Chương 6. Vào vùng hoang dã

Chương 6. Vào vùng hoang dã

Price:

Read more

Osho - Thiền: Con đường nghịch lý (Tập 2)
Chương 6. Vào vùng hoang dã


Câu hỏi thứ nhất:
Tôi đã năm mươi mà hình như tôi thấy mình vẫn chưa thực sự chín chắn, trưởng thành. Có vấn đề gì không vậy, thưa ngài?
Có thể bởi vì bạn chưa hề giết ai cả. Đây là điều bắt buộc. Nếu bạn muốn trở thành chín chắn, bạn phải trở thành một tên sát nhân chuyên nghiệp. Trừ phi bạn ra tay hạ thủ một vài người, bạn sẽ không bao giờ trưởng thành. Bạn phải giết chết cha mẹ mình, những ông thầy giáo mình, những người lãnh đạo của mình. Giết hết. Phùng Phật sát Phật, phùng Tổ sát Tổ. Đó là tất cả những tiếng gào thét ầm ĩ ở trong bạn, không để cho bạn thực sự trở thành một người trưởng thành -chúng tiếp tục giữ mãi bạn trong tình trạng trẻ con. Chúng làm bạn sống kiếp thân tằm gửi, không cho phép bạn trở thành độc lập.
Có lần một đệ tử của Phật sắp rời ngài để đi hoằng pháp phương xa. Khi vị tì khưu này đến phủ phục và sờ vào chân Phật, ngài đã gia bị cho ông ta rồi nói với tất cả hội chúng, "Các ngươi có thấy thầy sa môn được gia bị này không? Ông ta đã đã giết mẹ mình, đã giết cha mình, đã giết tất cả họ hàng thân thích, và cả quốc vương của mình." Cả đồ chúng rất mực sửng sốt, không tin vào cả lỗ tai của mình -"Đức Thế Tôn đang nói cái gì vậy?"
Một đệ tử thu hết can đảm bạch Phật, "Bạch Đức Thế Tôn, Ngài đang dạy bảo chúng con điều gì? Phải chăng Thế Tôn bảo rằng một kẻ sát nhân cũng có một vài đức hạnh? Và ngài cho rằng y được gia bị?" Đức Phật mĩm cười và bảo đồ chúng, "Không những thế, ông ta còn giết luôn cả chính mình -ông ta đã tự sát." Nói xong Đức Phật liền diễn giải ý tưởng này bằng cách ngâm lên một bài pháp cú, một thi kệ.
Tất cả mọi người đều đã được nuôi dưỡng như là một đứa trẻ. Đó là cách thế đầu tiên mà bạn vào đời; đó cũng là cách thế mà bạn đã được đào luyện qua năm tháng, ở mãi trong tình trạng trẻ con. Tất cả mọi chuyện đâu đó đã có trật tự nền nếp, và bạn chỉ có việc vâng lời. Bạn đã trở thành một con người rất mực ỷ lại -luôn luôn trông chờ lời dạy bảo của những bậc cha chú, những kẻ quyền hành cho phép bạn cái gì nên làm, cái gì không được làm.
Chín chắn trưởng thành có nghĩa là có đủ nhận thức hiểu biết để tự mình quyết định, có đủ nhận thức hiểu biết để đưa ra quyết định tối hậu của riêng mình. Để đứng vững trên đôi chân của mình -đó có nghĩa là chín chắn trưởng thành. Nhưng đây là điều hiếm khi xảy ra, bởi vì các bậc cha mẹ không ít thì nhiều hầu như đã làm hư con mình. Rồi tiếp đến là các trường học, cao đẳng, đại học - tất cả đã tiếp tục làm hư hỏng bạn. Thế cho nên quả là một điều hiếm hoi khi có ai đó trở nên chín chắn trưởng thành.
