Chương 6. Nhượng bộ trước cầu thỉnh của chư thiên

Chương 6. Nhượng bộ trước cầu thỉnh của chư thiên

Price:

Read more

Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 1)
Chương 6. Nhượng bộ trước cầu thỉnh của chư thiên


Câu hỏi thứ nhất:
Làm thế nào mà những người chưa giác ngộ lại có thể trình bày kinh nghiệm tâm linh rành rẽ với một cung cách đầy tin tưởng có vẻ như nắm vững tất cả mọi chuyện như thế ?
Bởi vì chuyện đời thường là như thế. Khi không biết gì hết, người ta không cần phải lưỡng lự; khi không biết gì hết, thực ra người ta đâu có gì để nói, thế là người ta tha hồ nói huyên thiên; khi không biết gì hết, người ta có thể sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện. Còn khi bạn biết, ngôn ngữ luôn luôn là một sự cản trở, nó không những chẳng giúp ích gì cho bạn mà còn trở thành một chướng ngại. Khi bạn biết, bạn phải luôn luôn cảnh giác bởi vì bất cứ những gì mà bạn đang nói ra không phải là điều mà bạn biết -đó là sự cách biệt lớn lao giữa hai loại người. Có đôi khi điều mà bạn nói ra lại hoàn toàn trái ngược với điều mà bạn biết.
Một người mù có thể nói chuyện rất thoải mái về ánh sáng, không có vấn đề gì cả. Y không hề có kinh nghiệm bản thân để biến thành lời. Lời trống rỗng, nên có thể tiếp tục tuôn ra một cách dễ dàng. Nhưng dĩ nhiên, y chỉ có thể nói chuyện với một người mù khác -những người sáng mắt thì chắc chắn là không có ai bị lừa dối. Cũng thế, những người chưa giác ngộ có thể tiếp tục nói chuyện về giác ngộ với những người chưa giác ngộ khác ... Như một thằng mù dẫn một thằng mù. Và, dĩ nhiên, họ vẫn có thể cãi nhau ỏm tỏi.
Chân lý không thể tranh biện, chân lý không thể chứng minh. Không có cách gì để chứng minh chân lý, không có cách gì để thảo luận về nó một cách luận lý -trên tất cả, nó như là một nỗi cám dỗ. Bạn có thể rù quyến một người đến với chân lý nhưng không thể làm cho y tin. Chân lý rất là nghịch lý, nếu không nói là phi lý. Một người không hề biết chân lý là gì thường có tính luận lý hơn, bởi vì cái gây phiền nhiễu cho mọi thứ luận lý đã chưa hề xuất hiện.
Bạn có thể nói rất thoải mái đủ thứ chuyện về tình yêu nếu bạn chưa hề yêu. Nhưng khi đã yêu rồi bạn sẽ thấy khó khăn trong từng bước một. Làm sao diễn tả nó bây giờ? Làm sao có thể nói ra được những điều không nói được bằng lời? Kinh nghiệm này không thể diễn tả; nó quá bao la không thể nào được chứa đựng trong những ngôn từ hạn hẹp. Không có một cái bình chứa nào có thể chứa đựng nó cả.
Người biết, thường lưỡng lự. Lão Tử từng nói rằng, "Mọi người dường như có vẻ rất chắc chắn, ngoại trừ ta." Ông ta tiếp, "Ta lưỡng lự như người đến trước một dòng sông đang đóng băng. Y dừng lại trên bờ, suy nghĩ kỹ lưỡng -rồi mới bước chân xuống một cách cực kỳ cẩn thận. Những người khác thì đều bước đi một cách hoàn toàn tự tin." Mù quáng thì rất tự tin bởi vì có trông thấy cái gì đâu; bạn có thể đi đâm xầm vào bức tường bằng một niềm tin lớn lao. Người sáng mắt, vì thấy mọi chuyện, không thể nào bước đi một cách đầy tự tin như một người mù.
Tất cả những bậc thánh nhân xưa nay đều do dự. Tự trong bản chất của vấn đề họ bắt buộc phải như thế. Bạn có thể tìm ra một ngàn lẽ một cái khiếm khuyết sai lầm trong những lời tuyên bố của họ -và ngay chính họ cũng nhận ra những khiếm khuyết này. Với họ, phải nói ra chỉ là chuyện chẳng đặng đừng. Dùng đến ngôn ngữ chỉ là điều bắt buộc. Nếu có cơ hội tránh được thì vẫn tốt hơn.
Khi Ðức Phật mới thành đạo, ngài đã tịnh khẩu trong suốt bảy ngày... Ðây là một câu chuyện rất tuyệt vời trong kinh Phật. Chư thiên trên các cõi trời đã vô cùng lo lắng. Rất hiếm khi có được một con người giác ngộ trở thành một vị Phật, và càng hiếm hoi hơn, không phải chỉ thành Phật mà còn có đầy đủ khả năng của một vị Tôn Sư -điều này quả tình rất là hiếm hoi. Có thể có rất nhiều người đã giác ngộ thành Phật nhưng chỉ có một số rất ít ngưòi trở thành những bậc Tôn Sư. Bởi vì những người kia hoàn toàn yên lặng. Khi họ đạt thành giác ngộ, họ chìm sâu vào tịch lặng.
Còn vị này, Cồ Ðàm Tất Ðạt Ða , đã thành tựu giác ngộ với đầy đủ tất cả mọi năng lực để trở thành một vị Tôn Sư vĩ đại nhất trên thế gian này. Chư Thiên rất có lý để lo lắng. Chúng ta biết điều gì đã xảy ra -Ngài đã trở thành một vị Tôn Sư vĩ đại nhất trên thế gian. Thực ra, không có một vị Tôn Sư nào có thể sánh bằng Ngài. Có không biết bao nhiêu người nhờ Ngài mà đạt thành giác ngộ. Có vẻ như rất khó có ai có thể vượt trội hơn Ngài.
Vâng, chư Thiên quả tình rất có lý để lo lắng. Họ liền bay xuống trần tìm gặp Phật lúc đó còn đang ngồi tĩnh tọa dưới gốc bồ đề. Họ tranh biện với Ngài và cố gắng thuyết phục Ngài nên mở lời. Họ tìm cách đánh động lòng từ bi của Ngài. Và rồi Ðức Phật đã trả lời, "Ta đã từng suy nghĩ về vấn đề này và cảm thấy hình như đó là chuyện phù phiếm vô ích. Thứ nhất, nếu ta nói ra cũng sẽ đâu có ai hiểu. Thứ đến, bất cứ điều gì ta nói ra cũng sẽ không phải là chân lý, sẽ không bao giờ một trăm phần trăm là chân lý. Nó sẽ không bao giờ đúng với sự thật, cách này hay cách khác -bởi một lẽ dễ hiểu là những điều ta biết không thể hạ thấp xuống trong ngôn ngữ sắc tướng của thế gian. Nó là vô sắc tướng. Ta đã nếm được hương vị của nó nhưng để nói ra hình như là điều bất khả. Và ngay cả nếu ta cố gắng và thành công, ai là người sẽ hiểu được nó? Họ sẽ không bao giờ hiểu được. Ta biết một cách chắc chắn như thế bởi vì khi ta chưa giác ngộ, nếu có ai đó đã nói với ta bằng một cách thế như ta sẽ nói với mọi người, bản thân ta chắc chắn là đã không hiểu nổi. Nó có vẻ như rất phi lý. Hoàn toàn phi lý. Như vậy tại sao phải bận tâm đến chuyện này? Ta sẽ giữ im lặng và thể nhập vào tánh không."
Lúc bấy giờ chư thiên chìm lắng trong suy tư, nghiền ngẫm lời Ngài nói, và cuối cùng bạch Phật, "Nhưng rồi vẫn sẽ có một ít người hiểu được. Luôn luôn sẽ có một số ít, rất ít, nhưng mà họ sẽ hiểu. Vâng, đúng thế, nếu như Ngài thuyết pháp cho mười ngàn người nghe thì ít ra cũng sẽ có một người có thể hiểu được -thế nên Ngài cũng phải vì người đó mà nói pháp."
Ðức Phật trả lời, "Cái người này rồi sẽ đạt thành giác ngộ ngay cả không cần ta thuyết pháp. Một người đủ tỉnh giác để hiểu ta không sớm thì muộn họ cũng sẽ tự chứng đắc, như vậy tại sao ta phải bận tâm?"
Chư thiên cảm thấy rằng họ đã thất bại. Bây giờ còn biết nói gì nữa đây? Họ lại chìm lắng vào suy nghĩ. Suốt đêm họ không ngừng thiền định và quán tưởng và ngay buổi sáng hôm sau họ trở lại và bạch Phật, "Vâng, Ngài hoàn toàn có lý, nhưng Ngài vẫn cần phải nói pháp bởi vì sẽ có một số ít người đang ở ngay trên bờ giác ngộ. Nếu Ngài không nói ra họ sẽ không hiểu, và sẽ không bao giờ có sự chuyển động tâm thức. Nhưng nếu Ngài nói pháp, nó sẽ tạo ra một sự chuyển động cần thiết. Vâng, Ngài hoàn toàn có lý, sẽ có một ít người tự mình tìm ra con đường giác ngộ -nhưng xin Ngài hãy nghĩ lại: nếu trong số một triệu người có một người đang mấp mé ở bên bờ giác ngộ và họ sẽ không đủ dũng khí để đi tới nếu như không có Ngài tiếp trợ, tại sao lại không vì y mà nói pháp? Ngay cả nếu chỉ có một người duy nhất được giác ngộ trong nỗ lực suốt cả một đời Ngài, điều đó chẳng đáng giá lắm sao?"
Trước những thỉnh cầu này, cuối cùng Phật đã phải nhượng bộ trước chư thiên. Phật đã nói, đã chuyển pháp luân.
Phật đã rất miễn cưỡng, đã đối kháng mãnh liệt.
Vâng, quả là một điểu rất khó khăn để nói ra khi bạn đã liễu ngộ, và là điều quá dễ dàng để nói huyên thiên khi bạn chẳng biết là mình đang nói gì. Lúc đó não bộ của bạn hoạt động chẳng khác gì một bộ máy, một con người máy. Ðó chỉ là một cuốn băng nhựa. Tiếp âm tin tức là điều quá dễ dàng, tiếp âm trí tuệ thật vô vàn khó khăn. Ðó là lý do tại sao người mê cứ không ngừng nói chuyện về những kiến thức bên trong tâm thức con người.
Giác ngộ không là chuyện ở ngoài hay ở trong. Tất cả chuyện trong-ngoài chỉ xảy ra trước khi bạn liễu ngộ. Khi đã giác ngộ rồi thì chẳng có gì là trong mà cũng chẳng có gì là ngoài. Thật ra, khi đã đạt ngộ thì tất cả chỉ còn lại tánh không; mê và tánh không... cũng là ngộ. Cái thời điểm mà bạn giác ngộ, tất cả mọi hiện hữu cũng đồng thời giác ngộ -hay tối thiểu, sinh thể của bạn. Và trong lúc này, cái thị kiến về sinh thể đó cũng đồng thời giác ngộ.
Kiến thức về bên trong nội tâm cũng chỉ là chuyện bịa đặt -tất cả kiến thức đều là chuyện bịa đặt. Con người tự tìm cách thoả mãn mình với kiến thức. Con người đói khát chạy đi tìm Thượng Ðế, tìm hiểu chân lý, nhưng hình như quả thật rất khó khăn để đạt đến, thế là chúng ta đành tự thoả mãn mình với những kiến thức về chúng. Nếu có ai trao cho ta kiến thức, ta luôn giữ chặt, khư khư ôm lấy vào người. Trải qua hàng thế kỷ, kiến thức ngày càng trở nên rắc rối, phức tạp, bí hiểm. Trong khi giác ngộ thì lại rất đơn giản, hồn nhiên. Kiến thức rất phức tạp, bởi vì nó phải như thế, bởi vì nó là một sản phẩm đầy xảo quyệt của con người.
Khi bạn lắng nghe một người giác ngộ, vị đó chỉ nói ra những chân lý giản đơn, rất mực giản đơn; ông ta sẽ không bao giờ nói đến những triết lý cao thâm xa vời. Ông ta rất thực tế. Mà thật ra, ông ta chẳng nói gì cả, ông ta chỉ ra cho bạn thấy một cách đơn giản. Phật dạy, "Chư Phật vạch ra con đường, các Ngài không hề nói đến mục tiêu." Bạn phải lên đường -cứ đi, và rồi một ngày nào đó, nó sẽ xảy đến với bạn. Chỉ ở cái thời điểm này bạn mới có khả năng nhận thức được rằng tất cả mọi kiến thức chỉ là giả tạo, sản phẩm của những tâm thức tinh ranh, xảo quyệt, trong khi mọi hiểu biết đều rất mực đơn giản, hồn nhiên, thô sơ.

