễ hội

Chương 5. Như ngày lễ hội

Price:

Read more

Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 1)
Chương 5. Như ngày lễ hội


Keichu, một vị đại thiền sư nổi tiếng thời Minh Trị, là viện chủ Tofuku, một ngôi chùa lớn tại Kyoto. Một hôm vị Thống Ðốc Kyoto quá bộ đến thăm lần đầu tiên.
Người thị giả mang tấm danh thiếp của ông vào trình thầy, trên có ghi hàng chữ: Kitagaki, Thống Ðốc Kyoto.
"Chúng ta chẳng có công chuyện gì để bàn với ông này," Keichu bảo người thị giả, "Con hãy bảo ông ta về đi."
Người thị giả mang tấm danh thiếp trả lại cùng với lời cáo lỗi. "Ồ. Ðây là lỗi tại ta," vị Thống Ðốc bảo, rồi lấy cây bút chì gạch bỏ hàng chữ "Thống Ðốc Kyoto" trên tấm danh thiếp.
"Bây giờ hãy đem vào trình với thầy ngươi một lần nữa."
"Ồ. Ông Kitagaki đấy hả!" Vị Thiền sư thốt lên khi trông thấy tấm danh thiếp. "Con hãy ra mời vị đạo hữu ấy vào đây."
Ðời sống là một cuộc vui không ngừng tiếp nối, nhưng thiếu vắng con người. Ðời sống là một lễ hội tưng bừng, một liên hoan bất tận, nhưng con người không hề có mặt. Con người từ lâu đã tự tách rời mình ra khỏi khúc hoan ca không ngừng tiếp nối đó. Con người từ lâu đã không còn là một thành phần của cuộc sống này, họ tách biệt, xa lạ như đến từ một hành tinh khác -như là họ đã mất tất cả gốc rễ với cuộc sống này. Họ trở thành một thân cây đang héo rũ, chết khô, không còn sinh khí nữa. Chim chóc đã không còn tụ hội, những đám mây không còn hát ca, và những ngọn gió không còn nhảy múa đùa vui chung quanh nó.
Cái gì đã xảy ra với con người và tại sao như thế? Tại sao họ đang sống trong một địa ngục như thế? Tại sao con người luôn luôn ở trong tình trạng bế tắc như thế? Chắc chắn là phải có cái gì đó sai lầm ngay từ căn bản.
Nhìn dưới khía cạnh phân tích, chẩn đoán của Thiền, vấn nạn này bắt nguồn từ chỗ con người luôn suy tư rồi có một cái nhìn phóng chiếu về mình. Những cái cây không hề phải suy tư -chúng không có cái tôi. Những hòn đá, và bầu trời, trái đất này cũng thế, chúng không hề có cái tôi. Không có cái tôi chúng ta có cơ may sẽ không rơi vào khổ nạn. Cái tôi này chính là cánh cửa mở vào những khổ đau, hệ lụy. Nhà Phật gọi đó là atta, là cái ngã, cái tôi.
Chúng ta luôn khổ đau bởi vì chúng ta đã chất chứa khá nhiều trong cái ngã này. Tôi muốn nói lên điều gì khi cho rằng chúng ta chất chứa khá nhiều trong cái ngã? Và điều gì thực sự xảy ra khi chúng ta chất chứa quá nhiều thứ trong cái ngã đó? Một điều rõ ràng là bạn chỉ có thể sống hoặc ở trong hiện hữu này hoặc ở trong cái ngã -không thể ở trong cả hai. Sống trong cái ngã có nghĩa là tách rời, chia biệt. Sống trong cái ngã có nghĩa là biến mình thành một ốc đảo, là tự vạch lên một lằn ranh biên giới chung quanh mình. Sống trong cái ngã có nghĩa là tạo nên một khoảng cách phân biệt giữa cái "Tôi là thế này" và "Tôi không phải là thế nọ". Cái định nghĩa, cái biên giới giữa "Tôi" và "không phải Tôi" chính là những gì được gọi là bản ngã -một cái tôi hoàn toàn bị đóng khung, cô lập.
Nó làm cho bạn bị đóng băng -như một giòng sông không còn xuôi chảy. Nếu bạn luân lưu, cái ngã không thể nào hiện hữu, tuy nhiên bây giờ con người hầu như đã trở thành những tảng băng lạnh lùng. Họ không hề có một chút hơi ấm, họ không còn biết yêu thương -thương yêu là hơi ấm và họ sợ hãi thương yêu. Bởi vì nếu hơi ấm đến với họ, khối băng giá sẽ bắt đầu tan chảy và những biên giới sẽ biến mất. Trong yêu thương, những biên giới sẽ không còn chỗ đứng; trong niềm vui cũng không có chỗ cho những lằn ranh, bởi vì nỗi vui không bao giờ lạnh giá. Ngoại trừ cái chết, không có cái gì giá lạnh cả.
Nhưng mà cái bản ngã thì lại rất giá lạnh. Bản ngã là cái chết. Những ai đang sống trong cái ngã của họ đều là những xác chết, hay nói một cách khác, họ chưa bao giờ được sinh ra trên cõi thế. Họ đã lỡ mất chuyến tàu đời. Ðể được sinh ra, để được sống cũng có nghĩa là luân lưu, nồng ấm, tan chảy, hoà điệu trong một giòng sống vô thủy vô chung, trong sinh thức chan hòa, không còn biết đâu là biên giới. Bạn là một sinh vật có ý thức, chắc chắn như vậy, nhưng trong đó không hề có sự ý thức về bản ngã. Ý thức tự nó là vô-ngã-thức.
Ý thức có thể làm cho con người hạnh phúc hơn bất kỳ cái gì khác trên thế gian này. Ðây là môt cơ may lớn cho con người. Nhưng đồng thời bên cạnh đó không phải là không có những hiểm nguy tiềm ẩn. Ý thức có thể biến thành ý thức tự ngã trong bất cứ khoảnh khắc nào, và trong giây phút đó, cõi cực lạc bỗng biến thành nơi trần cấu, ở đó bạn chỉ còn lại là một cái thây ma. Bạn giả vờ như là mình đang sống, bạn tin như vậy nhưng thật ra là bạn đang kéo lê cuộc đời mình, thật ra là bạn chỉ đang chờ đợi cái chết đến để giải thoát bạn ra khỏi nơi được gọi là đời sống này.
Lối tiếp cận của Thiền là làm thế nào để bạn trở lại thành môt con người không còn ngã chấp, hoàn toàn vô ngã, làm thế nào để giúp bạn xóa nhoà đi những ranh giới không cần thiết, để bạn không còn phải mãi bám víu vào những rào chắn này, làm thế nào để bạn lại trở thành một con người cởi mở, dễ thương, từ đó dòng sống có thể dễ dàng luân lưu thâm nhập vào nơi tận cùng sâu thẳm nhất trong bạn.
Lão Tử đã từng nói: "Mọi người có vẻ như rất chắc chắn về mình, ngoại trừ ta. Mọi người có vẻ như đã được định vị, ngoại trừ ta. Ta không là ai và cũng chẳng là cái gì cả. Ta không hề biết chắc là ta đang ở đâu, cái gì là ta và không phải là ta. Ta không biết làm thế nào để xác định giữa cái ngã và tha nhân. Ta không biết "ta" và "ngươi" cách biệt ở chỗ nào."
Sự thực là chúng không hề tách biệt. "Ta" chỉ là một chiều phân cực của « ngươi », chúng đều là những rung động của cùng một năng lượng. Cái năng lượng đang lên tiếng nói ở trong tôi cũng chính là cái năng lượng mà bạn đang lắng nghe, nó không hề chia lìa, nó không thể tách biệt. Nó chỉ là một quang phổ, một tần số duy nhất. Cái làn sóng mà tôi đang nói cũng cùng chung với làn sóng mà bạn đang lắng nghe. Cái năng lượng của con người nam trong tôi cũng là cái năng lương của con nguời nữ nơi một người nào đó. Cái chất người trong bạn và cái chất thực vật trong cây cỏ cũng đều có chung một thứ năng lượng. Ðó chính là cái năng lượng đã tạo nên nên đời sống như một nhất thể. Trong những hòn đá và những ngôi sao, trong con người nam và con người nữ, tất cả đều có cùng chung chất liệu. Ðó là một nhất thể.
Ðánh mất tính cách nhất thể này và tự giam giữ mình trong cái vỏ bản ngã sẽ là một khổ nạn cho con người. Ðịa ngục chính là đây chứ không ở đâu xa. Bạn không phải chờ đợi một địa ngục nào khác, bạn đang sống ở trong đó rồi. Bản ngã của bạn chính là một thứ địa ngục. Không còn địa ngục nào khác hơn. Không hề có chín tầng địa ngục nằm sâu trong lòng đất. Nó đã ở đấy rồi, bạn đang ở trong nó và nó đang ở trong bạn. Cái địa ngục ấy có mặt cùng một lúc với cái bản ngã.
Thế nên chúng ta cần phải hiểu thấu đáo về cái hiện tượng của bản ngã. Và khi mà chúng ta hiểu được nó rồi, Thiền trở thành sáng tỏ, trở thành một pháp môn vô cùng giản dị. Một khi bạn hiểu được cái ngã đang phát khởi ở trong bạn, bạn sẽ loại trừ nó một cách dễ dàng. Ðiều hiểu biết cơ bản này sẽ giúp giải phóng bạn ra khỏi cái ngã đang trói buộc. Sự nhận thức tăng trưởng, cái ngã bắt đầu biến mất -chẳng khác gì bạn mang cây đèn vào phòng, ánh sáng sẽ xoá đi bóng tối.
Như vậy, điều đầu tiên là: Khi một đứa trẻ vừa mới sinh ra đời, nó không hề có bản ngã. Nó không hề biết mình là ai. Nó như một tờ giấy trắng. Thế rồi chúng ta bắt đầu viết chữ nghĩa lên đó. Chúng ta bắt đầu bảo cho nó biết rằng nó là con trai hay con gái, là người Hồi giáo hay Ấn giáo, là tốt hay xấu, là thông minh hay ngu độn. Chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng chúng bằng những ý tưởng. Chúng ta bắt đầu gieo vào đầu óc đứa trẻ ý nghĩ nó là ai: xấu hay đẹp, vâng lời hay ngỗ nghịch, dễ thương hay đáng ghét, hữu dụng hay vô dụng -tiếp tục nhồi nhét những ý tưởng như thế. Những ý tưởng này dần dần tích tụ lại trong tâm thức của nó, một số bám rễ sâu vào sinh thức của đúa trẻ, từ đó tấm gương tâm bám đầy bụi băm, ô nhiễm. Từ đó đứa trẻ bắt đầu suy nghĩ theo cung cách mà bạn đã giáo dục chúng.
Và thời gian trôi đi, đứa trẻ hoàn toàn quên mất rằng nó đã đi vào thế giới này trong một trạng thái rỗng không thuần khiết. Nó bắt đầu tin tưởng. Tin một cách triệt để vào bất cứ những gì mà bạn nói với nó. Nó yêu thương bạn. Nó chưa biết thế nào là nghi vấn, hoài nghi. Làm thế nào để nó có thể hoài nghi được? Nó chỉ là một đứa trẻ rất trong trắng, với một ý thức rất trinh nguyên, một tình yêu thương thuần khiết. Thế nên khi người mẹ nói bất cứ điều gì, nó đều tin như thế.