Cái xã hội này không có chỗ cho những người chín chắn trưởng thành. Đối với họ, những người sống trung thực với chính mình là loại người nguy hiểm. Đây là con người tiếp tục thực hiện những công vìệc theo cách riêng của mình -y không buồn quan tâm đến người ta đang nói gì, bình phẩm như thế nào. Y không hề thèm muốn sự kính trọng, uy tín, cũng chẳng buồn quan tâm đến danh dự, tiếng tăm. Y sống trọn cuộc đời thực của riêng mình - với bất cứ giá nào. Y sẵn sàng hy sinh mọi thứ, ngoại trừ sự tự do của mình.
Xã hội này lo sợ những con người chín chắn trưởng thành như thế; họ muốn mọi người luôn ở mãi trong tình trạng trẻ con. Họ muốn giữ mọi người ở mãi trong lứa tuổi từ bảy đến mười bốn -và xã hội này quả thực gồm toàn những con người như thế.
Trong cuộc Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất vừa qua, lần đầu tiên các nhà tâm lý học bắt đầu để tâm đến hiện tượng khác thường này. Đây cũng là lần đầu tiên người ta thực hiện một cuộc nghiên cứu về độ tuổi tâm trí của con người trên một diện rộng, đối tượng là giới binh sĩ. Kết quả của sự khám phá này cũng rất mực khác thường: giới binh sĩ có độ tuổi tâm trí trung bình ở lớp tuổi mười hai. Thể xác của bạn có thể ở lớp tuổi năm mươi, thế nhưng tâm trí của bạn vẫn ở trong tình trạng của một đứa trẻ con ở dưới lớp tuổi mười bốn.
Trước lớp tuổi mười bốn bạn rất dễ bị nhồi nhét, uốn nắn -bởi vì sau lứa tuổi này sẽ rất khó khăn. Khi một đứa trẻ bước vào tuổi mười bốn, nếu y chưa từng bị uốn nắn thì sẽ không bao giờ còn cơ hội để uốn nắn y nữa -bởi vì một khi khả năng tính dục phát triển, y sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Trước lớp tuổi mười bốn, y yếu đuối, ủy mị, mang đầy nữ tính, và bạn có thể nhồi nhét bất cứ thứ gì vào đầu óc y -y dễ bị ám thị và bạn có thể thôi miên hoá y rất dễ dàng. Bạn có thể nói với y đủ mọi điều bạn muốn và y sẽ lắng nghe, tin tưởng vào những điều bạn nói.
Sau tuổi mười bốn, luận lý bắt đầu nảy sinh và hoài nghi xuất hiện. Sau tuổi mười bốn tính dục phát triển, đứa trẻ bắt đầu trở nên độc lập. Bây giờ thì cậu bé đã có thể trở thành một người cha, cô bé đã có khả năng trở thành một người mẹ. Như thế đó, thiên nhiên, sinh học đã biến một người trở nên độc lập hơn đối với cha mẹ ở lớp tuối mười bốn.
Người ta đã nhận ra điều này từ thuở xa xưa ngay cả trước khi những nhà tâm lý học có mặt trên thế gian này. Các giáo sĩ cũng đã biết được điều này rất lâu -họ đã lưu tâm quan sát cả hàng ngàn năm và nhận ra rằng: Nếu bạn muốn uốn nắn nhồi nhét một đứa trẻ, nếu bạn muốn biến đứa trẻ thành một người lệ thuộc, phải thực hiện sớm - sớm chừng nào tốt chừng nấy. Nếu có thể thực hiện trước khi đứa trẻ lên bảy, kết quả là chắc chắn. Nếu không thể hoàn tất trước tuổi mười bốn, sẽ không có khả năng để làm việc này nữa.
Đó là lý do tại sao tất cả đủ mọi hạng người đều đặc biệt quan tâm đến trẻ con và nền học vấn của chúng. Tất cả các tôn giáo cũng có cùng một mối quan tâm như thế, họ cho rằng trẻ con nên được cho hấp thụ nền giáo dục tôn giáo. Tại sao? Bởi vì trước khi chúng trở nên độc lập, đầu óc của chúng cần phải được điều kiện hoá.