Câu hỏi thứ hai:
Henri Bergson (1) cũng có đưa ra học thuyết về trực giác. Sự tiếp cận của ông ta như vậy có giống y như Thiền hay không?
Trông thì rất giống Thiền nhưng mà không phải vậy và không thể như vậy.
Bergson là một triết gia, một triết gia có tầm vóc, tuy nhiên ông ta không có kinh nghiệm thân chứng. Ông ta nói về trực giác, nói một cách sâu sắc, đi vào đến tận cùng những phức tạp của vấn đề, thế nhưng tất cả những điều ông nói đều thuần về mặt tri thức. Ngay cả việc ông nói về trực giác cũng thế. Cái đầu của bạn vẫn có thể nói về chuyện trái tim -hãy nhớ đến khả năng này. Bạn có thể nghĩ là bạn đang cảm xúc nhưng đó vẫn chỉ là ý nghĩ. Con người vốn rất vi tế và cũng là một kẻ dối gạt. Vâng, cái đầu của bạn có thể nói chuyện về trái tim, bạn có thể nghĩ về những cảm xúc, bạn có thể rất luận lý về tình yêu.
Bergson đã có một sức hấp dẫn lớn vì ông ta đã nói đến trực giác. Ông ta chống lại trí năng. Thế nhưng tất cả những gì ông ta nói ra đều là tri thức. Trực giác đối với Bergson không hề là một kinh nghiệm thân chứng.
Thiền luôn khẳng định về kinh nghiệm thân chứng. Bạn có thể thấy rất nhiều cái thoạt trông có vẻ giống Thiền nhưng bạn sẽ không bao giờ tìm thấy cái gì là Thiền thật sự. Hiện tượng thì có vẻ rõ ràng như thế mà bản chất thật ra là không phải. Trông ngoài mặt thì tưởng là vậy, vâng, cái bình chứa thì cái nào mà chẳng giống nhau -nhưng mà cái chứa đựng bên trong thì lại tuyệt đối khác xa.
William Barrett nhớ lại chuyện một người bạn của mình có dịp đến viếng thăm Martin Heidegger (2), một triết gia Ðức nổi tiếng. Lúc ông ta đến thì thấy Martin Heidegger đang đọc một trong những cuốn sách của Suzuki. Người bạn đã hỏi triết gia Heidegger một cách thành thật là phải chăng ông thích thú về Suzuki và Thiền, và ông ta trả lời, "Nếu tôi không hiểu lầm những điều ông ta trình bày thì đây là những gì mà tôi đã cố gắng để nói lên trong tất cả những tác phẩm của tôi."
Thế nhưng Heidegger cũng chỉ quanh quẩn trong suy tưởng, triết lý và học thuyết. Ông ta là một triết gia lớn -cũng tầm cỡ như Bergson, có khi còn rốt ráo hơn cả Bergson với những tư tưởng rất sâu sắc, khai mở ra những chân trời uyên áo -tuy nhiên về chuyện đạt ngộ, đại định, hay giác ngộ ông ta còn cách xa đến cả hàng vạn dặm.
Và có lúc ông ta cũng xuẩn động như bất kỳ kẻ phàm phu nào. Khi Adolf Hitler trở nên một nhân vật đầy quyền lực, Heidegger đã trở thành một trong những ủng hộ viên nhiệt thành. Hãy tưởng tượng một ông Phật lại đi ủng hộ Adolf Hitler? Hoàn toàn không hề có chuyện như vậy! Thế mà cái ông Heidegger này lại trở thành một người phát xít! Cung cách của ông ta cũng đâu có khác gì những con người bình thường không một chút hiểu biết, không tuệ giác.
Có những lúc mà bạn thấy thật quá dễ dàng để nói về những vấn đề lớn lao, nhưng để thể hiện những hiểu biết của mình trong đời sống hàng ngày thì là điều trái lại... Nhiệm mầu thay là việc khiêng dầu, nhiệm mầu thay là việc gánh nước -trong những việc tầm thường như thế mà sự hiểu biết được thẩm thấu. Cuộc sống đời thường của bạn phải bừng lên ánh sáng giác ngộ, trong từng khoảnh khắc một phải là một ngọn đèn tự toả chiếu ánh sáng.
Tất cả những điều sâu sắc mà Heidegger nói ra đã trở nên vô nghĩa, cho thấy chỉ là chuyện phù phiếm, không có thực. Ông ta cũng là một con người cực đoan như tất cả những người Ðức khác. Nhưng những người khác còn có thể được tha thứ, chứ Martim Heidegger thì không.
Những điều giống y như vậy cũng đã xảy ra ở đây, ngay tại Ấn Ðộ. Bà Indira Gandhi (3) từng bước một đã trở thành một nhà độc tài và Acharya Vinoba Bhave (4) đã ủng hộ bà ta. Ông ta đã lý giải sự độc tài này như là một cuộc thí nghiệm lớn lao về tính kỷ luật: một thời đại vĩ đại đã được bắt đầu, thời đại của kỷ luật.
Bạn có thể lý giải sự độc tài như là khép mình vào khuôn khổ kỷ luật một cách khá dễ dàng, và điều này đã cho thấy tuệ giác của Vinoba Bhave -một con số không.
Hãy nhớ cho, bạn nên quan sát cách người ta sống như thế nào thay vì nghe người ta triết lý về nó. Triết lý chẳng đi đến đâu cả, đó chỉ là những trò chơi ngôn từ trong tâm tưởng.
Trước phút lâm chung người ta thấy Carl Gustav Jung (5) đang đọc cuốn "Những Bài Giảng về Thiền và Zen" (Ch'an and Zen Teachings) của Charles Luck. Ðây là cuốn sách cuối cùng mà ông ta đọc, trước khi từ giả cõi đời. Nhưng trước khi nhắm mắt Jung đã nhờ người thư ký viết một bức thư cho tác giả, Charles Luck, cho biết là ông rất ái mộ cuốn sách này. Jung bảo, "Hãy nói với Charles Luck rằng khi tôi đọc những gì mà ngài Hư Vân nói tôi có cảm giác rằng đó cũng chính là điều tôi muốn nói. Cũng giống y như vậy thôi."
Nhưng cũng vậy, đây cũng chỉ là những hiểu biết thuần tri thức. Jung không phải là một thiền giả. Ông ta là một nhà phân tâm lỗi lạc, một nhân vật có tầm vóc lớn trong địa hạt quan sát phân tích tâm thức con người, một nhà thám hiểm vĩ đại trong lãnh vực vô thức, huyền nhiệm, nhưng ông ta không phải là một thiền giả. Thực ra, ông ta đã chối bỏ tất cả mọi hình thức thiền quán; nói rõ hơn, ông ta sợ hãi thiền quán.
Khi ông ta đến Ấn Ðộ, lúc đó ngài Raman Maharshi (6) đang còn tại thế nhưng Jung đã không muốn viếng thăm. Rất nhiều người đã bảo ông ta, "Ngài là nhà nghiên cứu sâu xa về con người, và ở tại đây có một nhân vật mà chúng tôi gọi là Bhagwan. Ðã đến Ấn Ðộ thì Ngài nên viếng thăm ông ta một lần, bằng không ngài đã lỡ cơ hội gặp được một vị Phật. Ngài hãy đến và đi sâu vào tìm hiểu ông ta, nếm thử bầu khí mà ông ta thở, ánh sáng giải thoát mà ông ta sống. Ngài từng suy tưởng về Phật, về Lão Tử, về Christ -tại sao lại không đến viếng Raman Maharshi?"
Tuy nhiên ông ta đã tránh né chuyện gặp gỡ này. Ông ta đi thăm viếng ngôi đền Taj Mahal nhưng không muốn gặp Raman.
Tôi có cảm tưởng là ngay cả nếu Ðức Phật còn tại thế chắc là Jung cũng sẽ không đến viếng thăm Ngài. Hoặc giả như Chúa Giê Su còn sống ông ta cũng sẽ không đến viếng thăm. Tại sao vậy? Nỗi sợ hãi đó là gì? Ðó là một nỗi sợ hãi vô cùng sâu xa, nỗi sợ hãi về phương Ðông . Ở phương Tây ông ta đã từng được khuyến cáo rằng phương Tây không nên học hỏi những đạo học Ðông phương chẳng hạn như Yoga, Mật, hay Thiền. Trong suốt cuộc đời mình ông đã được khuyến cáo như thế vì cho rằng tâm thức của phương Tây hoàn toàn khác biệt, hướng đi cũng khác biệt -những tư tưởng Ðông phương như vậy sẽ làm nhiễu hại đến toàn bộ giá trị tinh thần Tây phương.
Ông ta không bao giờ thiền quán. Và đặc biệt ông ta rất sợ hãi cái chết. Không phải chỉ sợ cái chết mà ngay cả xác chết. Ông ta rất muốn đến Ai Cập để được trông thấy những xác ướp của thời cổ đại -một nỗi ao ước lâu dài. Nhưng tối thiểu có đến bảy lần ông ta đã mua vé máy bay nhưng cuối cùng lại hủy bỏ. Có một lần, cũng là lần chót, ông ta đã đặt chân đến phi trường, nhưng rồi lại quay về. Ông ta sợ cả đến việc trông thấy những xác chết thời cổ -bởi vì điều này sẽ nhắc nhở ông ta về cái chết của chính mình, nhắc nhở ông ta về những gì sẽ xảy ra cho chính thân xác mình. Nó đã tạo nên một mối băn khoăn lớn.
Bây giờ thì cái ông này có thể đọc về Thiền và ngay cả có thể được thuyết phục để tin về những chân lý của nó, có quan hệ môt cách tri thức với nó, và ngay cả có thể nói một câu rằng "tôi có cảm giác rằng những điều ngài Hư Vân nói cũng chính là điều tôi muốn nói. Y như vậy." Thế nhưng trong khi điều phát biểu "Y như vậy" -của ngài Hư Vân là một khẳng định hiện sinh còn nếu do Carl Gustav Jung nói ra thì nó sẽ là một phát biểu triết học, cũng chẳng khác gì người mù nói về ánh sáng.
Những người này đều là những nhà luận lý. Họ là những người rất duy lý nhưng không hẵn là những người hoàn toàn hợp lý. Hãy nhớ rằng duy lý không có nghĩa rằng bạn là người có lý. Một sự thực hiển nhiên cho thấy một người được coi là duy lý không thể nào chấp nhận sự hợp lý -bởi vì chấp nhận sự hợp lý có nghĩa là phải dành chỗ đứng cho sự vô lý. Ðược xem là hợp lý có nghĩa là bạn phải chấp nhận sự nghịch lý của đời sống. Ðược xem là hợp lý có nghĩa là không phải chỉ đòi hỏi cái sống -trong khi cái chết cũng đồng thời hiện hữu, phải chấp nhận nó. Ðồng thời cũng không chỉ suy nghĩ về Thượng Ðế -mà quỷ Sa Tăng cũng có mặt ở đó, phải chấp nhận y. Ánh sáng và bóng tối cùng hiện hữu -phải chấp nhận cả hai.
Một người hợp lý là kẻ dễ dàng chấp nhận, dễ dàng tiếp thu. Trong tâm y không hề mang sẵn định kiến; không hề chứa một giả định có trước. Tâm của y rộng mở, hoàn toàn rộng mở. Một con người duy lý thì không dễ dàng rộng mở như thế. Y vô cùng khôn ngoan trong luận lý -nhưng luận lý cũng chỉ là sản phẩm của con người, do chúng ta tạo ra.
Luận lý chỉ là một nửa phần của não bộ, nửa phần kia vẫn chìm trong khát khao.
Tôi không có ý nói rằng nửa phần kia là thiền quán, xin nhớ điều này. Một nữa là luận lý còn nửa phần kia là phi lý. Khi nào bạn vượt được ra ngoài cả hai, vượt lên trên tất cả, ta ở trong thiền quán. Cũng xin nhớ rằng suy tưởng không phải là thiền quán, cảm thọ cũng thế. Suy tuởng chỉ mới một nửa và cảm thọ cũng chỉ là một nửa. Khi cả suy tưởng lẫn cảm thọ tan biến vào trong một thể đồng nhất, chúng không còn là chúng nữa. Bây giờ thì bạn không thể gọi chúng là suy tưởng và cảm thọ, chúng đã vượt lên trên cả hai, là một cái gì đó vừa mới được khai sanh, phong phú hơn cả hai. Cái tổng thể này không phải là do những bộ phận ráp lại. Khi một tổng thể được hình thành, các bộ phận tan biến vào một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, tuyệt đối mới mẻ.
Ðây là thế giới của siêu việt, hai với hai là năm mà không còn là bốn. Trong thế giới của đời thường, hai với hai là bốn; trong thế giới của thiền quán, của nhất thể, toàn bộ, hai với hai là năm, không bao giờ là bốn -bởi vì cái tổng thể này siêu việt hơn các bộ phận ráp lại. Một cái gì đó mới mẻ đã ra đời. Khi bạn ráp các bộ phận của một chiếc đồng hồ lại với nhau, tiếng "tíc-tắc" xuất hiện. Khi bạn tháo rời các bộ phận của chúng ra, tiếng "tíc-tắc" biến mất. Tiếng "tíc-tắc" này là một cái gì đó siêu việt, đó là sự sống, là thiền quán, là Thượng Ðế.
Luận lý không thể nào mang đến cho bạn tiếng "tíc-tắc" đó. Luận lý là một cô gái điếm -hãy luôn nhớ như vậy. Luận lý có thể đi với bất cứ ai -bất cứ ai sẵn sàng chi tiền. Luận lý đồng nghĩa với ngụy biện. Bạn có thể dùng luận lý để tán dương Thượng Ðế, đồng thời bạn cũng có thể dùng cùng một thứ luận lý này để chống báng lại. Bạn có thể dùng chúng để ủng hộ thiền quán hoặc dùng chúng để phản bác. Luận lý không có trái tim, nó không biết đến yêu thương. Nó không hề có một chút chân tình.
Trong dòng triết học Hy Lạp đã có một thời khá dài những nhà biện luận đã chiếm ưu thế. Họ là những nhà luận lý thực sự, hoàn toàn thuần lý, những kẻ nói láo tài tình. Họ bảo rằng, "Chúng tôi không cần cho bạn biết chân lý là gì. Bạn cứ việc nói với tôi chân lý của bạn là gì, và rồi chúng tôi sẽ chứng minh điều đó." Nhưng nếu đối thủ của bạn chạy đến tìm họ và bảo rằng, "Ðây mới là chân lý, tôi sẽ trả tiền gấp đôi," thế là họ cũng sẽ chứng minh đối thủ của bạn là đúng.
Hãy nghe một giai thoại ngắn:
G. K. Chesterton (7) rất nổi tiếng với câu chuyện sau đây: Một tên cướp nhiều mưu kế cuối cùng đã bị quân lính của nhà vua bắt được. Nhà vua, một người rất thích các trò chơi, các câu đố hiểm hóc và đồng thời cũng là một nhà luận lý nổi tiếng, đã đưa ra một vấn nạn cho tên cướp giải quyết sinh mệnh của mình, "Ngươi chỉ được nói một câu thôi. Nếu câu này chứa đựng sự thực trong đó, ngươi sẽ bị xử bắn, còn ngược lại, ngươi sẽ bị treo cổ."
Ðây là cái mà người ta gọi là song đề, một thế tiến thối lưỡng nan!
Nhà vua bảo, "Nếu ngươi nói sự thực trong đó ngươi sẽ bị bắn. Chỉ nói một câu thôi, một câu duy nhất. Còn nếu ngươi nói láo ngươi sẽ bị treo cổ."
Và tên cướp đã chiến thắng nhà vua -vì y cũng là một tay lý luận tài ba- bằng câu trả lời: "Hãy đem tôi đi treo cổ."
Bạn có hiểu được nội dung của câu chuyện hay không? Nếu câu nói của y đúng thì nhà vua sẽ rất khó xử vì đã bảo rằng, "Nếu câu này đúng ngươi sẽ bị xử bắn." (tức là không treo cổ y được). Còn nếu đúng là y sẽ bị treo cổ, thì lẽ ra y sẽ phải bị bắn -lúc đó hoá ra câu nói của y là không đúng. Mà nếu không đúng, tức là nói dối, thì theo lệnh của nhà vua, « nếu ngươi nói dối, ngươi sẽ bị treo cổ ». Nhưng nếu đem treo cổ y thì hoá ra câu nói của y lại trở thành sự thật.
Luận lý là như thế. Ðó là một trò chơi. Ðừng bao giờ nương tựa vào luận lý, đừng bao giờ tin cậy vào triết lý. Vì quá trông cậy vào luận lý và triết lý, con người đã hủy diệt những tính năng phong phú của tôn giáo. Tôn giáo vượt lên trên luận lý và triết lý.
Thiền là một tôn giáo tinh khôi. Ðó là một kinh nghiệm thân chứng. Nó mời gọi bạn tham dự vào hiện sinh, cùng nhảy khúc luân vũ với hiện sinh -đó là những gì được gọi là thiền quán. Trong khoảnh khắc mà bạn tan biến đi, cũng có nghĩa là bạn đã hòa điệu cùng với khúc đại luân vũ. Trong khoảnh khắc mà bạn không còn là bạn nữa, bạn trở thành cái ngã của nhất thể. Vâng, ban đầu chỉ là một khoảnh khắc mà ánh sáng bùng lên rồi bóng tối tan biến và bạn thể nhập vào với khúc luân vũ -cũng cùng chung một vũ điệu mà các vì sao, các hành tinh, mặt trời và mặt trăng, cũng cùng chung một vũ điệu mà bốn mùa luân chuyển rồi mùa xuân đến với trăm hoa đua nở. Một khoảnh khắc đơn thuần đã đưa bạn hòa điệu vào khúc luân vũ này. Ðể rồi từng tí một bạn trở nên tỉnh thức hơn và nhận ra cái khả năng có thể thể nhập vào đó nhiều hơn. Thế rồi bạn ngày càng trở nên tinh tế hơn để thể nhập vào sâu hơn nữa. Cho đến một ngày bạn bắt đầu an trú trong đó. Ðó là ngày mà bạn không còn là bạn nữa và đó cũng là lần đầu tiên bạn mới chính thực là bạn.
Ðừng bao giờ để mình còn bị lừa dối bởi những Bergson hay Martin Heidegger hay Carl Gustave Jung.