Bây giờ thì các nhà Tâm lý học cho chúng ta biết rằng nếu bạn cứ tiếp tục nhồi nhét vào đầu óc ai đó một điều gì rốt cuộc họ sẽ trở thành cái đó. Bạn sẽ trở thành con người theo trí tưởng của bạn. Hoặc giả, nếu bạn không trở thành như vậy, thì cái ý tưởng đó cũng đã bám rễ chặt chẽ ở trong tâm bạn -đó là tất cả những gì mà ta gọi là điều kiện hoá con người. Khi chúng ta tiếp tục bảo một đứa trẻ rằng nó là một thằng ngu, nó sẽ trở thành một thằng ngu, nó sẽ bắt đầu nghĩ rằng nó chỉ là một tên ngu đần. Không những thế, nó sẽ bắt đầu có thái độ ứng xử như một kẻ ngu. Nó bắt đầu điều chỉnh nhân cách xứng hợp với cái ý tưởng mà người ta gán cho nó. Khi tất cả mọi người đều cho rằng nó là một kẻ ngu thì nó cũng sẽ bắt đầu nghĩ rằng quả là mình ngu thật. Thật quả là điều rất khó khăn để biết rằng bạn là cái gì đó nếu như không có những cái nhìn của người khác về bạn. Không hề có chuyện như vậy. Những hỗ trợ là điều cần thiết.
Mà đứa trẻ thì lại chẳng hề được hỗ trợ. Nó nhìn chung quanh, nó nhìn sâu vào đôi mắt bạn. Ðó là tấm gương soi mà nó trông thấy rõ khuôn mặt của mình ở trong đó cùng với tất cả những gì mà bạn đang nói với nó. Một đứa trẻ có thể trở thành tốt đẹp hay xấu xa, có thể trở thành một vị thánh hay một tên tội phạm. Tất cả đều tùy thuộc vào hoàn cảnh và cách thức mà bạn điều kiện hoá y.
Tuy nhiên cho dù y có trở thành một vị thánh hay một kẻ tội lỗi cũng không thành vấn đề -sự khốn khổ cũng giống nhau thôi. Trở thành người ngu hay kẻ trí cũng thế. Hãy nhớ kỹ điểm này. Ðiều kiện hoá luôn mang đến khổ nạn. Bạn có thể điều kiện hoá y thành một vị thánh và rồi y sẽ là một vị thánh, nhưng mà y vẫn luôn khốn khổ.
Bạn có thể đi tìm và nhìn kỹ một vị thánh của bạn đi rồi bạn sẽ thấy không ai khốn khổ bằng ông ta. Những kẻ tội lỗi đôi lúc còn sung sướng hơn là những ông thánh. Những ông thánh này -làm sao họ có thể cười lớn tiếng được, làm sao họ có thể vui sống được, làm sao họ có thể hát ca nhảy múa được? Làm sao họ có thể sống một cách bình thường, rất người như chúng ta? Họ là những siêu nhân và bị đóng băng trong cái thế giới siêu nhân đó. Cũng chỉ là một loại bản ngã đơn thuần mà thôi.
Thiền là một loại hình tôn giáo khác biệt. Nó mang nhân tính vào tôn giáo. Nó chẳng hề bận tâm đến những gì gọi là siêu nhân, mối quan tâm chính của nó là làm sao biến cuộc sống đời thường thành một ân sũng. Các tôn giáo khác luôn tìm cách tiêu diệt cuộc sống đời thường của bạn, biến bạn thành một con người nào khác rất cá biệt. Ðây cũng chỉ là những hành trình của bản ngã và sẽ chẳng bao giờ mang đến cho bạn hạnh phúc. Chúng đang làm công việc điều kiện hóa bạn, biến bạn thành nhân vật khả kính -bởi vì bạn là người tốt nên xã hội kính trọng bạn, bởi vì bạn là người tốt nên cha mẹ, thầy cô kính trọng bạn -và rồi ngày qua ngày, cái ý tưởng này được nhồi nhét vào tâm bạn, rằng bao lâu mà bạn là người tốt thì mọi người đều kính trọng bạn, bằng ngược lại sẽ không có ai kính trọng bạn cả.
Thế nhưng sự đáng tôn trọng không phải là đời sống mà chỉ là một thứ độc dược. Những người sống thực sự không hề bận tâm đến chuyện được tôn trọng. Họ chỉ sống; và sống một cách chân thực. Họ không có một chút mảy may quan tâm đến chuyện người khác nghĩ như thế nào về mình. Gurdjieff (1) thường bảo môn đồ như thế này, "Chớ nên bận tâm. Hãy nhớ kỹ rằng đừng nên bận tâm đến người khác, bởi vì nếu cứ mãi quan tâm đến họ thì cái ngã sẽ trổi dậy ở trong bạn. Phải nên cắt đứt, bứng rễ tất cả."
Một khi đứa trẻ bắt đầu ổn định là lúc cái ngã bắt đầu thành hình. Cái ngã này là một thành phẩm, một phó sản của xã hội. Nó không hề thực có nhưng bạn tin vào nó, thế thôi. Ðó chỉ là sự tin tưởng, một sự tin tưởng vô cùng nguy hiểm hơn bất cứ chuyện gì khác. Trong thực tế chúng ta không hề có một cái tôi riêng biệt, không thể có chuyện như vậy -bởi vì chúng ta không hề tách rời khỏi đời sống, chúng ta được nối kết cùng nhau trong cùng một vũ trụ. Ðó là ý nghĩa của tiếng 'universe' -nhất trí, toàn thể. Cùng một nhịp, một tiết tấu chứ không phải đa nhịp. Tất cả đều hợp nhất; trong cái chết, cái sống, trong sự ra đời, trong thương yêu, thù hận, tất cả chúng ta đều là một, đều cùng chung một nhịp đập với nhau.
Cái hơi thở mà tôi hít vào từ bạn mà đến. Mới giây phút trước đây, cái hơi thở đó là của bạn, bây giờ là hơi thở của tôi. Trong khoảnh khắc tới đây, nó không còn là của tôi nữa mà là của một người nào đó. Ngay cả hơi thở của bạn, bạn cũng không thể xác quyết rằng, đây là của tôi. Nó luôn chuyển động.
Chúng ta đang sống trong một biển đời. Chúng ta đang sống trong nhau. Cái gì thuộc về bạn cũng có thể thuộc về tôi và ngược lại. Chỉ mới một khoảnh khắc trước đây khi tôi bắt đầu nói chuyện, có một cái gì đó đang ở trong tôi; nhưng bây giờ khi tôi nói ra, nó đã đi vào bạn, nó trở thành của bạn. Nó sẽ trở thành ý thức của bạn, ký ức của bạn, tâm của bạn, thuộc về bạn một cách hoàn toàn. Một khi một ý tưởng đã được nghe, hiểu thì nó đã trở thành của bạn rồi, nó không còn là của tôi nữa. Chúng ta được kết nối cùng nhau.
Cái ngã vì thế chỉ là một thực thể giả tạo được xã hội tạo nên với chủ đích riêng. Nếu bạn hiểu được những chủ đích này bạn có thể tiếp tục đóng trọn vai trò nhưng không hề để cho nó lôi cuốn bạn đi một cách u mê. Cái chủ đích đó là mọi người đều cần một cái căn cước bằng không mọi việc sẽ rối mù lên. Mọi người đều cần một cái tên, mọi người đều cần đến một cái địa chỉ, một cái thẻ căn cước, một cái giấy thông hành, nếu không mọi chuyện sẽ trở nên vô cùng rắc rối. Làm sao để gọi một người? Làm sao để đề cập đến ai đó? Ðây là những lợi ích thực tiễn -chúng quả thật rất cần thiết, nhưng người ta không tin vào chúng lắm. Chúng chỉ là những giả danh.
Chúng ta gọi một cái hoa nào đó là 'hoa hồng'. Dứt khoát đây không phải là cái tên của nó -nó không hề có tên- thế nhưng ta phải gọi như thế nếu không thì khó mà phân biệt được một cái hoa hồng và một cái hoa sen. Và giả dụ như bạn muốn một đóa hoa hồng, rất khó để diễn tả là bạn đang muốn cái gì.
Những cái này chỉ là những vật dụng cần thiết. Vâng, bạn cần một cái tên, bạn cần một cái nhãn hiệu, thế nhưng bạn không phải là cái nhãn hiệu hay cái tên đó. Ðây là một tĩnh giác cần thiết phải được phát khởi ở trong bạn -rằng bạn không hề là danh, cũng không hề là sắc, rằng bạn không phải là người Ân Ðộ giáo cũng không phải là người Cơ Ðốc, không là người Trung Hoa hay là người Ấn Ðộ, rằng bạn không hề thuộc về bất cứ ai, không thuộc về bất cứ giáo phái, hay tổ chức nào, rằng cái toàn thể thuộc về bạn và bạn thuộc về cái toàn thể. Ngoài ra không có gì có thể đúng đắn hơn. Hiểu được như thế, cái bản ngã của bạn ngày sẽ càng trở nên nhạt nhòa đi cho đến một ngày bạn biết được rằng bạn có thể sử dụng được nó mà nó thì không thể sai khiến được bạn.
Một điểm thứ hai cần lưu ý: Bản ngã luôn đi đôi với một vai trò hay nhiệm vụ. Chẳng hạn như người ta gọi một người nào đó là cô thư ký, là ông ủy viên, là người làm vườn hay ông thống đốc. Thế nhưng đây chỉ là những chức phận, chúng cho thấy những công việc mà bạn đang làm; chúng không phải là con người bạn.
Khi một người nào đó hỏi bạn, "Anh là ai?" và bạn trả lời rằng, "Tôi là một kỹ sư", câu trả lời này đã sai lầm ngay từ căn bản. Làm sao bạn là kỹ sư được. Kỹ sư là chỉ công việc mà bạn đang làm, nó đâu phải là bạn? Ðừng nên để mình bị cột chặt quá mức vào chức phận bởi vì như vậy bạn sẽ trở nên bị cầm tù vào đó. Bạn đang làm công việc của một kỹ sư, của một bác sĩ hay của một vị thống đốc không có nghĩa rằng bạn là cái đó. Bạn có thể bỏ công việc kỹ sư và trở thành một người hoạ sĩ, và rồi bạn cũng có thể bỏ công việc của người họa sĩ để trở thành một người lau chùi, quét dọn... không thể nào nói cho hết được.
Khi mới chào đời, một đứa trẻ có cả một chân trời rộng mở, nhưng chân trời này theo với thời gian ngày càng khép lại, đứa trẻ bắt đầu trở nên ổn cố trong một hướng nhất định nào đó. Một đứa trẻ được sinh ra trong một thế giới với nhiều chiều kích thế nhưng không sớm thì muộn nó bắt đầu lựa chọn. Và chúng ta đi giúp nó làm công việc lựa chọn này để nó sẽ trở thành một con người nào đó.