Thế cho nên nỗ lực lớn lao nhất của một người thực sự muốn tự do, thực sự muốn trở nên tỉnh giác, thực sự muốn giải trừ thôi miên -không còn bị ràng buộc trong bất kỳ giới hạn nào mà là chan hoà cùng với vạn hữu- y chỉ cần buông bỏ tất cả những gì đã chất chứa lâu đời ở bên trong mình. Đó là điều mà tôi nói, khi Đức Phật bảo rằng, ngươi phải giết mẹ ngươi và cha ngươi, điều đó không có nghĩa là bạn phải thực sự đi tìm giết cha mẹ mình -nhưng là ảnh hưởng của người cha, người mẹ mà bạn luôn mang theo trong con người mình, tức là cái ý tưởng.
Quan sát và để ý rồi bạn sẽ nhận thấy điều này. Có khi bạn đang sắp sửa làm một chuyện gì đó, bỗng nhiên bạn như nghe tiếng nói của mẹ mình vẳng lại: "Không được làm cái này!" Bạn có thể chú tâm theo dỏi để rồi bạn sẽ nghe được cái âm thanh này, một âm thanh thực sự -giống như một cuộn băng thu âm được phát lại trong tâm thức bạn. Bạn đang ăn khá nhiều một món kem thích khẩu: Để ý mà xem. Đột nhiên trong một khoảnh khắc nào đó, tiếng nói của mẹ bạn như ở cõi mơ hồ nào đó vọng lại trong đầu: "Đừng có ăn cho lắm vào. Đủ rồi. Ngưng đi!" Thế là trong khoảnh khắc đó, bạn bắt đầu có cảm giác như mình đang phạm tội.
Nếu bạn đang sắp sửa làm tình với người yêu, đột nhiên ở đâu đó trong bạn, tất cả các ông thầy giáo cũ đứng sắp hàng nối đuôi nhau, lên tiếng: "Mi đang sắp sửa phạm một tội ác. Thật là tội lỗi, tội lỗi. Hãy coi chừng! Đó là cái bẩy. Đào tẩu đi trước khi quá trễ." Ngay cả trong khi đang âu yếm với vợ, bạn cũng có hình bóng của cha mình, mẹ mình, thầy giáo mình thấp thoáng ở đâu đó cản ngăn, huỷ diệt.
Quả là điều hiếm hoi nếu như ta tìm ra được một người nam hay nữ hoàn toàn bước vào tình yêu một cách trọn vẹn -bạn không thể. Bởi vì trải qua bao nhiêu năm tháng bạn đã được nhồi nhét rằng chuyện yêu đương trai gái là chuyện bậy bạ -như vậy làm sao bạn có thể buông bỏ cái ý niệm này một cách dễ dàng mau chóng được?
Trừ phi bạn có đầy đủ năng lực để giết chết tất cả những tiếng nói cứ mãi vọng lên kia... nó đòi hỏi một sự can đảm phi thường. Và theo tôi, đó cũng là ý nghĩa đích thực của một người sa môn. Tôi có cái định nghĩa của riêng mình về sa môn: Đó là một người sẵn sàng quăng bỏ tất cả những tiếng nói của cha mẹ mình trong thẳm sâu tiềm thức, tất cả những uy quyền đã từng bao chặt lấy mình, tự mình sẵn sàng bước vào nơi vô định không cần đến bản đồ trên tay. Đó là người sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro.
Chuyện kể rằng, Alexander Eliot (2) đang theo học với một vị Thiền sư. Hàng tháng trôi qua ông đã thực hành các công phu thiền quán, tọa thiền và đã đi sâu hơn vào bản thể uyên nguyên của mình. Một đêm ông ta nằm mơ, một giấc mơ khác thường. Đối với Thiền gia, người ta không lạ gì với những giấc mơ loại này, nhưng với Eliot, một người Tây phương, đây là một giấc mơ quái lạ đã làm ông sửng sốt. Ông đã kể lại giấc mơ của mình...