Câu hỏi thứ ba :
Tại sao chúng ta cứ mãi ức chế chính mình một cách tự nguyện để chạy theo những cơ chế tự vệ què quặt ?
Ðể sống còn.
Một đứa trẻ không có khả năng tự lực, tự mình nó không thể sống còn. Người ta đã khai thác tình trạng không tự lực được của trẻ con qua hằng bao thế kỷ. Chúng ta đã áp bức trẻ con như là một chuyện đương nhiên. Vâng, những người lao động có thể đã bị áp bức, nhưng không đến nỗi như thế; vâng, phụ nữ đã bị áp bức nhưng không tới mức như trẻ con. Trẻ con là giai cấp bị áp bức lâu dài nhất của nhân loại và hình như quả là điều khó khăn để giải phóng chúng ra khỏi bàn tay của cha mẹ. Hình như đây là điều bất khả.
Trẻ con rất là mỏng manh không thể nào có thể tự hiện hữu. Bạn có thể khai thác điểm này. Bạn có thể bắt trẻ con phải học tập bất cứ điều gì mà bạn muốn -cũng chẳng khác gì công việc của B. F. Skinner (8) được tiếp tục ở trong phòng thí nghiệm. Ông ta dạy chim bồ câu đánh bóng bàn, cũng dùng một thủ đoạn như nhau: ban thưởng và trừng phạt. Nếu chúng chịu tham dự trò chơi, chúng sẽ được thưởng; nếu chúng từ chối hay miễn cưỡng, chúng sẽ bị trừng phạt. Nếu chúng làm đúng, chúng được thưởng -bằng cách cho ăn; nếu chúng làm sai người ta cho điện giật chúng. Ngay cả chim bồ câu cũng có thể được dạy để đánh bóng bàn.
Ðây cũng là cách thức được dùng trong những gánh xiệc. Bạn có thể đến đó và xem. Ngay cả sư tử, những con sư tử đẹp đẽ, cũng bị đem đi nhốt cũi, và những con voi thì đi nhịp nhàng theo lệnh của người quản trò. Bọn chúng đã bị bỏ đói rồi được thưởng công nếu làm trò tốt -trừng phạt và ban thưởng. Ðây là thủ đoạn muôn đời.
Ðiều mà người ta làm trong gánh xiệc với súc vật cũng là điều mà bạn đang làm với con cái mình. Thế nhưng bạn đã làm điều đó một cách vô thức bởi vì bạn cũng đã từng được đối xử như vậy; đây là phương cách duy nhất mà bạn biết trong việc huấn luyện và giáo dục cho trẻ nên người. Ðiều mà bạn gọi là làm chúng « nên người », thật ra, bạn đã hạ chúng xuống, thay vì nâng chúng lên một sinh thể cao hơn bạn lại đẩy chúng xuống thấp hơn. Tất cả những điều này đều là kỹ thuật và thủ đoạn của phương pháp Skinner - bởi vì chúng mà chúng ta bắt đầu ức chế mình một cách tự nguyện và chạy theo những cơ chế tự vệ què quặt.
Một đứa trẻ không hề biết đến chuyện đúng sai. Chúng ta đã dạy chúng điều này. Chúng ta dạy chúng theo tâm ý của chúng ta. Tuy nhiên một điều có thể đúng tại Tây Tạng không hẵn đã đúng ở Ấn Ðộ; một điều được coi là đúng tại nhà bạn nhưng có thể sai ở nhà hàng xóm. Thế nhưng bạn cứ bắt buộc trẻ con: Ðiều này là đúng, phải làm theo như vậy. Ðứa trẻ được sự tán trợ khi nó làm và khiển trách khi nó không chịu làm theo. Khi nó nghe lời bạn, bạn rất là hả dạ và vỗ về nó, còn ngược lại bạn sẽ nổi tam bành lên hành hạ nó, đánh đập, bỏ đói nó, không yêu thương chúng.
Một cách rất tự nhiên, đứa trẻ bắt đầu hiểu rằng sự sinh tồn của nó đang bị đe dọa. Nếu nó nghe lời cha mẹ thì mọi chuyện đều tốt đẹp; còn nếu không chắc là họ sẽ giết nó không chừng. Và như vậy, đứa trẻ có thể làm được gì đây? Làm sao nó có thể xác định được bản sắc của mình để đối phó với những người đầy quyền lực này? Họ là cái bóng hiện ra lù lù đầy đe dọa. Họ cực kỳ to lớn, khổng lồ, đầy quyền lực và có vẻ như có thể làm được bất cứ chuyện gì.
Ðến khi đứa trẻ trưởng thành thì nó đã bị điều kiện hóa. Cái điều kiện này đã ăn sâu vào người rồi cho nên bây giờ cha mẹ đâu còn cần phải đi kèm theo nó nữa. Cái tâm thức bị điều kiện hoá này, mà người ta gọi là lương tâm, vẫn sẽ không ngừng đày đọa y.
Một cách cụ thể, nếu một đứa con trai bắt đầu vọc chơi với bộ phận sinh dục của mình -trẻ con hay chơi nghịch như thế, một niềm vui hoàn toàn tự nhiên, bởi vì thân xác của trẻ con vô cùng nhạy cảm- thì đó không phải là một hành động mang ý nghĩa dục tình theo cái nhìn của người lớn. Trẻ con thường rất sinh động và một cách hết sức tự nhiên, bộ phận sinh dục của nó là nơi tràn đầy sức sống hơn bất cứ bộ phận nào khác của cơ thể. Ðây là nơi năng lượng đời sống tích lũy -và là nơi nhạy cảm nhất. Vọc chơi với bộ phận sinh dục, đứa trẻ cảm thấy rất vui thích -nhưng bạn thì lại rất lo lắng. Ðó chính là vấn nạn của bạn. Bạn bắt đầu lo sợ rằng đứa trẻ đang thủ dâm hoặc tương tự như thế. Thật ra không phải như vậy. Chẳng qua chỉ là niềm vui khi đùa nghịch với một phần của thân xác mình. Ðó chẳng phải là thủ dâm hay gì cả, chỉ là sự yêu thương thân xác của chính mình.
Ðó là tội lỗi của bạn, nỗi lo sợ của bạn. Có phải bạn đang lo lắng rằng có thể có ai đó đã trông thấy con trai của bạn đang làm như vậy rồi họ sẽ nghĩ xấu về chuyện giáo dục con cái trong gia đình bạn? Phải làm cho chúng văn minh hơn. Phải dạy chúng một cái gì đó. Thế là bạn rầy la đứa trẻ bắt phải chấm dứt ngay cái trò chơi này. Bạn la lên, «Chấm dứt !» một lần, hai lần, và nhiều lần như thế. Theo thời gian, chúng biến thành một phần của lương tâm. Chấm dứt, chấm dứt, chấm dứt -những tiếng này càng ngày càng thấm sâu hơn, trở thành một phần vô thức của đứa trẻ.
Bây giờ thì không cần có bạn ở bên cạnh nữa. Mỗi khi đứa trẻ bắt đầu vọc chơi bộ phận sinh dục của mình, sẽ có một tiếng nói nào đó từ bên trong dội lên « Chấm dứt ! » làm đứa bé sợ hãi -có thể cha mình hay mẹ mình đang dòm chừng ở đâu đây- và rồi nó cảm thấy mình đang phạm tội. Và rồi khi chúng ta dạy trẻ rằng Ðức Chúa Cha có mặt ở khắp mọi nơi, ngay cả ở trong phòng tắm, đang quan sát xem xét ta. Ðứa trẻ sẽ không ngừng lấm lét nhìn khắp mọi nơi.
Cái ý niệm về Thiên Chúa này làm cho con người què quặt. Thế là bạn không bao giờ còn có tự do dù là ở trong phòng tắm của bạn. Không có nơi nào bạn có tự do cả. Cái vị Thiên Chúa toàn năng này đã bám sát theo bạn như một người thám tử đi bắt kẻ gian. Ông ta hiện diện ngay cả khi bạn đang làm tình với phụ nữ. Ông ta không cho phép bạn làm chuyện này. Ông ta là một tay cảnh sát siêu hạng -bổ túc thêm vào cái lương tâm mà các bậc cha mẹ đã tạo ra.
Ðó là lý do tại sao mà Ðức Phật bảo rằng trừ phi bạn giết chết cha mẹ, bạn sẽ không bao giờ có tự do. Giết chết cha mẹ ở đây có nghĩa là giết chết cái tiếng nói của cha mẹ ở trong bạn, giết chết cái lương tâm hằng đeo đuổi bạn, buông bỏ tất cả những ý tưởng vô nghĩa và bắt đầu sống một đời sống của riêng mình, phù hợp với ý thức của mình. Hãy nhớ rằng, phần ý thức phải được tăng dần, phần lương tâm phải được giảm bớt. Từng bước một, lương tâm sẽ phải hoàn toàn tan biến nhường chỗ cho dòng ý thức sinh động.
Dòng sinh thức này sẽ là quy luật -hãy để cho nó là quy luật duy nhất. Như thế bất cứ cái gì mà bạn cảm thụ, đó là đời sống của bạn. Bạn là người phải tự quyết định. Ðó là cuộc đời của bạn mà không phải của ai khác, họ không có quyền quyết định thay bạn.
Tôi không hề bảo rằng lúc nào bạn cũng có quyết định đúng đắn, đôi khi bạn cũng sai lầm. Nhưng đó cũng là một phần tự do của bạn, một phần của sự lớn khôn. Có nhiều khi bạn đi sai đường nhưng điều này hoàn toàn chẳng thành vấn đề -đi lạc lối cũng là một cách thức để quay trở về nhà. Một người không bao giờ lạc lối thì chẳng bao giờ có thể trở về nhà, y đã chết từ lâu. Một người không bao giờ làm điều gì lầm lẫn sẽ không bao giờ cảm thấy lạc thú khi mình làm chuyện đúng. Y chỉ là một tên nô lệ. Một trạng thái nô lệ tâm thần đã hình thành.
Một đứa trẻ đã phải nương tựa vào cha mẹ một thời gian khá dài -tối thiểu là hai mươi hay hai mươi lăm năm. Thật là dài đăng đẳng. Hết cả một phần ba đời người. Trong suốt một phần ba đời người đó y đã bị điều kiện hóa. Hãy suy nghĩ kỹ đi -một người với hai mươi lăm năm bị điều kiện hoá! Bao nhiêu áp lực đã đổ xuống đời y.
Và một khi mà bạn đã được dạy cho cái trò xảo trá này rồi, bạn khó mà quên được. Ðó là lý do tại sao thật là điều khó khăn khi phóng mình vào chân lý, khi trở thành một hành giả tầm đạo -sannyasin. Sannyas có nghĩa là làm một bước nhảy vượt thoát ra khỏi cấu trúc xã hội bao quanh bạn, đó là một bước nhảy quyết liệt -bởi vì bạn không thể nào thoát ra khỏi nó một cách từ từ, chậm rãi. Ðó là một bước nhảy lượng tử, bất chấp mọi rủi ro. Chẳng khác gì bạn đang nhảy ra khỏi một ngôi nhà đang cháy -mà quả là ngôi nhà đang cháy thật- để bắt đầu sống một cuộc sống của riêng mình. Dĩ nhiên, lúc ban đầu bạn sẽ không khỏi bị rúng động, bạn sẽ run rẩy rất nhiều lần bởi vì đó là điều tự nhiên khi bạn đối kháng lại cha mẹ, đối kháng lại xã hội. Xã hội chẳng qua cũng chỉ là quyền lực của cha mẹ được nhân rộng ra thôi; trong đó cha mẹ bạn không gì khác hơn là những nhân viên thừa hành. Tất cả chỉ là một tổ hợp đại âm mưu -cha mẹ, thầy giáo, cảnh sát, quan tòa, tổng thống- tất cả kết hợp cùng nhau trong một âm mưu lớn. Và họ đang nắm vận mệnh tương lai của toàn thể trẻ con.