Ngạn ngữ Trung Quốc có nói rằng con người được sinh ra hoàn toàn không có giới hạn nhưng chỉ một số rất ít người người chết trong vô hạn. Con người sinh trong vô hạn nhưng chết trong giới hạn. Khi bạn mới chào đời, bạn chỉ là một sinh thể thuần khiết, nhưng khi bạn chết đi, bạn là một ông bác sĩ, kỹ sư, hay là một vị giáo sư... Bạn trở thành một kẻ thua cuộc trong đời sống. Khi bạn sinh ra, tất cả mọi cánh cửa và biết bao là cơ may mở ra cho bạn -bạn có thể trở thành một giáo sư, một nhà khoa học, một nhà thơ -hàng triệu cơ hội mời chào, mọi cánh cửa đều rộng mở. Thế rồi theo thời gian bạn đi vào ổn định, bạn trở thành một giáo sư -một giáo sư Toán chẳng hạn, bạn trở thành một chuyên gia trong một lãnh vực nào đó. Sự chọn lựa trở thành một cái gì đó ngày càng thu hẹp lại. Và bây giờ bạn chẳng khác gì một con đường hầm nhỏ bé càng lúc càng trở nên thu nhỏ lại. Khi mới sinh ra bạn chẳng khác gì một bầu trời, thế nhưng chẳng bao lâu bạn bắt đầu chui vào một con đường hầm và chẳng bao còn giờ bước ra ngoài được nữa.
Con đường hầm đó chính là bản ngã. Nó được gắn liền với danh phận, chức vụ. Như vậy, thật quả là một điều lăng mạ khi ta nghĩ về một người nào đó đơn thuần như là một anh thư ký quèn. Quả là một điều lăng mạ khi bạn nghĩ về mình cũng chỉ là một anh thư ký quèn như thế, đó là một sự xuống cấp nghiêm trọng. Bởi vì chính bạn là những thượng đế, là những nữ thần, ngoài ra không có gì đúng đắn hơn. Có thể còn cao hơn chứ không thể thấp hơn. Khi tôi gọi bạn là những thượng đế hay nữ thần, ý tôi muốn nói đến cái khả năng, cái tiềm năng vô hạn của bạn.
Có thể là bạn sẽ không gắng sức để biến cái tiềm năng vô hạn đó trở thành hiện thực trên mọi lãnh vực -không ai có thể làm được chuyện đó bởi vì nó bao la rộng lớn vô cùng. Thế nhưng bạn là cả một vũ trụ mà cho dù thời gian trải dài đến vô lượng bạn cũng không thể làm cạn kiệt được cái tiềm năng ẩn chứa trong đó. Ðây chính là ý nghĩa khi tôi nói rằng bạn là thượng đế -bạn là vô biên.
Tuy nhiên một vài điều sẽ trở thành hiện thực. Bạn học một ngôn ngữ, và bạn trở nên người ăn nói lưu loát, bạn trở thành một nhà hùng biện. Bạn có một cảm quan đặc biệt với ngôn từ, và rồi bạn trở thành nhà thơ. Bạn có một thính giác đặc biệt nhạy cảm với âm nhạc, bạn yêu âm nhạc, có năng khiếu về thẩm âm, thế là bạn trở thành một nhạc sĩ. Thế nhưng đây chỉ là những khả năng rất nhỏ bé, hạn hẹp. Ðừng bao giờ nghĩ rằng đạt đến như vậy là hết mức rồi; không có ai được xem là kết thúc với một cái gì đó. Tất cả những gì mà bạn đã làm được chẳng là cái gì cả nếu đem so với khả năng của bạn.
Bản ngã có nghĩa là chấp vào một cái chức vụ nào đó. Một điều chắc chắn là ông thống đốc có một loại ngã chấp riêng -bởi vì ông ta là thống đốc thế nên ông ta cho rằng mình phải hành xử sao cho đạt cái vai trò đó. Một ông thủ tướng cũng có một loại ngã chấp tương tự. Ngoài đời đều như thế cả. Thật là ngu xuẩn và điên rồ hết sức. Ðời sống rất đổi bao la đâu có thể để bị đóng khung như vậy. Không thể như thế được. Bạn càng thể nhập sâu xa vào đời sống chừng nào, những chân trời bao la hơn sẽ càng mở rộng cửa. Vâng, bạn có thể leo lên một đỉnh núi rồi bỗng nhiên một đỉnh núi khác hiện ra -không bao giờ kết thúc. Con người cứ tiếp tục được tái sinh trong từng khoảnh khắc nếu y cứ vẫn mãi là một sinh thể đầy tiềm năng.
Bản ngã xoay quanh chuyện hành xử, tâm thức quan tâm đến chuyện sống. Thiền là sống trọn vẹn trong khi con người cứ mãi loay hoay với chuyện hành xử. Thế nên chúng ta mới phải khốn khổ bởi lẽ cái sinh thể vô cùng rộng lớn của chúng ta lại bi đem đi giam hảm vào những con đường hầm chật hẹp. Ðiều đó tạo nên khổ nạn, ngục tù. Con người hoàn toàn đánh mất tự do và cho dù ở bất cứ nơi đâu bạn cũng đều bắt đầu cảm thấy mình bị buộc ràng, vây bủa, cản lối, ngăn đường. Bạn bắt đầu cảm thấy mình bị hạn chế ở khắp nơi. Nhưng vấn nạn này là hoàn toàn do bạn gây ra, chẳng có ai trách nhiệm về chuyện đó cả.
Khi một người hiểu được rằng họ chỉ hành xử chức năng, họ có thể làm một ngàn lẻ một công việc khác nhau mà không hề bị dính mắc vào chúng. Khi ngồi ở văn phòng làm việc, một người có thể là vị thống đốc, nhưng ngay từ khoảnh khắc bước chân ra khỏi văn phòng, ông ta không còn là vị thống đốc nữa mà trở lại là bầu trời bao la, là một thượng đế. Khi về đến nhà, ông ta hành xử bổn phận của một người cha, ông thương yêu vợ trong vị trí của một người chồng với tâm không hề bị dính mắc. Ông ta phải làm một ngàn lẻ một chuyện như thế mà vẫn ung dung tự tại không bị vướng bận vào chức năng hành xử. Ông ta là một người cha, một người chồng, một người mẹ, một người anh, một đứa con, người thầy giáo, vị thống đốc, ông thủ tướng, tổng thống, anh bồi phòng, ca sĩ,... làm một ngàn lẻ một công việc như thế -thế nhưng y vẫn thong dong không vướng mắc. Y đã thoát ra, đã ở ngoài vòng cương tỏa. Không có gì có thể giam giữ y. Y bay lượn qua những nơi này nhưng không biến chúng trở thành những nhà tù của chính mình. Mà thực ra, càng trải qua nhiều vị trí, y càng trở nên tự do hơn.


Như thế đó. Khi ở trong văn phòng bạn hãy cứ là người thư ký, ủy viên hay thống đốc -không có vấn đề- nhưng một khi bước ra khỏi cửa văn phòng, hãy cởi chiếc áo thống đốc, thư ký hay ủy viên ra. Chức vụ hành xử của bạn nên được chấm dứt tại đây. Mang nó theo làm gì? Không nên bước ra đường như là một vị thống đốc hay không phải là thống đốc. Cái nón thống đốc đó sẽ trở nên nặng nề trên đầu, không làm cho bạn vui sống cách thoải mái. Làm sao vị thống đốc có thể hoà mình, nhảy múa cùng với tiếng hót líu lo của đàn chim trên những cành cây ven đường? Rồi trời mưa xuống và con công có thể xòe đôi cánh múa -làm sao vị thống đốc có thể dừng lại đó đứng ngắm nhìn cùng với đám đông? Khó có thể có chuyện như vậy. Một vị thống đốc đã cứ luôn phải xem mình là thống đốc. Ông ta đi trên con đường của riêng mình, chẳng bao giờ nhìn ngược nhìn xuôi đâu cả, chẳng hề bận tâm đến cỏ cây hôm nay đang khoác lên chiếc áo màu xanh, chẳng hề ngước mắt lên bầu trời để nhìn ngắm trăng sao. Ông ta là thống đốc.
Những cái ngã chấp loại này đang giết chết bạn. Càng chấp vào chúng bao nhiêu bạn càng gần hơn với cái xác chết bấy nhiêu. Ðây là điều mà bạn hãy ghi nhớ. Ðừng bao giờ giam giữ mình vào chức năng mà bạn đang hành xử. Tác hành của bạn chẳng liên hệ gì tới sinh mệnh của bạn. Bao lâu mà chúng ta còn đứng trên bình diện đời sống để nhìn, tác hành của bạn chẳng mang một ý nghĩa nào cả.
Có một số người thỉnh thoảng tìm đến gặp tôi và hỏi, "Nghiệp báo là gì? Kiếp trước là thế nào?" Bởi vì tôi nói rằng bạn có thể đạt thành giác ngộ chỉ trong chớp mắt, thế nên họ mới hỏi, "Thế thì nghiệp báo là cái gì?" Tôi muốn nói với các bạn rằng, nghiệp báo không hề là nơi giam giữ bạn, những tác hành không phải là nơi giam giữ bạn. Nếu bạn cứ mãi bị nhốt vào đây, điều hết sức đơn giản là tại vì bạn muốn như vậy, ngược lại chẳng có nơi đâu là chốn ngục tù. Chẳng khác gì bạn bước ra khỏi cửa văn phòng và liệng bỏ chiếc áo thống đốc, cứ như thế bạn sẽ chẳng bao giờ còn bị dính mắc vào đời sống. Giấc huyễn mộng đã qua đi, dù là cơn mơ ngọt ngào hay ác mộng. Bạn đã thoát ra ngoài.
Ðây là nỗ lực liên tục của một thiền giả. Từng khoảnh khắc đoạn diệt được quá khứ, y liệng bỏ chúng một cách hoàn toàn. Nó không còn hiện hữu ở đó, không còn vướng vất chung quanh, y hoàn toàn tự do. Thế thì đâu còn nghiệp ở đó nữa? Nghiệp không còn cản trở bạn, bạn chỉ dính mắc vào nó mà thôi. Ðây chỉ là một thói quen, một thói quen không hơn không kém, và bạn cứ tiếp tục đeo đuổi mãi không thôi.
Khi không có bà xả ở bên cạnh thì bạn đâu phải là một ông chồng? Bạn là chồng thế nào được nếu như không có vợ? Có phải là chuyện xuẩn động không? Khi không có đứa con ở đó, bạn không thể là một người cha hay một người mẹ. Ðâu có thể như vậy được? Khi bạn không làm thơ thì bạn đâu phải là một nhà thơ? Khi bạn không khiêu vũ thì bạn đâu phải là một vũ công? Chỉ khi nào bạn nhảy múa thì bạn mới được gọi bằng danh hiệu như thế. Trong khoảnh khắc đó con người của bạn rung động cùng với chức năng của một vũ công. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc đó thôi. Khi vũ điệu chấm dứt, sẽ không còn có người múa, và bạn không còn dính mắc vào đó nữa. Bằng cách này ta hoàn toàn thong dong tự tại -thỏng tay vào chợ.
Như vầy tôi nghe.
Một anh diễu của vua thiện nghệ về ngón chơi chữ thường hay châm chọc vua đến độ không còn chịu đựng nổi, vua ra lệnh treo cổ y. Thế nhưng khi những người hành hình dẫn y đến giá treo cổ, nhà vua suy nghĩ lại và thấy rằng khó mà kiếm một anh châm chọc hay như thế nên hối hận, liền sai sứ giả tức tốc mang lệnh ân xá của vua chạy đến pháp trường. Người sứ giả đến nơi vừa kịp lúc khi anh chơi chữ đang đứng dưới giá treo cổ với chiếc thừng quanh cổ, đọc quyết định khoan hồng của nhà vua -với điều kiện là anh ta hứa rằng từ nay trở đi sẽ không còn dở trò chơi chữ nữa. Dĩ nhiên đây là môt cơ hội được thoát chết rất quyến rũ, nhưng rồi người ta thấy anh chơi chữ buột miệng: "Không dây thòng lọng là tin lành" (1). Lập tức anh ta bị treo cổ.