"Gần đây tôi đã mộng thấy Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Ông ta thật là một con người không giống ai -tròn quay, ma quái với mắt ốc nhồi, mày rậm và xếch."
Cũng giống tôi thôi... Bồ Đề Đạt Ma là một con người nguy hiểm. Thiền gia thường yêu mến vẽ chân dung của khuôn mặt ông một cách trông rất dữ dằn. Thực ra ông ta đã không hề giống như vậy -về mặt thể chất. Ngoài đời ông ta còn là một trong những người đàn ông đẹp trai nhất nữa là đằng khác -thế nhưng khi bạn thoạt nhìn các bức tranh vẽ về Bồ Đề Đạt Ma, bạn không khỏi kinh sợ. Nhất là đôi mắt của ông ta, chẳng khác gì đôi mắt của một tên sát nhân, như lúc nào cũng sẵn sàng để giết bạn. Nhưng đó là tất cả những gì mà một vị Thiền sư thực hiện.
Ngay cả trong giấc mơ, Alexander Eliot cũng cảm thấy khiếp sợ, và bắt đầu run.
"Ông ta đang cười nhăn nhở hay đang cau có? Thật khó mà biết khi cái hàm râu chổi xuể của ông ta cứ động đậy. 'Ngươi có vẻ là một người trưởng thành rồi đó,' tiếng nói thì thầm phát ra từ cái hàm râu rậm này, 'thế nhưng ngươi chưa bao giờ giết chết ai cả. Tại sao thế?'"
Trong giấc mơ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma hỏi, "Ngươi chưa bao giờ giết chết ai cả, thế mà ngươi có vẻ như là một người trưởng thành. Tại sao thế?" Eliot rất mực sửng sốt đến độ khi tỉnh giấc vẫn còn toát mồ hôi, run rẩy. 'Cái ông già kỳ dị này muốn nói cái gì đây? - "Tại sao ngươi chưa bao giờ giết chết ai cả?'"
Đó là ý nghĩa của những gì mà tôi vừa nói, rằng nếu bạn cảm thấy mình chưa thực sự chín chắn, trưởng thành cho thấy một điều đơn giản là bạn chưa thực sự giết ai. Năm mươi tuổi thì đã là muộn quá rồi -bây giờ đừng nên phí phạm thời gian nữa. Hãy giết ngay lập tức tất cả những ảnh hưởng tồn tại ở trong bạn. Tẩy rửa tất cả những cuộn băng cũ ngay lập tức, giải trừ chúng ra khỏi tâm thức bạn. Và rồi hãy bắt đầu sống một đời sống thực sự của bạn, ngay chính trong khoảnh khắc này, xem như bạn chưa từng biết gì cả, chưa được ai dạy dỗ, nhồi nhét điều gì vào đầu -bắt đầu từ abc, mới mẻ, tinh khôi.
Rồi bạn thấy rằng sự chín chắn, trưởng thành sẽ đến ngay -mà nếu không có nó, đời sống chẳng có ý nghĩa, giá trị gì cả. Bởi vì tất cả những gì tuyệt vời đẹp đẽ, tất cả những gì lớn lao vĩ đại, chỉ xuất hiện trong một tâm thức trưởng thành. Được trưởng thành là một ân sủng. Tuy nhiên con người nói chung trưởng thành tự nhiên như cây cỏ -họ không hề được trưởng thành. Họ lớn khôn theo với thời gian tuổi tác, nhưng trong tâm thức, họ tiếp tục co rút lại dần. Tâm thức của họ như vẫn còn nằm ở trong bào thai, chưa hề ra khỏi chiếc vỏ trứng, chưa hề được ra đời. Chỉ có thể xác là được sinh ra -bạn chưa hề được sinh ra.