Một khi mà bạn đã học được điều gì, giải trừ chúng quả thật rất khó khăn. Sau hai mươi lăm năm bị nhồi nhét lập đi lập lại nhiều lần, bạn đã hoàn toàn bị thôi miên. Sự giải trừ thôi miên là điều cần thiết; bạn phải xoá bỏ hoàn toàn những thiết định đã được phủ lên bạn.
Vâng, đó đơn giản chỉ là chuyện sống còn, nhu cầu được tồn tại. Ðứa trẻ muốn được sống. Ðó là lý do tại sao nó phải bắt đầu biết thỏa hiệp, mặc cả. Ðối diện với vấn đề sinh tử, bất cứ ai đều cũng phải mặc cả. Nếu bạn đang nằm chết khát trong sa mạc và ai đó đang có bình nước trong tay. Khi mà bạn đang khát, đang sắp chết đến nơi, y có thể đòi hỏi bạn phải trả với bất cứ giá nào. Y có thể ra lệnh, «Hãy bò đến và hôn chân ta» và bạn sẽ bò, sẽ hôn chân hắn. Y có thể sai khiến bất cứ chuyện gì, y có thể bắt buộc bạn nhiều thứ. Ðó là tất cả những gì mà chúng ta đang đối xử với trẻ con hiện nay.
Dĩ nhiên tôi không hề bảo bạn là nên đi tìm giết cha mẹ mình. Họ cũng chỉ là những nạn nhân như bạn thôi. Họ chỉ là những nạn nhân của xã hội này, của cha mẹ họ. Và những bậc cha mẹ này cũng là nạn nhân của cả một chuổi dây chuyền dài cay độc đó.
Thế nên những điều tôi nói ra không cố ý biến cha mẹ bạn trở thành những kẻ tội phạm. Hãy nên thương họ vì cùng với bạn họ cũng chỉ là những kẻ đồng hội đồng thuyền. Mà thật ra tình huống của bạn còn khá hơn họ -ít nhất là bạn cũng còn nghe được những tiếng nói khác, ít nhất là cánh cửa đời của bạn cũng được hé mở, ít nhất là có một chút tĩnh thức để bạn có thể thoát ra. Ðiều đó cha mẹ bạn đã không có được bởi vì họ đã đến với giáo hội, đến nhà thờ, đến Giáo hoàng, đến shankaracharya -trong khi đó bạn đã đến với tôi. Ðó là điều khác biệt lớn lao.
Giáo hội, Giáo hoàng, đang làm dịch vụ phục vụ xã hội; Chúa Giêsu không làm công việc này, hãy nhớ cho như vậy. Chúa Giêsu không phải là giáo hội, tôi không phải là giáo hội và Ðức Phật cũng thế. Lúc Ðức Phật còn tại thế, mọi người đã đến với Ngài, họ là những người may mắn. Khi Phật giáo trở thành một giáo hội, nó bắt đầu làm dịch vụ xã hội. Một khi tôn giáo đi vào dịch vụ phục vụ xã hội, một khi tôn giáo trở thành một cơ chế thiết định, nó không còn là một tôn giáo nữa, nó là chính trị. Nhà thờ, đền thờ, thánh đường Hồi giáo đang làm dịch cụ phục vụ xã hội. Mohammed không làm công việc này, các vị adi shankaracharya cũng thế, tôi muốn nói đến những vị shankaracharya nguyên thủy - thế nhưng những shankaracharyas của Puri và của các giáo phái khác cũng đang làm dịch vụ cho xã hội.
Chỉ mới vài hôm trước đây một vị bác sĩ ở Poona đã viết cho tôi một bức thư. Bằng cách nào đó mà ông ta đã thuyết phục được một trong những vị shankaracharyas -có bốn vị shankaracharyas như thế tiêu biểu cho bốn hướng; tôi không biết đó là vị nào đã được thuyết phục để đến gặp tôi. Dĩ nhiên là ông ta đã đến thăm tôi một cách miễn cưỡng. Ðiều này cho thấy là vị bác sĩ này rất có ảnh hưởng. Vị shankaracharya này chắc là đã trú ngụ tại nhà của ông ta và bằng cách nào đó mà ông bác sĩ đã tìm cách sắp xếp chuyện này.
Ông ta đưa vị shankaracharya đến cổng và trong khi đang trò chuyện với Sant, vị shankaracharya này trông thấy một hành giả sannyasin đang đi ngang qua, tay trong tay với một hành giả sannyasin khác -một người nam và một người nữ- rất là đằm thắm yêu thương. Ông ta bỗng nhiên nổi giận và bảo, «Ðưa tôi ra khỏi nơi đây ngay lập tức. Cái gì vậy? Trò gì đây ? Thế mà dám bảo là tôn giáo hả?» Thì ra chiến tranh thì được chấp nhận, chiến tranh thuộc về tôn giáo, còn yêu thương thì không. Nếu hai người đang giết chóc lẫn nhau thì không có vấn đề -có khi còn được vinh danh là 'jihad', là thánh chiến- còn nếu hai người đang hôn nhau, thì là có vấn đề, là không thể chấp nhận! Ðiều này không thể được khoan thứ!
Ông ta bảo, «Hãy đưa tôi ra khỏi đây ngay lập tức. Tôi không muốn gặp người này. Hãy nhìn cung cách những đệ tử của ông ta. Họ sẽ hủy diệt cả xã hội này!»
Ðúng như vậy! Ðó là những điều mà tôi đang nỗ lực để làm. Tôi muốn giật sập cái cấu trúc này. Tôi hết lòng tán trợ yêu thương và chống lại chiến tranh.
Trong những bộ kinh thánh chiến tranh đã được tuyên dương còn tình yêu thì không bao giờ -bởi vì chiến tranh là dịch vụ phục vụ xã hội còn tình yêu thì không. Tình yêu được coi như là cái gì đó cực kỳ nguy hiểm, rất mực nổi loạn. Những kẻ yêu nhau trở thành kẻ phản-xã-hội -bạn hãy nhìn kỹ mà xem. Khi người ta yêu nhau người ta mãi nhìn vào nhau mà quên bẵng đi cả cái thế giới bên ngoài. Họ quay lưng lại với xã hội. Tình yêu tự nó cũng đã chống-xã-hội. Những kẻ yêu nhau sẽ tan biến vào nhau và không còn bận tâm đến bất cứ điều gì khác. Họ sẽ không mất công đi đến nơi đầu phiếu để bỏ thăm cho bất cứ ai -tại sao lại phải bận tâm đến những chuyện này? Họ cũng không cần phải lắng nghe ông hay bà thủ tướng đang nói cái gì. Họ cũng không thèm ngó ngàng đến báo chí, chỉ là những chuyện xe cán chó diễn ra hàng ngày. Họ dùng thời gian đó để ca hát, nhảy múa và yêu thương -hay là chỉ ngồi với nhau nhìn lên bầu trời để cùng đếm trăng sao.
Ðôi mắt họ tràn đầy một năng lượng hoàn toàn khác biệt, một thứ năng lượng với phẩm chất khác biệt. Họ đã không còn hiện hữu trong thế giới này. Họ đã bay bổng đến một nơi nào đó.
Tình yêu luôn luôn là mối nguy cơ cho xã hội, thế nên xã hội đã tìm cách bóp chết nó, tiêu diệt nó bằng những phương cách tế vi. Xã hội còn lại những con người hoàn toàn xơ cứng không tình cảm yêu thương. Những con người này rất dễ dàng uốn nắn, có thể đẩy cho làm bất cứ chuyện gì. Bạn có thể làm cho họ sợ hãi một cách dễ dàng. Hãy nhìn vào cái cơ chế vận hành: Khi bạn đang yêu, không ai có thể làm cho bạn sợ hãi. Không có nỗi sợ trong tình yêu. Thế nhưng khi bạn không yêu ai, bạn đã ở trong nỗi sợ; không có tình yêu thì chỉ còn cái chết, không còn cái gì khác. Chỉ có tình yêu mới có thể vượt qua nỗi chết, chỉ có tình yêu là bất tử -tất cả những gì còn lại trên trái đất này đều không thể vượt qua cái chết.
Cái ông shankaracharya đó đã vô cùng phẫn nộ. Sự phẫn nộ này cho thấy rất nhiều điều. Trước hết, ông ta chắc là người bị ẩn ức tình dục. Nếu không, tại sao ông ta lại nổi giận khi thấy đôi trai gái nắm tay nhau? Cô ta có phải là tình nhân của bạn đâu? Tại sao bạn lại phải giận dữ như thế? Nó xúc phạm đến bạn chăng? Có gì sai lầm trong chuyện này? Ðây là vấn đề ẩn ức sinh lý. Ông ta chắc chắn có một nỗi sợ hãi tiềm ẩn ở bên trong, đó là nỗi ám ảnh thầm kín riêng tư. Chàng thanh niên kia đã đánh thức dậy nổi ám ảnh này.
Những người này đang phục vụ cho một cơ chế đã thiết định và lẽ dĩ nhiên được hỗ trợ bằng mọi phương cách. Ðó là điều chắc chắn. Còn những người như tôi thì không thể nào được hỗ trợ bởi những cơ chế như thế. Chúng ta không hề tham dự vào cái âm mưu của họ. Thật ra họ đã để cho chúng ta sống yên cũng đã là một phép lạ. Cũng chỉ là chuyện chẳng đặng đừng thôi vì thời buổi này người ta đâu có thể giết người theo cái kiểu mà họ đã đóng đinh Chúa Giêsu hay bắt Socrates uống thuốc độc.
Con người đã trưởng thành phần nào, ý thức con người phần nào đã trở nên cảnh giác, tỉnh thức hơn. Ðây là thế kỷ hai mươi. Tuy nhiên họ vẫn tìm đủ mọi cách để ngăn chặn, cản trở.
Ðây không phải là chuyện tự nguyện. Thoạt trông thì thấy giống như vậy, bởi vì vào thời điểm bạn trở nên cảnh giác thì nó đã thấm sâu vào tận máu huyết, xương tủy của bạn rồi. Thế nhưng đó không hề là chuyện tự nguyện. Không có đứa trẻ nào chịu học bất cứ cái gì một cách tự nguyện -chúng ta bắt buộc chúng và sử dụng cả bạo lực.
Bạn có thể quan sát bất kỳ đứa trẻ nào. Mọi đứa trẻ đều phản kháng, chúng đấu tranh cho đến tận cùng, chúng luôn tìm cách tạo ra những vấn nạn cho cha mẹ, chúng đã vận dụng tối đa phương cách này để thoát ra khỏi cái cơ chế què quặt đó. Nhưng cuối cùng thì cha mẹ cũng kiểm soát được tình thế, bởi vì họ có nhiều quyền lực hơn. Ðây chỉ là vần đề của quyền lực và vô quyền, chỉ đơn giản như thế.
Thế nên cũng không phải là điều trái tự nhiên khi đứa trẻ lớn lên chúng bắt đầu phục thù lại cha mẹ. Ðây là một phản ứng dễ hiểu. Thật khó mà có thể tha thứ cho cha mẹ -thế nên tất cả mọi xã hội đều dạy dỗ bạn phải kính trọng họ. Vâng, nếu bạn không thể tha thứ cho họ thì hãy kính trọng họ; nếu bạn không thể yêu thương họ thì ít ra cũng nên kính trọng họ. Nhưng cái sự kính trọng này cũng chỉ là chuyện hình thức, giả dối. Trong tận cùng của bạn, vẫn còn ẩn chứa nỗi oán giận.
Nếu những điều mà tôi nói đây được lắng nghe, nếu những điều mà tôi nói đây một ngày nào đó vang vọng đến khắp thế giới, trẻ con lúc đó sẽ yêu thương cha mẹ chúng thật tình, chúng sẽ cùng hòa điệu với cha mẹ bởi vì cha mẹ lúc đó sẽ không còn là kẻ thù của con cái, họ sẽ là những người bạn.