Lại chuyện nghiệp báo tiền thân. Khi tiền kiếp của bạn không còn đó nữa, làm sao nó có thể tiếp tục lẩn quẩn chung quanh bạn? Chẳng qua đây chỉ là một thói quen mà bạn thì lại không chịu từ bỏ nó. Trong kiếp này bạn lại tiếp tục sống với cái thói quen này. Ðến một ngày nào đó bạn từ bỏ nó, lúc đó bạn sẽ hoàn toàn tự do. Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi tất cả quá khứ có thể được hoàn toàn đọan diệt.
Ðây là một trong những thông điệp có ý nghĩa nhất của Thiền: Bạn có thể đạt đến giác ngộ chỉ trong chớp mắt. Ngoại trừ Thiền, tất cả những tôn giáo khác đều rất khốn khổ với cái chuyện giác ngộ này. Họ rất đổi nghèo nàn, họ tính toán như kiểu con buôn. Họ bảo rằng những cuốn sổ sách đời của bạn cần phải được đóng lại, để quyết toán những ác nghiệp cho quân bình với thiện nghiệp, và điều này phải đòi hỏi thời gian, không phải chuyện dễ dàng đâu. Bởi vì bạn đã hiện hữu ở đây ngay từ vô thủy, có thể nói là từ a tăng tỳ kiếp, đã tạo ra trùng trùng duyên nghiệp, bây giờ bạn bảo rằng phải xoá sạch chúng ngay trong kiếp này, đâu có dễ dàng như thế?
Ðấy là chưa kể trong khi bạn đang làm công chuyện dọn dẹp tất cả mọi chuyện của quá khứ, thì đồng thời bạn cũng sẽ tạo ra biết bao nhiêu chuyện khác -và chúng lại trở thành những đầu mối cho vấn nạn của bạn trong tương lai. Chắc chắn là bạn sẽ phải ăn rồi -hay ít ra là sẽ phải thở. Và khi bạn còn đang thở bạn làm chuyện bạo động, và khi bạn còn đang ăn, sẽ vẫn còn chuyện bạo động. Vâng, bạn sẽ có một đời sống, và đời sống thì đầy bạo động. Thế rồi bao nhiêu chuyện lại bắt đầu kết tụ chung quanh bạn. Và cái vòng lẩn quẩn đó cứ tiếp diễn không bao giờ ngưng nghỉ, bạn không thể nào thoát ra khỏi cái vòng quay đó.
Cái điều nghịch lý, nhưng mang tính luận lý của Thiền rất là dễ hiểu. Thiền nói rằng bạn có thể thoát ra khỏi tất cả cái đó ngay trong khoảnh khắc này bởi vì nó chỉ là một phần chấp trước của bạn. Những nghiệp báo không hề dính mắc vào bạn, chính bạn đang chấp trước vào nghiệp báo. Nếu bạn ngưng cái chuyện bám víu này... có nghĩa là mọi chuyện được kết thúc.
Nhưng làm thế nào để ta có thể không còn dính mắc? Không có con đường nào khác hơn là bạn phải bắt đầu sống một cuộc đời thực sự, ngay trong đời sống này. Bạn hãy là một người chồng nhưng không hề là một người chồng. Ðó là ý nghĩa khi tôi nói rằng hành giả phải giống như một nhà nghệ sĩ tài ba. Bạn hãy là một người mẹ nhưng không hề là một người mẹ. Ðừng bao giờ bị dính mắc vào vai trò mà mình đang sống. Vai trò của bạn, bạn phải hoàn tất một cách trọn vẹn nhất, tốt đẹp nhất, dễ thương nhất, bạn hãy vui sống với nó và xem đó như là cả một công trình nghệ thuật. Hãy là một người vợ tuyệt vời, người chồng tuyệt vời, người tình tuyệt vời, nhưng đừng bao giờ trở nên dính mắc với nó. Cái khoảnh khắc mà bạn trở thành là cái đó, bạn bắt đầu bước vào khổ nạn.
Ðừng bao giờ để cho chức vụ chiếm lĩnh con người bạn. Ðừng bao giờ để cho vai trò chiếm lĩnh con người bạn. Hãy sống như một nhà nghệ sĩ lành nghề. Nhà nghệ sĩ có thể đóng không biết bao nhiêu vai trò -y có thể là một người cha, là người mẹ, là kẻ sát nhân, có khi đóng những vai trò rất quan trọng, nhưng cũng có khi chỉ giữ một vị trí thật khiêm nhường, lố bịch. Thế nhưng y đóng tất cả vai trò một cách hoàn hảo, không hề bận tâm đến phần vụ được giao phó. Luôn luôn thiện nghệ, y mang tất cả tâm hồn của mình vào sống với vai trò. Nếu bạn muốn y đóng vai sát nhân, y sẽ là kẻ sát nhân tuyệt hảo nhất trong thế giới này, nếu bạn muốn y là một vị thánh, y sẽ trở thành một con người thánh thiện hoàn toàn. Và y có khả năng thay đổi: trong màn này thì y là vị thánh, nhưng qua màn khác y lại là kẻ sát nhân. Tuy nhiên khả năng hoàn hảo trong diễn xuất của y không hề thay đổi.
Tính cách linh động này cũng nên được xảy ra trong đời sống như thế. Ðời sống chẳng qua là một vở kịch lớn. Vâng, cái sân khấu đời thật vô cùng lớn lao -cả trái đất này đâu có khác gì một cái sân khấu và mọi người quay chung quanh nó như là những diễn viên. Không ai trong chúng ta có thể biết được toàn bộ cái gánh hát này sẽ đi về đâu, sẽ kết thúc như thế nào. Cũng không có ai biết trước tuồng tích, cứ thế mà sáng tạo, cứ thế mà tùy cơ ứng biến trong từng khoảnh khắc.
Trong Thiền cũng có những loại kịch như vậy, được gọi là kịch Noh. Nó không hề có kịch bản sẵn, chỉ có những diễn viên. Khi tấm màn được kéo lên, diễn viên cứ việc tự biên tự diễn. Rồi mọi việc sẽ bắt đầu xảy ra. Chắc chắn là như vậy rồi, khi có con người ở đâu, tất là sẽ có chuyện xảy ra ở đó. Cho dù là họ chỉ ngồi im lặng và ngó nhau. Không cần phải chuẩn bị trước, không cần phải tập dượt trước, một cái gì đó chắc chắn sẽ xảy ra.
Ðời sống cũng giống y như vậy -trong từng khoảnh khắc. Hãy nhảy ra khỏi quá khứ và rồi bất cứ chuyện gì sẽ xảy ra, ta hãy để cho nó xảy ra mà không cần phải ức chế, dồn nén. Sống trọn vẹn với nó và rồi tự do sẽ đến với bạn.
Trước khi nghe kể một câu chuyện, có một vấn đề khác tôi cũng cần lưu ý các bạn. Cái bản ngã hay cái tôi chỉ là một bộ phận mà cứ làm như mình là cả toàn thể -giống như đôi tay của tôi lại cứ tưởng rằng mình là toàn thể xác thân. Mọi chuyện trở nên rắc rối là như thế. Chúng ta chỉ là những bộ phận trong một vũ trụ vô cùng vô tận, thế nhưng chúng ta lại cứ xem mình là cả cái vũ trụ này.
Cái bản ngã chỉ là một loại khùng điên, là tên loạn thần kinh, là hoang tưởng. Cái bản ngã rất là dở hơi; nếu bạn chịu khó lắng nghe nó bạn sẽ nhận ra điều đó. Nó nghĩ rằng bất cứ chuyện gì cũng có thể làm được. Nó nghĩ là nó có thể chinh phục được tất cả, nó nghĩ là nó có thể chinh phục được thiên nhiên, Thượng Ðế. Trong ý nghĩ của nó chỉ có chuyện chinh phục. Trong ý nghĩ của nó chỉ có chuyện xâm lấn. Nó nghĩ rằng mọi chuyện đều có thể xảy ra, mọi chuyện đều có thể làm được. Thế là nó cứ tiếp tục chạy đưổi theo những tham vọng không bao giờ ngưng nghỉ, và tiếp tục ngày càng điên khùng hơn.
Trong truyện cổ Trung Hoa có truyện Hầu Vương (2) nói về một con khỉ. Con khỉ là một trong những biểu hiệu cổ xưa nhất để chỉ cái tâm, cái ngã, cái tôi -Tâm viên ý mã. Con khỉ cũng là một ẩn dụ nói lên sự xuẩn động của bản ngã con người. Ðây là một câu chuyện rất hiếm hoi, chỉ có Thiền gia mới có thể sáng tạo ra một câu chuyện như thế, ngoài ra không một tôn giáo nào có đủ can đảm. Ðối với những tôn giáo khác -những người Cơ Ðốc, những người Ấn giáo, Hồi giáo,...- sẽ xem đây như là một chuyện phạm thánh, phạm thượng với Ðức Phật hay với Thượng Ðế. Thật ra không phải như thế. Thiền gia yêu kính Ðức Phật vô cùng đến độ họ có thể nói chuyện tếu về Ngài. Nó khởi phát từ lòng mến mộ sâu sắc; kính yêu mà không sợ hãi. Thiền gia không thuộc vào loại người kinh-sợ-Thượng-Ðế, hãy nhớ như vậy, họ là những người yêu-mến-Thượng-Ðế. Khi bạn thương yêu ai, bạn cũng có thể nói chuyện cười về người đó. Và họ hiểu rằng, tiếng cười đó không hề làm suy giảm hình ảnh tôn kính của Ðức Phật. Thực ra, tiếng cười của họ, càng làm tăng thêm lòng yêu kính đối với Ngài.
Câu chuyện kiểu này chắc chắn là sẽ bị lên án bởi các tôn giáo khác. Vâng, đúng như vậy, chắc chắn là người Cơ Ðốc không thể nào viết một câu truyện như thế về Jesus. Người Kỳ na giáo không thể viết một câu chuyện như thế về giáo chủ Ni Kiền Tử (Mahavira) của họ và ngay cả người Phật tử Ấn cũng không thể viết một câu chuyện như thế về Ðức Phật. Ðiều này chỉ có thể xảy ra tại Trung Hoa và Nhật Bản, nơi mà tôn giáo đã trưởng thành, chín mùi rực rỡ. Chỉ những nơi đó người ta mới có tinh thần hài hước.
Bây giờ mời bạn lắng nghe câu chuyện.
Con khỉ Tề Thiên tìm đến Ðức Phật. Y cho rằng mình là loại siêu khỉ, không có bất cứ chuyện gì mà y không thể làm được. Y còn ngon lành hơn cả A Lịch Sơn Ðại Ðế. Y tuyên bố, "Cái gì mà không thể làm được? Cái chữ đó không hề có trong cuốn tự điển của tôi. Tôi có thể làm được bất cứ chuyện gì." Y là một con khỉ kiệt xuất -hay ít ra, y tưởng rằng mình như thế.