Hãy cầm chắc đời bạn trong đôi tay mình; đó là cuộc đời của bạn. Bạn không phải sinh ra chỉ để thoả mãn những trông chờ của ai đó. Không phải là để sống cuộc đời của cha bạn, của mẹ bạn, mà là của chính bạn. Và một khi bạn thực sự bắt đầu sống đời sống của chính mình; bạn bắt đầu sống đời sống của Thượng Đế.

Câu hỏi thứ hai:
Tại sao con người cứ tìm cách ức chế phút giây tuyệt đỉnh? Cái gi khiến người ta sợ hãi thiên đàng đến như thế?
Có chuyện như thế. Có chuyện con người rất mực sợ hãi thiên đàng.
Bởi vì con người rất mực sợ hãi hạnh phúc. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên điều này, bởi vì người ta cứ hay nói, "Tôi khao khát hạnh phúc. Tôi muốn trong đời sống này mọi chuyện đều ở trong tầm tay." Thế nhưng, theo sự nhận xét của riêng tôi, mà không phải chỉ riêng một mình tôi, phải nói là sự nhận xét của tất cả những người từng quan sát, qua mọi thời. Tôi đã làm việc với hàng ngàn người, và sự nhận xét này càng ngày càng trở nên vững chắc hơn -rằng con người thường bám chặt vào nỗi khổ đau, họ không muốn sống hạnh phúc.
Thật sự đâu có ai ngăn chặn con người sống hạnh phúc -họ có thể hạnh phúc ngay bây giờ, không có gì mất mát cho họ cả. Thế nhưng con người cứ tiếp tục bám chặt vào nỗi khổ đau. Họ luôn nói đến hạnh phúc -bởi vì họ đang khốn khổ thế nên nói đến hạnh phúc là chuyện khá tự nhiên. Càng khổ đau nhiều chừng nào, họ càng nói đến hạnh phúc nhiều chừng nấy, họ càng chạy đi tìm kiếm hạnh phúc, tạo ra những khua động ầm ĩ -"Tôi muốn hạnh phúc. Tôi muốn hạnh phúc." Thế nhưng họ lại không chịu buông bỏ những bất hạnh mà họ mang theo - và trừ phi quăng nó đi, họ không thể hạnh phúc được.
Bạn không thể nào hạnh phúc với một cái tâm thống khổ. Hạnh phúc không hề chờ bạn ở đâu đó. Hạnh phúc chỉ đơn thuần là sự vắng mặt khổ đau -thế thôi. -một khi bạn chấm dứt khổ đau, bạn có hạnh phúc. Hạnh phúc đã có sẵn trong mỗi con người. Bạn không cần phải lo lắng đi tìm hạnh phúc, bởi vì nó đã có mặt ở đó. Nó ở ngay trong trái tim bạn -bạn chỉ việc chấm dứt bất hạnh, chấm dứt cái cơ chế vận hành tạo nên sự bất hạnh đó.
Thế nhưng hình như không có ai sẵn sàng để làm chuyện này. Người ta cứ vẫn luôn mồm, "Tôi muốn hạnh phúc," cũng giống như bạn nói "Tôi muốn sức khoè" - nhưng bạn cứ vẫn bám chặt vào căn bệnh của mình, không chịu buông bỏ để cho nó ra đi. Khi bác sĩ kê cho bạn cái toa thuốc, bạn liệng bỏ nó vào một xó xỉnh nào đó chẳng hề quan tâm đến. Bạn chẳng bao giờ chịu khó đi bộ vào buổi sáng, chẳng hề bơi lội, chẳng hề chạy bộ trên bải biển, chẳng hề tập thể dục... Bạn tiếp tục ăn uống cho mập phì, tiếp tục hủy hoại sức khoẻ của bạn - rồi cứ tiếp tục không ngừng nêu lên câu hỏi tìm kiếm sức khoẻ ở đâu. Thế nhưng bạn chẳng bao giờ thay đổi cơ chế tạo ra sự bệnh hoạn cả.