Câu hỏi thứ tư:
Ngài có thể chỉ trong một vài câu ngắn gọn cho chúng tôi biết cái chìa khóa bí mật nhất của Thiền là gì?
Hãy buông xả.
Ðời sống chỉ hiện bày ra một cách rõ ràng nhất nếu bạn không bám chặt vào nó, khi bạn không còn dính mắc với nó, khi bạn không tích lũy, không là tên bủn xỉn, khi bạn thư giãn và sẳn sàng để buông bỏ, khi bàn tay rộng mở, không hề nắm chặt lại.
Ðời sống chỉ hiện bày một cách rõ ràng nhất nếu bạn không dính mắc với nó -dù là qua cảm xúc hay ý tưởng. Hãy chạm nhẹ vào và buông xả -đó là cái chìa khóa bí mật, là tất cả bí ẩn, tất cả nghệ thuật. Tất cả cái gì được giữ lại đều hư thối -tất cả mọi thứ, tôi bảo như vậy. Tích lũy cái gì tức là giết chết nó, bạn cứ tích trữ nó và rồi nó sẽ bay mùi sình thối. Lý do rất đơn giản là bất cứ cái gì sống, chuyển động đều chỉ có tính cách nhất thời. Trong khi giữ nó lại, bạn muốn biến nó thành thường hằng bất biến.
Khi yêu một người, bạn muốn chiếm hữu, bạn muốn nó thường hằng. Nó có thể vĩnh cữu nhưng không thường hằng. Phải hiểu rõ chuyện đó. Phải cố gắng để hiểu chuyện đó. Tuy nó chỉ là nhất thời nhưng nếu bạn sống trong một khoảnh khắc hoàn toàn buông bỏ, nó sẽ trở thành vĩnh cữu. Khoảnh khắc mà bạn sống trong trạng thái tâm thư giãn hoàn toàn đó chính là vĩnh cữu.Thế nhưng bạn đã không hề sống trong từng khoảnh khắc, bạn không hiểu thế nào là vĩnh cữu, nên bạn cứ muốn biến nó thành thưòng hằng, bạn cứ muốn giữ nó lại cho đến ngày mai, cho đến ngày mốt, cho đến năm tới, và đôi khi cho đến cả đời sau. Bạn chỉ muốn tích trữ nó.
Ba từ ngữ sau đây rất là quan trọng: nhất thời, thường hằng, và vĩnh cữu. Trong các tự điển thông tục, tiếng vĩnh cữu có vẽ được định nghĩa như là vĩnh viễn. Ðiều này hoàn toàn sai. Ðây không phải là ý nghĩa của vĩnh cữu, mà là thường hằng. Theo định nghĩa này thì thường hằng trở nên vĩnh cữu. Không phải vậy. Vĩnh cửu không phải là một sự kéo dài, vĩnh cữu là sâu lắng trong một khoảnh khắc. Vĩnh cữu vì thế lại là một phần của nhất thời, nó không hề chống lại cái nhất thời -thường hằng thì đối lập lại. Nếu bạn thể nhập sâu xa vào trong khoảnh khắc, ngưng đọng lại trong khoảnh khắc này, tan biến hoàn toàn vào nó, bạn sẽ nếm được hương vị của vĩnh cữu. Từng khoảnh khắc bạn sống một cách trọn vẹn và thư giãn, đó chính là cuộc sống vĩnh cữu. Vĩnh cữu luôn luôn là hiện tại. Cái bây giờ là một phần của vĩnh cữu, không phải là một đơn vị của thời gian.
Hãy trôi đi - như một ngọn lá trôi theo suối nguồn.
Ba Tiêu (Basho) (9) há đã từng ngợi ca :
Khi ánh chớp bùng lên
Ðáng phục thay người đang sống trong vô niệm
Dòng đời như bóng câu
Một bài thơ tuyệt diệu. Ðây là nét đẹp tuyệt vời của Thiền gia -bạn không thể tìm được nó ở bất cứ nơi nào. Ðây là một cái gì đó rất nhất quán trong Thiền. Các giáo sĩ, tăng lữ bình thường cũng nói tương tự như thế, rằng cuộc đời là ngắn ngủi, trôi qua nhanh chóng, như bóng câu. Thế nhưng họ đã tạo ra một khao khát níu kéo lại ở trong bạn, họ tạo ra sự tham cầu ở trong bạn. Họ còn tạo ra sự tham cầu vào một thế giới khác: cõi trời, thiên đàng, niết bàn, và bao nhiêu thứ nữa. Cuộc sống này qua nhanh. Trước khi nó trôi qua, hãy dùng thời gian này và tích chứa một cái gì đó cho đời khác -một vài đức hạnh, công đức-punya.
Hãy lắng nghe Ba Tiêu:
Khi ánh chớp bùng lên
Ðáng phục thay người đang sống trong vô niệm
Dòng đời như bóng câu
Và cũng nhà thơ này :
Mới buổi sáng quạ kêu
Buổi tối đà chợt đến.
Hạt sương đời thoáng qua.
Như đoá hoa phù dung
Ðâu cần ai nhận biết
Vẫn tiếp tục đơm hoa
Một đời ngắn trọn vẹn
Hãy để cho câu thơ này thấm sâu vào bạn: Một đời ngắn trọn vẹn. Ngắn ngủi nhưng trọn vẹn. Ðoá hoa phù dung rất được Thiền gia ưa chuộng bởi vì nó nở vào buổi sáng và tàn lụi vào buổi chiều. Mới buổi sáng nó có mặt ở đó, tươi đẹp làm sao, chân thực nhường nào nhưng khi chiều đến thì cánh hoa đã tàn úa, rơi rụng xuống mặt đất, sẵn sàng tan biến vào hư không.
Hoa phù dung là một biểu tượng chân thực của đời sống. Vào buổi sáng nó nở hoa và trong cái mảnh đời nhỏ bé ngắn ngủi đó, nó đã sống rất là trọn vẹn, rất hoàn chỉnh. Không có bất kỳ một khiếm khuyết nào. Chỉ một vài khoảnh khắc như thế là đủ, là đạt đến vĩnh cữu.
Bạn có thể sống đến bảy mươi năm nhưng bạn không hề sống chút nào. Kẻ tích trữ không bao giờ sống, kẻ bủn xỉn không bao giờ sống.
Bạn hỏi tôi : Ngài có thể chỉ trong một vài câu ngắn gọn cho chúng tôi biết cái chìa khóa bí mật nhất của Thiền là gì ? Hãy buông xả, Hãy chạm nhẹ vào và buông xả.
Dogen (10) trình với sư phụ: «Con đã thực chứng được việc buông bỏ thân tâm.»
Thiền sư Nayojo la lên, «Thế thì ngươi còn chờ đợi gì nữa mà không buông bỏ luôn cái buông bỏ đó ?»
Dogen thoáng một chút lưỡng lự, ông ta chưa hiểu nổi. Vị thiền sư gõ mạnh vào đầu ông ta -Thế là Dogen cười phá lên. Dogen đã chứng ngộ. Ông ta qùy xuống trước sư phụ và vị Thiền sư tiếp, «Ðó là buông bỏ cả sự buông bỏ.»
«Ðó là buông bỏ cả sự buông bỏ.» Ðấy mới là sự thư giãn hoàn toàn. Ðấy mới là sự buông xả hoàn toàn. Ngay cả niết bàn cũng phải được buông bỏ. Ngay cả Thượng đế cũng phải được buông bỏ. Buông bỏ luôn cả tinh thần, cả thiền quán. Thiền quán chỉ hoàn hảo khi nào thiền quán được buông bỏ. Khi bạn đạt ngộ bạn cũng quên luôn cả sự giác ngộ. Ðây mới đúng là hoàn toàn thư giản, là buông xả thật sự.
Ngay trước khi viên tịch, ở vào tuổi sáu mươi, thiền sư Bashui (11) bỗng ngồi dậy trong tư thế kiết già và nói với những người tụ tập chung quanh, «Ðừng để bị lừa dối. Cứ nhìn thẳng vào. Cái gì đây ?» Vị Thiền sư đang hấp hối. Mọi người đang ở trong tình trạng canh chừng. Họ nghĩ là ông sắp qua đời nhưng rồi bỗng dưng ông ngồi dậy trong tư thế kiết già. Ðây là điều không ai ngờ. Có thể họ đang ngủ gà ngủ gật, nhưng bây giờ thì hẵn là họ phải tỉnh người dậy, không còn lơ mơ nữa. Cái ông già này đang làm gì đây? Và họ nghe ông ta la lớn đến ba lần : «Ðừng để bị lừa dối. Cứ nhìn thẳng vào. Cái gì đây?» Rồi ông ta cười sảng khoái, hoàn toàn thư giản, té xuống và qua đời.
Chết trong một phong cách thư thái như thế và sống trong một phong cách thư thái như thế được gọi là Thiền -đó là tất cả bí ẩn, tất cả nghệ thuật.