Ðức Phật Thích Ca liền bảo y: "Ðược rồi, ta sẽ đánh cuộc với ngươi. Nếu ngươi quả thật là một con khỉ thông minh và tài năng xuất chúng như thế, hãy thử nhảy ra khỏi lòng bàn tay phải của ta. Nếu ngươi làm được như thế, ta sẽ bảo Ngọc Hoàng Thượng Ðế về Tây Phương sống chung với ta và nhường lại ngôi báu cho ngươi. Nhưng nếu ngươi thất bại, ngươi phải trở về hạ giới ăn năn sám hối xong một tiểu kiếp hãy trở lại đây gặp ta để nói chuyện."
Con khỉ Tề Thiên nghĩ thầm: "Lão Phật Tổ này không biết có khùng không đây. Ta nhảy cân đẩu vân một cái lên đến một trăm lẻ tám ngàn bộ, trong khi cái bàn tay của lão ta nhiều lắm chỉ tám phân là cùng, làm sao mà không nhảy ra khỏi được?" Nhưng để cho chắc ăn y hỏi:
"Ông có chắc những điều ông nói không?"
Phật Thích Ca trả lời: "Không lẽ ta nói láo với ngươi?"
Xong, Ðức Phật xòe bàn tay phải ra, không lớn hơn một chiếc lá sen. Con khỉ Tề Thiên liền nhét thiết bảng vào lỗ tai, rán sức bình sinh dùng thần thông nhảy tót lên trời. Y nhảy quá lẹ đến độ không ai còn trông thấy bóng dáng y, ngoại trừ Ðức Phật với tuệ nhãn của Ngài là không bỏ sót một hành động nhỏ nào.
Con khỉ Tề Thiên nhảy đến một nơi mà y nghĩ là cao lắm rồi, không còn tăm dạng trời đất gì nữa, chỉ còn năm cột trụ màu hồng ngất ngưỡng giữa hư không. "Ðây chắc là tận cùng thế giới rồi," con khỉ Tề Thiên nghĩ thầm như vậy. "Bây giờ ta chỉ việc trở về nhận giải thưởng chiếc ngai vàng mà lão Phật Tổ đã hứa thôi."
"Nhưng mà khoan đã, để đề phòng lão Phật Tổ trở mặt, ta phải ghi lại một cái gì làm bằng chứng." Thế là con khỉ Tề Thiên chọn cái gốc cột trung tâm viết vào đó hàng chữ: "Tề Thiên Ðại Thánh đã đến nơi nầy." Và để tỏ dấu khinh thị, y liền đái vào gốc cột thứ nhất trước khi nhảy về chỗ cũ để gặp Phật.
Ðứng trên bàn tay Phật, Tề Thiên tuyên bố, "Ta đã nhảy ra khỏi bàn tay ông rồi đó và bây giờ trở về đây. Ông hãy đi bảo Ngọc Hoàng Thượng Ðế nhường lại cõi thiên giới này cho ta."
Phật Thích Ca mĩm cười, "Này con khỉ hôi hám kia, ngươi ở trong lòng bàn tay ta tự nãy giờ, đâu có nhảy đi đâu mà nói vậy?"
Tề Thiên cãi: "Ông lầm rồi! Ta đã nhảy tới cuối trời lận. Ở đó ta còn thấy năm cột trụ chống trời ngất ngưỡng giữa hư không cơ mà. Ta sẽ dẫn ông đến đó để chỉ cho ông thấy."
"Thôi không cần phải đi đâu cả," Ðức Phật bảo, "Hãy nhìn xuống bàn tay ta."
Con khỉ Tề Thiên mở to mắt nhìn xuống lòng bàn tay Phật, và ngay cuối lóng tay của ngón giữa, y thấy hàng chữ: Tề Thiên Ðại Thánh đã đến nơi này. Và từ khoảng cách giữa ngón cái và ngón trỏ của Ðức Phật, bay ra mùi khai nồng của nước đái khỉ!
Con khỉ như đã nói là một ẩn dụ về cái ngã. Cái bản ngã nghĩ là nó có thể làm được bất cứ điều gì. Nó cứ sống trong ảo tưởng sai lầm như thế. Phần tử mang ảo tưởng rằng mình là toàn thể. Cái bản ngã bất toàn lại cho mình là đấng toàn năng. Cái bản ngã, vốn không hề hiện hữu, nhưng lại cứ nghĩ rằng mình là trung tâm của mọi hiện hữu. Khổ nạn được bắt nguồn từ đó.
Chúng ta cứ vẫn phải nỗ lực không ngừng và vẫn luôn thất bại vì tiền đề đã sai lầm ngay từ căn bản. Con người tiếp tục để vươn đến thành công nhưng họ chẳng bao giờ thành công. Tất cả mọi thành công đều mang đến những bực dọc. Chúng ta đã đổ ra không biết bao nhiêu tiền bạc, và công của, khoa học ngày càng tiến bộ không ngừng, thế nhưng những nỗi khổ đau vẫn không ngừng tăng trưởng.
Những khổ đau của hôm nay còn lớn hơn bất cứ lúc nào hết; mà đúng lý ra nó không thể như thế. Thế kỷ mà chúng ta đang sống hôm nay là thế kỷ của khoa học phát triển. Con người chưa bao giờ sống một cách tiện nghi như thế với bao nhiêu kỹ thuật tân tiến để khám phá thiên nhiên -nhưng đồng thời cũng chưa bao giờ con người lại khốn khổ như thế. Có một cái gì đó đã sai lầm? Cái giả định tiên khởi đã sai lầm ngay từ căn bản.
Trong vô ngã, mọi chuyện đều khả hữu; khi có ngã dính vào, mọi chuyện sẽ chẳng bao giờ thành tựu. Nếu bạn muốn chinh phục thế giới, bạn sẽ bị đánh bại. Nhưng nếu bạn không muốn chinh phục, bạn sẽ trở thành nhà chinh phục. Buông bỏ trước đời sống tức là chiến thắng. Ý chí không hề dẫn bạn đến thiên đàng, chỉ có sự buông bỏ.
Hãy ghi nhớ những điều này và bây giờ chúng ta đi vào ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn.
Keichu, một vị đại thiền sư nổi tiếng thời Minh Trị, là viện chủ Tofuku, một ngôi chùa lớn tại Kyoto. Một hôm vị Thống Ðốc Kyoto quá bộ đến thăm lần đầu tiên.
Người thị giả mang tấm danh thiếp của ông vào trình thầy, trên có ghi hàng chữ: Kitagaki, Thống Ðốc Kyoto.
"Chúng ta chẳng có công chuyện gì để bàn với ông này," Keichu bảo người thị giả, "Con hãy bảo ông ta về đi."
Người thị giả mang tấm danh thiếp trả lại cùng với lời cáo lỗi. "Ồ. Ðây là lỗi tại ta," vị Thống Ðốc bảo, rồi lấy cây bút chì gạch bỏ hàng chữ "Thống Ðốc Kyoto" trên tấm danh thiếp.
"Bây giờ hãy đem vào trình với thầy ngươi một lần nữa."
"Ồ. Ông Kitagaki đấy hả!" Vị Thiền sư thốt lên khi trông thấy tấm danh thiếp. "Con hãy ra mời vị đạo hữu ấy vào đây."
Cái gì đã xảy ra? Ðây là một câu chuyện đơn giản nhưng lai mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc.
Cái ông thống đốc này đi thăm viếng một vị thiền sư. Ông ta viết tên của mình, Kitagaki, nhưng mà ông ta cũng không thể quên được rằng mình là thống đốc của Kyoto. Khi bạn đến thăm viếng một vị Thiền sư bạn nên quên đi những chuyện như vậy, nếu không bạn sẽ chẳng được lợi ích gì. Bạn có thể mang cái thân xác của bạn đến, nhưng tinh thần bạn thì xa cách muôn trùng. Giữa cái khoảng cách muôn trùng đó là ông thống đốc, là chức phận của bạn.
Làm thế nào mà một ông thống đốc đến với một vị Thiền sư được? Một người nam, một người nữ, có thể, nhưng thống đốc thì không. Cái "thống đốc" chỉ là một chức vụ. Bạn có thể mang đến cái tâm thức nhưng cái bản ngã thì không.
Trông thấy tấm danh thiếp, vị Thiền sư bảo, "Chúng ta chẳng có công chuyện gì để bàn với ông này." Rõ ràng cái ông Thống đốc này những nguyên tắc sơ đẳng ABC còn chưa biết thế thì ông ta đến thăm vị Thiền sư để làm gì? Bạn chỉ đến với vị Thiền sư trong một cung cách vô cùng khiêm nhường, bỏi vì chỉ trong khiêm nhường bạn mới có thể học hỏi được. Bạn tìm đến một vị Thầy là để học chứ đâu có phải là để chứng tỏ cho thấy rằng bạn là ai. Bạn đến đó để buông bỏ chứ không phải đến để hành xử chức vụ của bạn, để điều khiển, ra uy với người khác. Thế nên bạn phải vô cùng khiêm tốn. Sự tìm đến của bạn mang ý nghĩa như vậy. Còn như bạn đến với vị Thiền sư mang theo một số ý nghĩ sẵn có trong đầu -bạn là thế này, bạn là thế nọ- tức là bạn chẳng bao giờ đến cả.
Thế nhưng chúng ta vẫn luôn mang theo mình cái chức vụ như là một chiếc mặt nạ. Còn khuôn mặt thật của mình thì luôn luôn được dấu kín. Nếu bạn là người thừa tiền lắm bạc, nó cũng hiện rõ ra trên khuôn mặt, khuôn mặt thực của bạn không hề hiện ra. Nếu bạn thăm viếng chỉ vì mục đích chính trị, những ý đồ chính trị cũng không thể che dấu.
Một vị Thiền sư không phải là một người thầy bình thường ở trong đạo. Ông ta không phải là giáo sĩ, giáo hoàng hay là một shankaracharya. Ông ta không tin vào một hệ thống đẳng cấp trong tôn giáo. Ông ta muốn đến với bạn một cách trực tiếp và cũng muốn bạn đến với ông ta như thế, không hề bị bất cứ một chướng ngại nào đứng ở giữa ngăn cản.
Thế nhưng cái "thống đốc" này sẽ là một vật cản. Chính vì cái "thống đốc" này mà vị Thầy đã không thể đi sâu vào Kitagaki và Kitagaki cũng không thể lãnh hội được ý tưởng của vị Thầy. Cái "thống đốc" này đã không cho phép có một sự truyền đạt cảm thông, nó sẽ là một bức trường thành ở ngay chính giữa. Thông thường, khi bạn là thống đốc bạn rất khó mà thư giãn. Bạn sẽ rất căng. Khi bạn là thống đốc, bạn có sẵn sàng để lắng nghe đâu, bạn chị sẵn sàng để ra lệnh. Khi bạn là thống đốc, bạn không thể nào chịu hạ mình xuống, buông bỏ. Ngược lại, bạn còn muốn ông Thầy phải khuất phục bạn.
Thế nên vị Thiền sư đã hoàn toàn đúng khi bảo rằng, "Chúng ta chẳng có công chuyện gì để bàn với ông này. Con hãy bảo ông ta về đi." Thoạt nhìn hành động này có vẻ rất lỗ mãng. Nhưng thật ra không phải vậy. Nó toát ra tinh thần đại từ bi. Nó có vẻ lỗ mãng là bởi vì chúng ta có thói quen xem trọng hình thức lễ nghi. Thế nhưng vị Thiền sư là người đã không còn ở trong cái thế giới ưa chuộng hình thức của bạn, bởi vậy ông ta mới được gọi là vị Thiền sư. Ông là người đã buông bỏ hoàn toàn. Ông ta giống như một kẻ nổi loạn. Ông ta chẳng hề bận tâm đến những lễ nghi đời thường, bởi vì còn nghi lễ là còn dối trá, còn nghi lễ là còn bản ngã. Bản ngã được trợ thủ đắc lực bởi tất cả mọi hình thái lễ nghi.