Sức khoẻ không hề là một cái gì mà ta phải tất bật kiếm tìm ở một nơi nào đó. Sức khoẻ chỉ là một lối sống hoàn toàn khác biệt. Lối sống của bạn tạo ra bệnh hoạn, và lối sống của bạn tạo ra khổ đau.
Cụ thể như, có người tìm đến tôi và bảo rằng họ rất muốn được sống hạnh phúc, thế nhưng họ không thể nào chịu buông bỏ sự ghen tuông. Nếu bạn không chịu liệng bỏ sự ghen tuông của mình, tình yêu sẽ không bao giờ lớn dậy -những cỏ dại của ghen tuông sẽ hủy diệt đóa hồng của tình yêu. Và một khi tình yêu không lớn dậy, bạn sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Bởi vì đâu có ai có thể sống trong hạnh phúc nếu tình yêu của họ không tăng trưởng? Trừ phi đoá hồng đó nở hoa trong bạn, toả hương trong bạn, bạn không thể nào sống hạnh phúc được.
Con người ai cũng muốn sống hạnh phúc -nhưng nếu chỉ muốn thôi, bạn sẽ không bao giờ đạt được. Muốn thôi chưa đủ. Bạn phải nhìn thẳng vào hiện tượng khổ đau bất hạnh của chính mình, để thấy nó đã được tạo ra như thế nào -nó hình thành ra sao từ buổi đầu, và bằng cách nào mà từng ngày qua bạn cứ mãi tiếp tục khổ đau -có kỹ thuật nào không? Bởi vì hạnh phúc là một hiện tượng tự nhiên -nếu ai đó hạnh phúc, nó không hề được tạo ra bằng kỹ thuật, bằng kinh nghiệm chuyên môn.
Thú vật rất mực hạnh phúc, cây cỏ rất mực hạnh phúc, chim chóc rất mực hạnh phúc. Cả vạn hữu cũng rất mực hạnh phúc, ngoại trừ con người. Chỉ có con người là thừa đủ thông minh để có thể tạo ra khổ đau bất hạnh -không ai lành nghề hơn như thế. Thế nên khi bạn hạnh phúc, đó là điều rất mực giản đơn, rất mực hồn nhiên, không có gì để phải khoe ra. Thế nhưng khi bạn bất hạnh, thì có vẻ như bạn đang làm những chuyện gì ghê gớm lắm; những chuyện thực sự khó khăn.
Hãy lắng nghe điều tôi nói: Để khổ đau người ta phải dạn dày kinh nghiệm, người ta cần cực kỳ thông minh, ma mảnh. Để khổ đau người ta cần đến một nỗ lực phi thường -tapascharya. Để khổ đau là chuyện rất mực khó khăn - bằng cách nào mà người ta chịu đựng nổi thì hầu như là phép lạ.
Hạnh phúc cực kỳ đơn giản. Nhìn vào đôi mắt của con bò đang thảnh thơi gặm cỏ, con chó đang nằm yên nghỉ ở góc nhà, con mèo đang rên ư ử khi ai đó vuốt ve, bạn sẽ thấy điều đó. Tất cả đều có vẻ hạnh phúc, không có vấn đề gì cả! Ngoại trừ con người.
Thế nên điều đầu tiên cần phải được nhận thức: Con người rất sợ hãi hạnh phúc. Tại sao? Đây là một điều vi tế cần được lưu ý: Trong khổ đau, bạn hiện hữu -đó là lý do tại sao bạn cứ mãi bám chặt vào khổ đau. Trong hạnh phúc, bạn tan biến đi -đó là lý do tại sao bạn sợ hãi hạnh phúc. Trong hạnh phúc cái ngã không thể có mặt. Cái ngã hoàn toàn phi thực, là giả tạo, cái ngã thực ra không có mặt ở đó, chỉ là một sự tin tưởng. Khi bạn khổ đau, tất cả những nỗi thống khổ của bạn, tất cả những chất liệu giả tạo của khổ đau trở thành một cái nạng chống cho bản ngã. Cái ngã chỉ có thể hiện hữu thông qua khổ đau - trong khi vạn hữu rất mực an bình, hoà điệu. Nếu nỗi khổ đau tan biến, những cái nạng chống này cũng tan biến và cái toà lâu đài của bản ngã cũng khởi sự sụp đổ theo.