Câu hỏi thứ sáu:
Như vậy một điều khá rõ ràng là Thượng Ðế không hiện hữu và những phù thủy cũng không hiện hữu. Thế còn một người giác ngộ?
Tôi chưa hề được nghe nói đến bất cứ ai.

Câu hỏi thứ bảy:
Bhagwan, tại sao Ngài không đánh thức tôi ngay từ bây giờ ?
Bởi vì ngay lúc này bạn chưa phải là bạn. Nếu tôi đánh thức bạn có thể làm ai đó thức dậy.
Hãy nghe giai thoại sau đây.
Một người chào hàng đi ngang qua một thành phố lớn của miền Nam, đang tìm một khách sạn để trú chân qua đêm. Trời đã chạng vạng tối và y thì đã trải qua một ngày làm việc mệt nhọc, nhưng tìm đến khách sạn nào cũng đều bị hết chỗ. Y lội kiếm khắp nơi và cuối cùng, rất mực tuyệt vọng, lần đến một khách sạn tồi tàn nằm trong khu ổ chuột có tấm bảng treo trước cửa: "Chỉ dành cho người da màu."
Viên quản lý từ chối thẳng thừng: "Yeah. Ở đây còn phòng nhưng ta không bao giờ cho cái bọn da trắng khốn nạn mướn đâu!"
Bước trở ra, lội bộ hơn cả dặm đường vẫn không tìm được chỗ nào, y nảy ra ý tưởng. Y chạy đi mua một hộp kem đánh giày màu đen, vào phòng vệ sinh, bôi trét lên mặt mũi và đôi tay, xong quay trở lại cái khách sạn hồi nảy, bảo người quản lý: "Này, người anh em, còn phòng nào trống không?"
Viên quản lý chấp nhận và y khoan khoái rơi vào giấc ngủ sau khi không quên nhờ người quản lý đánh thức mình dậy đúng vào lúc 6 giờ vì y sẽ phải đáp chuyến bay vào lúc 7 giờ.
Buổi sáng có tiếng dộng cửa phòng và tiếng người quản lý dội vào: "Thức dậy, thức dậy. Bảy giờ kém 15 rồi. Tôi quên mất việc đánh thức ông bạn."
Thế là y hối hả chụp lấy túi xách, nhảy vội vào taxi phóng đến phi trường, võn vẹn chỉ còn đúng 3 phút trước khi phi cơ cất cánh. Chộp vội tấm thẻ lên tàu và khi chạy đến cửa y bị người tiếp viên chặn lại: "Chuyến bay này không có chỗ cho bọn đen."
"Nhưng tôi không phải da đen! Tôi không phải da đen!" Người chào hàng kêu lên, "Rồi tôi sẽ chứng minh cho thấy!" Y đâm bổ vào phòng vệ sinh chùi tay và mặt như điên. Nhưng không dễ gì chùi sạch được màu đen. Y lại tiếp tục kỳ cọ và khi nhìn vào tấm gương, y rên lên: "Trời đất ơi! Chắc là lão quản lý đánh thức lộn người rồi!"
Thế nên cứ việc thong thả. Tất cả mọi chuyện đều đúng thời đúng lúc. Không có gì phải hấp tấp và không nên mất kiên nhẫn.
Ðã không thiếu những trường hợp xảy ra là một người ngẫu nhiên tỉnh thức. Thế là y phát khùng lên, y nhất định phải phát khùng. Y không có khả năng để tiếp thụ một điều lớn lao như thế. Nhưng mà chuyện này vẫn thỉnh thoảng xảy ra. Có không biết bao nhiêu người chung quanh thế giới này -ngay cả phút giây hiện tại- đã phát khùng lên như thế khi bị rơi vào một cái gì đó mà họ chưa sẵn sàng để tiếp thụ. Những nhà huyền môn Sufis biết rất rõ chuyện này.
Tại Ấn, những người này được gọi là mastas -những người khùng, "mát" giây -những người rất tuyệt vời nhưng bất định hướng. Thế giới đã rời xa, cơn ác mộng xưa đã tắt, nhưng một bình minh mới vẫn chưa xuất hiện. Bóng đêm qua rồi nhưng ngày còn chưa đến thế là họ lửng lơ ở khoảng giữa, trong một trạng thái u u minh minh.
Phải đúng thời và đúng lúc -vị Thiền sư là người không ngừng tìm kiếm cái khoảnh khắc đúng lúc này. Chỉ ngay trong khoảnh khắc đó mới có thể có sự bùng vỡ, ngoài ra bộ thần kinh của bạn sẽ không có đủ khả năng để tiếp thụ nó. Nó quá mức cho một vụ nổ bùng trí tuệ, nó sẽ làm bạn vỡ tung ra thành từng mảnh. Trừ phi sự tỉnh thức xảy đến đưa bạn hòa điệu vào trong một thể thống nhất, nó sẽ không mang một ý nghĩa nào cả. Chỉ tỉnh thức đơn thuần sẽ không giúp gì cho bạn, nó đồng thời phải được biến thành một thể thống nhất. Bạn tỉnh thức và đồng thời trở thành trung tâm của tỉnh thức này. Còn nếu như sự tỉnh thức của bạn làm bạn vở vụn ra từng mảnh, đánh mất đi cái nhất thể của bạn, nó sẽ chẳng ích lợi gì cả, chẳng có giá trị gì cả.
Như vậy thà rằng sống trong tình trạng cũ vẫn còn hơn bởi vì lúc đó bạn còn có thể vùng vẫy, còn có thể cố gắng để thử -bây giờ thì bạn còn cơ hội nào để thử nữa đâu.
Một trong những bậc Thầy vĩ đại của thế kỷ này, Meher Baba (12), đã làm việc không ngừng cho những người khùng này trong rất nhiều năm. Ông đã tới lui khắp cả xứ Ấn Ðộ. Ðây là một trong những công việc hiếm hoi mà ta ít thấy một vị Thầy nào đã làm -đi tìm kiếm những người khùng, những người không còn tự mình làm được bất cứ công việc gì, những người đã mất hết tất cả lý trí. Cái bản ngã của họ đã vỡ ra nhưng mà tâm thức vô ngã chưa xuất hiện. Một cách đơn giản, họ sống trong trạng thái thụ động, không biết mình là ai, không biết mình đang ở đâu, không biết mình đang làm gì.
Meher Baha đã đi khắp xứ Ấn Ðộ, suốt từ làng này qua làng khác, để tìm kiếm những người khùng này -ông ta đã tìm được rất nhiều người và cũng đã giúp đỡ rất nhiều người. Chỉ có những bậc Thầy mới có đủ khả năng để giúp đỡ những người này bởi vì họ hoàn toàn không thể tự lo liệu được, họ chẳng khác gì những đứa trẻ. Bạn phải đút cho họ ăn. Họ có thể ăn ở đó, bài tiết ở đó, và nằm lăn ra ngủ luôn cũng tại chỗ đó. Họ chẳng có ý thức phân biệt nào cả. Ðối với những người này, vị Thầy có thể kéo lùi họ trở lại với cuộc sống bình thường để họ có thể bắt đầu cuộc hành trình tâm linh trở lại hoặc cố gắng kéo họ lên một cung bậc cao hơn. Nhưng đây là những công việc vô cùng khó khăn, vô cùng phức tạp.
Bề nào thì bạn cũng không nên mất kiên nhẫn. Tin vào đời sống. Tin một cách sâu xa. Mọi chuyện rồi chắc chắn sẽ phải xảy ra ngay cái khoảnh khắc đúng lúc này. Không cần phải khao khát chuyện đó.