Vị Thiền sư thoạt tiên đã làm cho ông thống đốc hỏng chân. Ông ta đã giật đi tất cả mọi cái nạng chống. Ông ta cho biết là không muốn gặp một con người như thế. Bề ngoài thì trông có vể rất thô lỗ, mất lịch sự nhưng nếu nhìn kỹ hành động này ta mới thấy được tấm lòng từ bi của vị thiền sư. Bởi vì nếu cư xử theo cung cách đời thường, ông ta có thể bảo, "OK. Mời ông ta vào đây", và rồi sẽ tiếp chuyện, sẽ kết thúc một cách rất bình thường -có gì để phải bận tâm? Thế nhưng vị Thiền sư thực lòng muốn ông thống đốc đến với mình, nhưng không phải đến trong tư cách của một vị thống đốc. Cái vỏ thống đốc phải được lột bỏ ra ở ngoài cửa. Cái tâm thức của con người cũ phải được để lại ở ngoài chùa. Ông ta phải rủ bỏ hoàn toàn cái chức vụ đang mang. Ông ta phải bước vào cửa chùa như một đứa trẻ thơ, không hề có một ý tưởng rằng mình là ai. Như vậy thì mọi chuyện mới có thể bắt đầu. Như vậy thì tia lửa từ vị Thiền sư mới có thể làm bật cháy lên ngọn lửa tiềm ẩn lâu đời trong tâm kẻ cầu đạo.
Tất cả đều phát khởi từ lòng từ bi. Hãy nhớ như thế. Bởi do lòng đại từ bi, đôi khi những vị Thầy có vẻ như rất thô lổ, nếu không nói là độc ác -các vị Thiền sư thì lại còn hơn thế nữa.
Xưa có một chính khách lớn, một ông quan tể tướng, Quản Tử, đến thăm một vị Thiền sư, và hỏi: "Bạch Thầy, Thầy có thể làm ơn giải thích cho tôi như thế nào thì gọi là bản ngã?"
Vị Thiền sư xanh mặt lên và với một thái độ cực kỳ kiêu căng ngạo mạn, đã khinh thị quát bảo vị Tể tướng: "Này, ông hỏi cái gì vậy, hởi tên đần?"
Bất ngờ trước thái độ cư xử phi lý và lổ mãng này, mặt mày vị Tể tướng bắt đầu đỏ lên vì tức giận.
Bấy giờ vị Thiền sư mới mĩm cười: "Thưa Ngài, cái đó gọi là bản ngã."
Những vị Thiền sư thường rất là thực tế, rất là thực dụng, là rất mực đời thường. Họ tin vào sự trực nhận mà không tin vào những giảng thuyết. Họ gỏ bạn thật mạnh để đánh thức bạn ra khỏi cơn mê.
Nếu ông Tể tướng này tìm đến gặp một người nào khác -một ông thánh Ấn Ðộ giáo hay Kỳ Na giáo chẳng hạn- chắc chắn là ông ta sẽ được nghe một bài thuyết giảng khá dài dòng. Họ sẽ giải thích cho ông ta đủ mọi lý thuyết, triết lý đằng sau cái bản ngã. Họ sẽ chẻ sợi tóc ra làm tư. Thế nhưng vị Thiền sư này không làm như thế, ông ta chỉ đơn giản gỏ bạn một đòn chí tử. Thay vì đi lòng vòng vào lý thuyết, ông ta đi thẳng vào sự kiện. Ông ta tạo nên tình huống làm cho vị Tể tướng phải tức giận. Bỗng dưng, chuyện bản ngã không còn là chuyện lý thuyết viễn vông nữa, nó trở nên một thực tế, một sự kiện vô cùng gần gũi có thể nắm bắt được. Cái bản ngã đã phô bày ra, một làn khói đã tỏa lên chung quanh tâm thức của vị Tể tướng. Lúc bấy giờ vi Thiền sư mới cười bảo: "Thưa Ngài, cái bản ngã là đấy." Ông ta đã tạo ra nó và bây giờ thì ông ta có thể chỉ ngay vào đó.
Vâng, câu trả lời có vẻ rất là thô lỗ đối với con người tội nghiệp này -ông ta có hỏi cái gì phi lý đâu, chỉ là một câu hỏi hoàn toàn có tính cách tìm hiểu về tôn giáo, "Bản ngã là cái gì? Thế nào là chủ nghĩa vị kỷ?" Rồi câu trả lời, ""Này, ông hỏi cái gì vậy, hởi tên đần?" Câu nói của vị Thiền sư này cũng chẳng có vẻ mang chất Thiền chút nào cả, bởi vì người ta thường hay thấy những vị Thiền sư có khi đánh bạn, có khi la lên, nhảy xổ lên người bạn, quẳng bạn ra khỏi cửa để tạo nên một tình huống mà những vấn nạn trở thành thực tế sống động khiến bạn trực tiếp lãnh hội được.
Thiền là trực tiếp. Nó không cần những chiếc cầu gián tiếp, trung gian.
Người thị giả mang tấm danh thiếp trả lại cùng với lời cáo lỗi. "Ồ. Ðây là lỗi tại ta," vị Thống Ðốc bảo, rồi lấy cây bút chì gạch bỏ hàng chữ "Thống Ðốc Kyoto" trên tấm danh thiếp.
"Bây giờ hãy đem vào trình với thầy ngươi một lần nữa."
Ông ta phải là một người rất mực thông minh bởi vì những ông thống đốc bình thường không thể nào có cung cách cư xử như vậy. Một ông thống đốc bình thường sẽ vô cùng giận dữ, sẽ trả đủa ngay. Tuy nhiên ông này là người rất hiểu chuyện. Ông ta chắc chắn thuộc loại người thông minh hiếm có, một người có nhận thức sâu sắc chứ không phải là kẻ ngu đần. Ông ta hiểu vấn đề. Ông ta có thể nhìn thấy được cái gúc mắc. Ông ta có thể thấy được cái tâm từ bi của vị Thiền sư, cái ẩn ý, cái thông điệp trong đó. Cái ẩn ý cực kỳ vi tế mà nếu không phải là người rất mực thông minh, có thể ông ta đã để lỡ mất cơ hội.
Chuyện như vậy thường hay xảy ra. Rất nhiều người đã lỡ mất cơ hội vì những điều ẩn dụ thường rất vi tế. Chân lý thường vi tế như vậy. Chỉ có những người như vị thống đốc này mới có thể đọc được cái tâm từ bi của vị Thiền sư. Thế nên ông ta đã không giận dữ, ông ta đã không cảm thấy bị thương tổn. Ông ta chắc chắn là phải hiểu được lý do tại sao vị Thiền sư lại bảo, "Chúng ta chẳng có công chuyện gì để bàn với ông này." Chuyện thật quá rõ ràng. Nếu bạn sống trong tĩnh thức, mọi chuyện đều rất sáng tỏ, còn nếu không, mọi chuyện đều tối mù. Nếu bạn không tĩnh thức, mối giận dữ trong lòng bạn, phản ứng của bạn sẽ càng làm cho câu chuyện rối nùi thêm.
"Ồ. Ðây là lỗi tại ta," vị Thống Ðốc bảo, rồi lấy cây bút chì gạch bỏ hàng chữ "Thống Ðốc Kyoto" trên tấm danh thiếp.
"Bây giờ hãy đem vào trình với thầy ngươi một lần nữa."
"Ồ. Ông Kitagaki đấy hả!" Vị Thiền sư thốt lên khi trông thấy tấm danh thiếp. "Con hãy ra mời vị đạo hữu ấy vào đây."
Thế là mọi chuyện đều hoàn toàn thay đổi -chỉ với việc gạch bỏ hàng chữ: "Thống Ðốc Kyoto". Câu hỏi đặt ra là chỉ một sự thay đổi nhỏ có thể mang đến một thay đổi lớn lao? Vâng, đúng thế, đời sống bao gồm những chuyện rất nhỏ nhặt. Cái bản ngã cũng chỉ là chuyện nhỏ thôi, chẳng lớn lao gì. Thế nhưng khi bạn đang bị nó hành hạ, nó lại có vẻ rất lớn. Nếu bạn đủ thông minh để liệng bỏ nó, thì nó lại chẳng đáng gì -chỉ giống như một hạt bụi nhỏ. Tuy nhiên hãy coi chừng cái hạt bụi nhỏ này, nếu nó rớt vào mắt bạn thì cũng chẳng khác gì cả dãy Hy Mã Lạp Sơn rơi vào mắt bạn. Bạn sẽ thấy chung quanh tối sầm lại và rồi bạn trở nên như người mù, đôi mắt xốn xang khó chịu. Thế nhưng khi bạn lấy cái hạt bụi ra rồi và để trên lòng bàn tay, bạn sẽ thấy là nó nhỏ bé biết chừng nào -giống như cái bản ngã vậy. Khi bạn bắt đầu thấy rõ nó rồi, nó chẳng có gì là vĩ đại cả. Và đời sống của chúng ta bao gồm những thay đổi nhỏ như thế. Từng đổi thay nhỏ sẽ đi đến một sự chuyển đổi, và rồi những thay đổi của toàn bộ cơ cấu.
Bạn cần phải hiểu được những gì đang xảy ra trong tâm thức của vị thống đốc. Bạn chỉ mới thấy cái chuyện xảy ra bên ngoài - ông ta lấy cây bút chì gạch bỏ hàng chữ "Thống Ðốc Kyoto" trên tấm danh thiếp. Thế nhưng những gì đã xảy ra ở bên trong? Ông ta cũng đang xóa bỏ một cái gì đó. Ðây mới là điều quan trọng, thực sự quan trọng hơn cả. Ông ta xóa bỏ cái chức vụ của mình, ông ta xóa bỏ cái vai trò của mình, ông ta xoá bỏ cái bản sắc căn cước của mình. Ông ta đã trở thành một tờ giấy trắng. Ông ta đã xoá bỏ cái ý tưởng cho rằng mình đang là ai đó. Ông ta đã quên đi tất cả những gì đã học. Trong khoảnh khắc đó ông ta đã hoàn toàn buông bỏ tất cả. Khi ông ta không còn biết mình là ai nữa thì đâu cần phải giả vờ làm gì? Vâng, chức vụ ông ta là thống đốc -không có gì trở ngại- nhưng điều này thì đâu có dính dấp gì đến một vị Thiền sư và tại sao vị Thiền sư phải bận tâm đến chuyện bạn có phải là ông thống đốc hay không? Chỉ một thay đổi nhỏ từ trong nội tâm là cũng có thể làm thay đổi cả toàn thế giới.
Não bộ của con người được chia làm hai khu vực, hai bán cầu. Bây giờ thì những công trình nghiên cứu khoa học đã cho chúng ta biết khá nhiều dữ kiện liên quan đến não bộ con người. Khu vực bên phải, tức là bán cầu não phải có chức năng hoàn toàn khác biệt với bán cầu não trái. Cả hai được nối với nhau bằng một chiếc cầu nhỏ và từ đây mà những khác biệt được chuyển đổi. Chức năng của bán cầu não trái chủ về lý trí -đây là văn xuôi, là luận lý, là bành trướng, là khát vọng, là bản ngã, là đàn ông, là dương tính, là rất mực bạo động. Ðây cũng là bán cầu của toán học, của hành động, phân tích, phối hợp, nam tính, thời gian, công việc -tất cả những gì đại loại như thế.