Câu hỏi thứ tám:
Tôi được nghe nói rằng người mà ta yêu thật sự không bao giờ hiện hữu mà chỉ là một sự phóng chiếu được nhìn qua lăng kính của tâm lên bất cứ cái gì mà nó thẩm tra cảm thấy phù hợp và ít méo mó nhất. Ngài có thể giải thích thêm về vấn đề này?(13)
Câu hỏi này từ Neeravo.
Câu hỏi này không cần để giải thích thêm. Ðiều bạn nghe tuyệt đối đúng. Chuyện nó là như vậy. Ðó là một sự thực khá đơn giản.
Chúng ta cứ tiếp tục phóng chiếu, chúng ta cứ tiếp tục nhìn những gì mà chúng ta muốn nhìn. Chúng ta không bao giờ chịu chấp nhận thực tại đúng y như vậy. Chúng ta không bao giờ chấp nhận nó được phản chiếu vào tấm gương soi của ta. Chúng ta cứ tiếp tục mang theo những ý nghĩ, ham muốn, tư tưởng, và tiếp tục phóng chiếu chúng.
Ðiều này xảy ra nhiều hơn trong tình yêu bởi vì khi yêu bạn hầu như đang phiêu du trên chín tầng mây. Bạn ở trong trạng thái lâng lâng như đang xài ma túy, trong bạn như có chất kích thích tố tuôn tràn, như có những phản ứng hóa học đang xảy ra. Bạn bị tác động bởi những phản ứng hóa học này và nhìn mọi việc khởi đi từ đó. Bạn trở thành một người hoang tưởng, một kẻ đang nằm mộng. Và người mà bạn đang yêu chẳng hề có trách nhiệm gì về chuyện này. Chàng hay nàng có thể chỉ là một tấm màn hình. Người gặp rắc rối chắc chắn là bạn mà không ai khác.
Khi tình yêu xảy đến với một tâm thức như thế thường mang đến khổ nạn -đó là lý do tại sao lại có quá nhiều khốn khổ trên thế gian này. Thế nên trước khi tình yêu thực sự xảy ra ta cần phải hết sức lưu tâm. Ta phải ở trong tình trạng tỉnh táo để không còn một áng mây mờ che phủ trước mắt ta và như vậy ta sẽ nhìn người ta yêu một cách trung thực.
Nhưng trước khi nhìn người trung thực ta cũng cần phải nhìn lại mình một cách trung thực như thế. Ðó là bước đầu tiên phải được thực hiện trong trạng thái tự phản tỉnh, đầy tự giác -có như vậy bạn mới không còn phóng chiếu. Và rồi một khi cái máy chiếu ngưng lại, không còn hoạt động, đó là lúc bạn nhìn người với những hình ảnh chân xác nhất. Lúc đó sẽ không bao giờ còn bực bội thất vọng nữa -bởi vì bạn đã hiểu rõ người ấy. Bạn đã hiểu rất kỹ. Nếu bạn đi đến quyết định thì đó chính là chọn lựa của bạn, một chọn lựa đầy hiểu biết, cân nhắc với ý thức soi sáng. Và rồi bạn sẽ biết việc gì sẽ xảy ra. Tất cả đều đã được soi chiếu trong bạn. Bạn không còn phải chán nản thất vọng.
Chán nản thất vọng bắt nguồn từ hoài vọng mà hoài vọng chỉ là phóng chiếu của chúng ta. Tất cả mọi thứ tình yêu thương đều đưa đến chán nản thất vọng ngoại trừ tình yêu thương đặt căn bản trên quán tưởng.

Câu hỏi thứ chín:
Những hành trình tìm kiếm nào được xem là không do cái đầu phát khởi?
Tất cả mọi hành trình tìm kiếm đều phát khởi từ cái đầu. Những hành trình như thế đều là sản phẩm của trí óc. Trái tim không đi đâu hết. Nó không hề biết đến một cuộc hành trình, hành hương nào cả. Nó là BÂY GIỜ và Ở ÐÂY.
Khi tất cả mọi hành trình này tan biến đi, bạn đến đích. Hành trình tìm kiếm đưa bạn ngày càng rời xa chân lý. Thế nên bất cứ bạn đang đi đến nơi đâu, bạn đang đi với sự trợ lực của cái đầu. Cái đầu chẳng khác gì con ngựa. Bất cứ nơi nào mà bạn muốn đến -không cần biết đó là Ðề-Li, Hoa-Thịnh Ðốn hay thiên đàng- cái đầu là con ngựa, nó sẽ đưa bạn đến. Vâng, nó đưa bạn đến khắp hết mọi nơi ngoại trừ nơi mà bạn đang có mặt. Muốn đến chỗ này bạn không còn cách nào khác hơn là giết bỏ con ngựa, phải giết con ngựa này đi, phải là tên sát nhân loại trừ cái tâm viên ý mã này không thương tiếc.
Bạn phải sống trong vô niệm. Khi trí đã buông, tâm tĩnh lặng, bạn đâu còn có thể đi đến chỗ nào? Bạn là BÂY GIỜ và Ở ÐÂY, và đó cũng chính là Thượng Ðế, là niết bàn.

Câu hỏi thứ mười:
Ngài yêu thương chúng tôi nhưng mà thực ra Ngài có thích chúng tôi không?
Ðây đúng là một câu hỏi quái quỷ! Tôi yêu thương bạn chuyện hẵn nhiên rồi nhưng tôi không thể thích bạn bởi vì tôi không thể không thích bạn.
Thích và không thích là một phần của tâm phân biệt, của nhị nguyên tính -khi bạn đứng về một phía. Thích và không thích là một phần của sự lựa chọn. Tôi không lựa chọn. Tôi yêu thương bạn nhưng tôi không thể nói thích bạn bởi vì tôi không thể nói rằng tôi không thích bất kỳ ai đó. Thích và không thích luôn gắn chặt với nhau. Nếu tôi phải thích ai đó thì tôi cũng sẽ phải không thích ai đó, và như vậy luôn luôn có một cái giá phải trả.
Ðây là câu hỏi của Rakesh. Nếu tôi yêu thương Rakesh chuyện đó sẽ không có vấn đề với bất cứ ai khác. Tôi có thể yêu thương tất cả mọi người như nhau. Tôi có thể yêu thương tất cả mọi sinh thể. Yêu thương Rakesh không hề có sự cạnh tranh; yêu thương Rakesh tôi không bị buộc phải khước từ ai ra khỏi tình yêu thương của tôi. Tình thương yêu vô cùng bao la có thể chứa đựng được tất cả.
Trong khi "thích" thì rất là hạn hẹp. Nếu tôi thích Rakesh thì có thể tôi sẽ phải không thích Big Prenn -vì quả là điều khó khăn khi chọn lựa cả vợ lẫn chồng. Không, tôi không hề thích và cũng không hề không thích. Tôi yêu thưong bạn, chăc chắn là yôi yêu thương bạn.

Câu hỏi thứ mười một:
Không có thật, cũng không có giả,
Nó là gì, nó được hiện bày.
Ai cũng có thể đồng ý điều sau đây
rằng một cái cây là một cái cây,
nhưng con chó có nghĩ như thế?
Ðây là câu hỏi của Satprem.
Không có thật, cũng không có giả,
Nó là gì, nó được hiện bày.
Ðấy là chân lý. Nó là gì, nó được hiện bày. Ðó là tất cả ý nghĩa của chân lý.
Ai cũng có thể đồng ý điều sau đây
rằng một cái cây là một cái cây,
nhưng con chó có nghĩ như thế?
Con chó nghĩ rằng cái cây là nhà cầu để nó đi tiểu!

Và câu hỏi cuối cùng:
Bhagwan, làm sao chúng tôi có thể biết chắc lúc nào thì Ngài nói đùa còn lúc nào Ngài nói chuyện nghiêm túc?
Bất cứ lúc nào tôi đang nghiêm túc biết rất rõ là tôi đang đùa cợt và bất cứ lúc nào tôi đang đùa giỡn biết rất rõ là tôi đang nghiêm túc.
Tôi chỉ đùa vì vấn đề rất mực nghiêm túc và đó là cách thế duy nhất để nói về nó. Bằng không, quả thực là rất khó, vô cùng khó khăn. Mà tôi thì không phải là người bạo động.
Vâng tôi hiểu được những vấn nạn của bạn. Tôi đã làm bạn bối rối.
Tổng Thống Abraham Lincoln thường hay kể chuyện tếu sau đây về mình. Ông ta nổi tiếng là vị tổng thống khéo pha trò của Mỹ lúc đó.
Hai bà Tin Lành giáo phái Amish đang nói chuyện với nhau.
"Bồ nghĩ là ai sẽ thắng cuộc chiến tranh này?" một người hỏi.
"Miền Nam," người bạn trả lời.
"Tại sao?"
"Bởi vì nghe đâu Jefferson Davis là người luôn cầu nguyện."
"Nhưng mà ông già Abraham cũng luôn cầu nguyện mà?"
"Thì đúng như vậy. Nhưng mà Chúa sẽ nghĩ là ông già Abe đang đùa."
Vâng, đó cũng là vấn nạn của tôi đối với Thượng Ðế. Thỉnh thoảng tôi cũng không thể làm cho Thượng Ðế tin là tôi đang nghiêm túc, còn bạn thì sao? Ðây là bản tính tự nhiên thôi. Nhưng mà tôi sẽ cho bạn sự gợi ý này: Bất cứ lúc nào mà tôi đang đùa cợt bạn có thể chắc chắn rằng lúc đó tôi đang nghiêm túc và bất cứ lúc nào tôi đang nghiêm túc bạn có thể chắc chắn rằng lúc đó tôi đang đùa cợt.
Xem tiếp Chương 7 - Quay về Mục lục Tập 1 Quay về Mục lục Toàn tập

Ads Belove Post