Hai khu vực của não bộ được nối kết nhau bằng một chiếc cầu rất mỏng manh, và những chức năng cứ liên tục được chuyển đổi từ trái qua phải và ngược lại. Ðó là lý do tại sao có sự thay đổi trong chức năng hô hấp. Có lúc bạn đang thở bằng lỗ mũi trái thế rồi có sự thay đổi và bạn thở bằng lỗ mũi phải. Khi bạn thở bằng lỗ mũi phải, chính là lúc bán cầu não trái của bạn đang làm việc. Chúng được nối kết tréo nhau. Cũng vậy, khi bạn thở bằng lỗ mũi trái, chính là lúc bán cầu não phải hoạt động.
Bàn tay trái của bạn được nối với bán cầu não phải, bàn tay phải thì nối với bán cầu não trái. Ðó là lý do tại sao khi thấy trẻ con viết bằng tay trái, chúng ta bắt buộc chúng phải viết bằng tay phải. Hình như chúng ta cho rằng dùng tay phải là đúng còn dùng tay trái là sai. Tại sao như thế? Bởi vì một đứa trẻ viết bằng tay trái sẽ không bao giờ thuộc loại người mà xã hội này mong muốn. Y sẽ là loại người lãng mạn, giàu tưởng tượng. Y sống với những giấc mộng lớn. Y có thể trở thành một nhà họa sĩ, vũ công, ca sĩ, nhạc sĩ, nhưng sẽ không bao giờ là những nhà toán học, kỹ sư, khoa học gia lành nghề. Y sẽ không bao giờ là một vị danh tướng, một kẻ sát nhân, một chính khách -không bao giờ.
Bởi lẽ đó, những người thuận tay trái chẳng khác gì là thành phần nguy hiểm. Xã hội cần những người thuận tay phải. Lịch sử được làm nên bởi những người thuận tay phải. Người thuận tay trái phải được sửa đổi bởi nếu bạn sử dụng tay trái, cái phần tưởng tượng, cái phần nữ tính, cái con người không vị kỷ của bạn sẽ phát triển. Bạn sẽ trở nên yếu mềm, cởi mở hơn. Bạn sẽ trở thành một con người nhạy cảm. Thế nên chúng ta buộc trẻ con phải thay đổi.
Nhưng rồi không sớm thì muộn, sẽ có một cuộc nổi loạn của người thuận tay trái chống lại người thuận tay phải. Họ bắt buộc phải nổi dậy. Thực ra, có khoảng năm mươi phần trăm những người thuận tay trái -đó là sự cân đối. Bây giờ chúng ta buộc họ phải thay đổi. Trong số năm mươi phần trăm này, bốn mươi phần trăm có thể miễn cưỡng trở thành những người thuận tay phải. Nhưng mười phần trăm sẽ khăng khăng chống lại. Nhưng họ kháng cự trong sợ hãi, trong khắc khoải lo lắng. Có một cái gì đó đang sai lầm. Ðây không phải là vấn đề của những cái tay, đây là vấn đề của não bộ.
Những nhà ngôn ngữ học bây giờ bắt đầu nhận ra rằng trong thế giới này có hai loại ngôn ngữ. Một số ít ngôn ngữ thuộc chức năng của bán cầu não trái -cụ thể như Anh ngữ. Ðây là loại ngôn ngữ của khoa học, có tính lý trí. Loại ngôn ngữ thứ hai, Hopis, được xuất phát từ bán cầu não phải. Ðây là loại ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt, giàu hình ảnh, ít khoa học, thơ mộng hơn, màu sắc hơn, và sống động hơn. Hopis không hề là một loại ngôn ngữ Toán học.
Chúng ta đã bị buộc phải lệ thuôc ngày càng nhiều hơn vào bán cầu não trái và quên dần đi bán cầu não phải. Cái thế giới của bán cầu bên phải này đang bị chúng ta lãng quên dần.
Thế nhưng khi bạn liệng bỏ cái bản ngã của mình đi, sự đổi thay sẽ xảy ra ngay trong con người bạn, đó là lý do tại sao tất cả những vị đại Thiền sư luôn nhấn mạnh đến sự buông bỏ. Ðây không phải là chuyện xảy ra từ bên ngoài mà là một cái gì đó ở tận cùng thẳm sâu trong con người bạn. Khi bạn buông bỏ bản ngã, khi bạn nói được rằng, "Tôi tin vào bạn và bây giờ tôi sẽ theo bạn, bây giờ tôi sẽ chỉ là cái bóng của bạn, bây giờ bạn nói bất cứ điều gì cũng là pháp cả", thế là bỗng nhiên lúc đó chức năng của bán cầu trái của bạn ngưng hoạt động. Ta không có nhu cầu để cần đến nó. Mối nghi tan biến đi. Lý trí đã không còn thì hoài nghi cũng tan biến theo. Tranh luận cũng không còn chỗ đứng. Từ đó một loại năng lượng mới phát khởi ở trong bạn -bạn trở nên thơ mộng hơn, yêu đời hơn, vui sống hơn. Và thế rồi sự sinh trưởng xảy đến. Sự sinh trưởng đến từ giống cái, sự sinh trưởng đến từ bán cầu não phải.
Câu chuyện ngụ ngôn này chỉ là một biểu tượng. Vị thống đốc cuối cùng đã hiểu vấn đề. Ông ta tuyên bố, "Ðược rồi. Tôi sẽ buông bỏ cái ý niệm rằng mình là thống đốc." Khi bôi xoá cái ý niệm rằng mình là thống đốc Kyoto, ông ta đã chuyển đổi từ bán cầu trái sang bán cầu phải. Chỉ có sự chuyển đổi này mới tạo nên một cái gì đó.
Trang Tử có lần kể câu chuyện Thần Biển nói chuyện với Thần Sông: "Ngươi không thể nào diễn tả cho một con ếch trong đáy giếng hiểu thế nào là biển cả, nó chỉ là sinh vật sống trong một khung trời nhỏ hẹp. Ngươi không thể nào diễn tả cho loại côn trùng mùa hè hiểu thế nào là băng giá, nó chỉ là sinh vật sinh ra trong một mùa nhất định. Ngươi cũng không thể nào nói về Ðạo cho một nhà mô phạm hiểu, bởi tầm kiến thức của y rất là hạn chế. Nhưng bây giờ ngươi đã thoát ra từ một bầu trời nhỏ hẹp để thấy được thế nào là biển cả, ngươi hiểu được sự vô nghĩa của mình, đây là lúc ta sẽ nói cho ngươi về những nguyên lý cao thâm."
Ðây là những gì mà biển cả đã nói với giòng sông khi giòng sông tiếp cận với biển cả. Cho đến tận giây phút đó, biển cả vẫn giữ im lặng không hề nói một lời.
Giòng sông đã đến đó, nó dừng lại lưỡng lự không biết có nên đi vào đại dương hay không mà biển cả thì vẫn im lặng. Ðến khi nó thể nhập vào biển cả rồi, bấy giờ biển cả mới lên tiếng, "Bây giờ thì ngươi đã thoát ra từ một bầu trời nhỏ hẹp để thấy được thế nào là đại dương bao la, ngươi hiểu được sự vô nghĩa của mình, đây là lúc ta sẽ nói cho ngươi về những nguyên lý cao thâm."
Ðiều này hoàn toàn giống y như những gì đã xảy ra khi Kitagaki tuyên bố: "Ồ, đây là lỗi tại ta. Ta sai rồi." Cái cảm giác thấy mình đã phạm sai lầm là một thay đổi tận gốc rễ. Rất khó khăn cho con người chịu nhận rằng mình sai lầm. Họ cứ luôn biện minh, họ cứ luôn tìm mọi lý lẽ để bào chữa. Ðối với Kitagaki, có lẽ điều dễ dàng nhất là cứ việc cho rằng ông thầy chùa này là một người kiêu ngạo, ngã mạn. Ðặt trường hợp nếu bạn là Kitagaki bạn sẽ ứng xử như thế nào? Hãy tự suy nghĩ đi. Vâng bạn sẽ cho rằng ông này đúng là một kiêu tăng. Thiền sư gì mà kỳ cục vậy? Một vị Thiền sư thì phải luôn khiêm nhường. Một vị Thiền sư là hiện thân của đức khiêm tốn. Còn ông này thì rất là ngã mạn, ông ta không biết đến cả phép lịch sự tối thiểu. Ông ta rất là thô lỗ, mọi rợ. Chắc lúc đó bạn sẽ nổi giận. Bạn sẽ tìm ra đủ một ngàn lẻ một lý lẽ để nổi giận. Ðể hiện hữu, con người có muôn ngàn lý lẽ.
Một bệnh nhân lo lắng nói với nhà phân tâm học: "Tôi yêu con ngựa của tôi quá đi mất."
"Thì có gì đâu," nhà phân tâm học trấn an. "Thiếu gì người yêu loài vật. Vợ chồng tôi có một con chó và chúng tôi cũng rất yêu nó."
"A, không phải thế đâu. Yêu tôi nói ở đây là sự quyến rũ về thân xác!"
"Hừmmm!" Nhà phân tâm tiếp tục, "Nhưng mà nó là ngựa đực hay ngựa cái vậy?"
"Ngựa cái!" Bệnh nhân giận dữ la lên, "Bộ ông tưởng tôi là một tên đồng tính luyến ái hả?"
Bạn thì luôn luôn tìm một cái gì đó để bào chữa. Bạn bào chữa cho sự xuẩn động của mình, bạn bào chữa cho những bệnh hoạn của mình, bạn bào chữa cho sự khùng điên của mình. Con người cứ luôn tiếp tục bào chữa cho hiện trạng của họ, những khổ đau và khốn nạn của đời họ. Họ bào chữa cực kỳ mãnh liệt -chẳng có ai muốn thoát ra ngoài.
Cái khoảnh khắc mà vị thống đốc tuyên bố, "Vâng, đó là lỗi tại tôi" là lúc mà nội tâm của ông ta hoàn toàn thay đổi. Có bao giờ bạn lưu ý đến khoảnh khắc bạn lên tiếng thú nhận, "Vâng, đó là sai lầm của tôi"? Ngay khoảnh khắc đó, sự căng thẳng biến mất. Bây giờ thì không có gì để tự vệ nữa, bạn không có nhu cầu phải phòng thủ nữa, bạn có thể mở rộng lòng mình ra.
Cái khoảnh khắc mà ông ta gạch bỏ chữ "Thống Ðốc Kyoto", Kitagaki đã trở thành một con người khác. Ông ta không còn là con người cũ nữa rồi, hãy nhớ như vậy. Ðó là lý do tại sao vị Thiền sư thốt lên. "Ồ. Ông Kitagaki đấy hả! Con hãy ra mời vị đạo hữu ấy vào đây." Bây giờ thì Kitagaki đã là một người hoàn toàn khác biệt.
Hai người đang ngồi trong quán nhậu. "Tớ sẽ bỏ sở và muốn bồ cùng đi chung với tớ," một người nói với người kia sau khi đã cạn đến ly thứ tám.
"Ồ, thật vậy sao?"
"Yeah. Tớ biết một nơi ở Phi Châu mà vàng rải rác khắp nơi chỉ chờ người tới lượm thôi."
"Tớ đã biết cách thức để lượm"
"Cách thức như thế nào?"
"Bồ phải cúi mình xuống".
Khi bạn đến gặp một vị Thiền sư bạn cũng phải cúi người, hạ mình xuống -và đây có lẽ là điều khó khăn nhất trên cỏi đời này. Việc cúi xuống hôn chân một vị Thầy không phải đơn thuần là một nghi lễ Ðông phương, mà chỉ là một biểu tượng. Bây giờ thì nó trở thành một nghi lễ nên đã phần nào mất hết ý nghĩa, tuy nhiên nếu bạn thực sự cúi mình xuống hôn vào chân một vị Thầy, một cái gì đó sẽ thay đổi lớn lao trong con người bạn. Bạn sẽ không còn là con người cũ nữa, bạn đã bôi xoá đi cái "Thống Ðốc của Kyoto". Bây giờ thì bạn hoàn toàn tự do, rộng mở và sẵn sàng để đón nhận. Cái khoảnh khắc bạn hôn vào chân một vị Thầy, bạn mang đầy nữ tính hơn, thụ động hơn, và sẵn sàng để theo bước chân Thầy. Ðây là một cuộc hành trình không biết trước bến bờ thế nên bạn phải hoàn toàn tin cậy vào ông ta. Không có cách gì để minh chứng là bạn có đi đúng đường hay không. Bạn chưa hề biết trước, bạn chưa từng có kinh nghiệm về nó và cũng không biết chắc là nó có hiện hữu hay không nữa. Tất cả chỉ là niềm tin, tất cả chỉ là sự tin cậy.
Cũng chẳng khác gì con chim mẹ đang dạy cho đàn chim con tập bay... Chim con đã có bay bao giờ đâu, chúng mới thoát ra khỏi chiếc vỏ, chúng chỉ mới được chuẩn bị vào đời. Ngay cả chúng cũng chưa hề biết rằng mình đang có đôi cánh. Làm sao biết mình có cánh nếu chưa một lần bay trên bầu trời? Chim mẹ phải dạy cho chúng điều này. Dạy cho chúng bằng cách nào? Trước tiên chim mẹ rời khỏi tổ rồi vỗ cánh bay lòng vòng chung quanh đàn con. Bầy chim con nhìn mẹ và bắt đầu cảm thấy có một cái gì đó được khơi dậy ở trong chúng. Vâng, chúng cũng rất muốn bắt chước theo cách thức của mẹ. Thế nhưng chúng sợ hãi. Chúng bám chặt vào vành tổ, lo lắng, kinh hoàng. Chim mẹ bay ra bay vào kiên nhẫn khuyến khích chúng, "Nào, làm ơn bay ra thử coi." Có thể một con trong đàn có chút ít can đảm, sẵn sàng nhảy thử vào nổi hiểm nguy, và nó nhảy thật. Cái nhảy của nó có thể rất tệ, và bay thì chẳng giống ai, mới một vài phút đã vội vã quay về tổ rồi -thế nhưng bây giờ nó biết rằng mình đang có đôi cánh. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian để học thêm kỹ năng thôi. Tuy nhiên nó biết chắc là mình có khả năng để bay. Ðôi lúc người mẹ phải đẩy chúng ra, phải đẩy như vậy chúng mới nhận ra là mình có đôi cánh.
Ðây cũng là tình huống của một vị Thầy. Bạn phải tin cậy vào ông ta như đứa con tin cậy mẹ. Vị Thầy đang đưa bạn vào một cuộc hành trình mà bạn chưa bao giờ trải qua. Nói đúng ra, ông ta đang đưa bạn vào một cuộc hành trình mà ngay cả bạn cũng chưa hề mơ tưởng tới chứ đừng nói là kinh nghiệm. Cuộc hành trình này bạn chưa từng nghe nói đến, mà có nói đến cũng vô ích thôi vì nó hoàn toàn xa lạ với bạn. Vị Thầy đang làm công việc chuyển đổi tâm thức bạn. Ông ta đang đưa bạn đến một sự hoá thân, sự thăng hoa, tỉnh thức. Có khi ông ta thuyết phục bạn, nhưng cũng có lúc ông ta phải đẩy bạn, tuy nhiên một khi bạn đã ra ngoài bầu trời rồi, lúc đó bạn sẽ hiểu và sẽ vô vàn cảm kích.
Ðiều tuyệt vời là ông ta chẳng hề ban phát cho bạn bất cứ thứ gì cả. Ðôi cánh là của bạn, năng lượng để bay là của bạn và bầu trời đó cũng là của bạn cũng cùnh chiều kích như của người Thầy thôi -ông ta chẳng cho bạn cái gì cả. Không cho nhưng mà lại cho rất nhiều. Ông ta cho bạn sự can đảm, ông ta cho bạn sự tin cậy để từ đó bạn bước vào một cuộc phiêu lưu mới, bước vào cái mà bạn không hề biết. Và quan trọng nhất, ông ta cho bạn sự buông bỏ.
"Ồ. Ông Kitagaki đấy hả!" Vị Thiền sư thốt lên khi trông thấy tấm danh thiếp. "Con hãy ra mời vị đạo hữu ấy vào đây."
Sự bôi xóa cái tên trở thành một biểu tượng của sự buông bỏ. Ông ta hiểu được sai lầm của mình. Ðó là một chỉ dấu quan trọng. Bây giờ thì vị Thiền sư sẵn sàng để tiếp nhận ông ta. Vị Thầy chỉ có thể tiếp nhận bạn khi nào bạn đã sẵn sàng để được tiếp nhận. Trước đó thì nó chưa chín mùi, chưa dùng được, chưa giúp ích gì cho bạn cả.
Nếu vị Thiền sư là người thiên về hình thức thì vị thống đốc chắc chắn đã mất đi một cơ hội. Nhưng đây là một vị Thầy không hề bận tâm đến chuyện hình thức nên vị thống đốc mới có cơ hội lớn dậy. Ông ta đã lớn dậy -sự bùng vỡ này đôi khi chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
Người thông minh mới nghe qua đã hiểu. Nếu bạn là người thông minh, những gì tôi đang nói ra lập tức tác động ngay vào bạn; còn nếu bạn là kẻ ngu đần bạn cần thời gian để suy nghĩ về nó. Cái khoảnh khắc mà tôi đang nói cái gì đó với bạn, một cái gì đó sẽ xảy ra ngay trong bạn. Ở đây tôi nói về nó, thì ở đó nó lập tức hiện bày -bạn bắt đầu có cảm giác về nó, bạn bắt đầu nếm được hương vị của nó, bạn bắt đầu vỗ cánh, sẵn sàng tung mình vào khung trời cao rộng, bạn bắt đầu trở nên can đảm để sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro. Trong khi tôi đang nói điều gì đó với bạn, nếu là người trí, bạn cũng sẽ chẳng cần phải làm bất cứ điều gì cả; nó sẽ xảy ra ngay khi bạn đang nghe tôi nói.
Ðức Phật từng nói rằng có hai loại người: một loại chỉ cần nghe qua là có thể hiểu được chân lý còn một loại phải tốn rất nhiều công sức. Loại thứ hai là loại phàm phu nhưng rồi bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng loại thứ hai này lại trở nên vô cùng quan trọng. Loại thứ nhất Ðức Phật gọi là hạng thanh văn (shravaka) -phái Ni Kiền Tử (Mahavira) cũng dùng danh từ này- để gọi những người do nghe mà đạt đến giác ngộ. Loại thứ hai ngài gọi là sadhu -những người không chỉ nghe qua là đạt đến giác ngộ mà phải tốn rất nhiều công sức bởi vì trí khôn của họ rất cạn cợt. Thông minh trực nhận đưa đến giải thoát. Nghe đúng là đã liễu ngộ. Và bất cứ tình huống nào cũng đều là những cơ may.
Nhà Thiền gọi tình trạng này là mu-sin. Mu-sin có nghĩa là không tâm, một trạng thái trí óc thuần khiết. Không có bất cứ tạp niệm nào dấy lên, chỉ là ngọn lửa của tỉnh thức. Trong trạng thái này người quan sát và đối thể không hề tách biệt, kẻ nhận biết không tách rời vật nhận biết, kẻ nói và người nghe đồng nhất thể.
Một số ít người ở đây đã đạt đến tình trạng không tâm này rất nhiều lần, đấy là lúc bạn và tôi không còn cách biệt, những biên giới đột nhiên xóa nhòa, chúng ta đan lẫn vào nhau. Trong khoảnh khắc đó chỉ có sự giao cảm, hiệp thông. Lúc đó bất cứ cái gì cũng nói lên cùng ý nghĩa. Im lặng cũng thế, lời nói cũng thế, điệu bộ của bàn tay cũng vậy. Bạn đang ở trong tình trạng không tâm, trạng thái mà tâm thức không còn bản ngã, không còn biên giới. Chỉ trong trạng thái này Thượng Ðế hiện hữu, niết bàn hiện hữu.
Có môt bài thơ haiku (hài cú) rất nổi tiếng của nhà thơ Ba Tiêu (Basho) (3):
Cái ao xưa
Con ếch nhảy vào
Bỏm!
Người ta nói rằng Ba Tiêu đang ngồi bên cạnh môt cái ao cổ, rất cổ. Một con ếch cũng đang ngồi trên một tảng đá cạnh đó. Chắc có thể đây là một buổi sáng chan hòa ánh nắng và con ếch đang khoan khoái sưởi ấm dưới ánh nắng mặt trời. Nhà thơ Ba Tiêu thì đang ngồi đó, yên lặng ngắm nhìn.
Cái ao xưa
Con ếch nhảy vào
Bỏm!
Với tiếng động của con ếch nhảy vào cái ao cổ -Bỏm!- người ta nói rằng Ba Tiêu đã hoát nhiên đạt ngộ. Tiếng "bỏm" đó đủ để đánh thức ông.
Vâng, trong trạng thái không tâm, chỉ một tiếng bỏm thôi cũng đủ.
Vị thống đốc này phải là một người cực kỳ thông minh. Ðứng đợi ở ngoài cửa của vị Thiền sư, ông ta chắc đã từng bước đi vào trạng thái không tâm. Và khi người thị giả trở ra, với lời xin lỗi, "Thưa Ngài, ông Thầy không muốn gặp ngài. Ông ấy đã từ chối. Ông ta bảo rằng, Chúng ta chẳng có công chuyện gì để bàn với ông này -"bỏm!", một cái gì đã đột biến ngay lúc đó. Vị thống đốc lập tức nhận ra sự sai sót của mình và hoàn toàn trở nên một con người mới. Ông ta không còn là một con người của khoảnh khắc trước đây.
Vâng, nó có thể xảy đến cho bạn trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn ngủi. Chỉ là vấn đề của nhận thức thuần khiết. Một tiếng chim cu gáy -"bỏm". Tiếng gió rì rào thoảng qua rừng cây -'bỏm!". Tất cả cái gì cũng có thể xảy đến. Cái không thể cũng trở thành khả thể, nếu bạn đang ở trong trạng thái không tâm. Và Thiền chẳng có gì khác hơn ngoài sự rèn luyện trí óc để làm thế nào đạt đến tình trạng mu-sin, không tâm này.
Xem tiếp Chương 6 - Quay về Mục lục Tập 1 Quay về Mục lục Toàn tập

Ads Belove Post