Trong hạnh phúc, không ai có cái ngã. Bạn để ý như vậy không? Bởi vì tôi nghĩ rằng, có đôi lúc ... có những khoảnh khắc thật hiếm hoi, nhưng nó vẫn luôn có mặt - những lúc bạn đang hạnh phúc, bạn có để ý không? Bạn hoàn toàn tan biến đi trong nỗi hạnh phúc đó. Bạn đang thưởng thức một điệu nhạc, cửa sổ tâm hồn của bạn rộng mở ra và bạn chìm ngập trong niềm hạnh phúc này. Trong khoảnh khắc đó, bạn không còn là bạn mà là âm nhạc - bạn đã tan biến đi. Khi bạn đang khiêu vũ, một khoảnh khắc chợt đến như làn gíó nhẹ, bạn lâng lâng trong một cảm xúc chưa hề biết ... bạn đang được tưới tẩm với một ân sủng. Vũ công đã tan biến đi, chĩ còn lại vũ điệu.
Có lúc ở trên núi cao, có lúc đang tắm nắng ngoài bải biển, bạn bỗng như biến mất. Những khoảnh khắc mà bạn không còn hiện hữu này là những khoảnh khắc của hạnh phúc, của cực lạc, của giây phút xuất thần. Không ai có thể vừa hạnh phúc vừa hiện hữu. Khi hạnh phúc có mặt, bạn vắng bóng -bạn không bao giờ có thể đối bóng với hạnh phúc. Thế nhưng bạn có thể sóng đôi rất mực hoà điệu với bất hạnh, khổ đau. Khổ đau và bạn có thể cùng nhau gắn bó -thực ra bạn không thể hiện hữu một cách tách biệt. Khi con người cứ mãi tiếp tục gắn bó với khổ đau, họ thực sự đi tìm kiếm địa ngục.
George Bernard Shaw (3) đã có lần tuyên bố, "Nếu như tôi là người số hai đứng sắp hàng nối đuôi để lên thiên đàng thì tôi không còn muốn lên nơi đó nữa. Nhưng nếu tôi có thể là người đầu tiên có mặt ở địa ngục, tôi sẽ chọn địa ngục -tôi chỉ muốn rằng mình là người đầu tiên." Địa ngục cũng được đi, có thể chấp nhận được, nhưng trở thành nhân vật số hai đứng sau ai đó là điều không thể chấp nhận. Và đây không phải là điều chỉ có George Bernard Shaw nói ra - nó cũng là khát vọng chung của mọi người.
Bạn sẵn sàng để đi vào địa ngục, không có vấn đề - nếu ở nơi đó cái ta của bạn có thể hiện hữu. Trên thiên đàng, bạn không thể hiện hữu như một bản ngã.
Tại sao con người cứ tìm cách ức chế phút giây tuyệt đỉnh? Bởi vì với cực lạc bạn tan biến đi. Và thêm một điểm nữa: Con người không phải chỉ ức chế phút giây cực lạc, họ còn ức chế cả bản tánh tự nhiên nữa. Vấn đề này cần phải được nhận thức theo một phương cách nào đó...
Ý thức của con người có ba tầng. Tầng ý thức thông thường còn được gọi là tâm thức. Ở dưới cùng là vô thức (hay tiềm thức), tầng ở trên là siêu thức. Chen vào giữa hai tầng này -vô thức và siêu thức- tầng ý thức, chỉ là một mảng rất nhỏ so với hai tầng kia. Nếu xem tầng vô thức rộng lớn bao la như đại dương và tầng siêu thức cũng thế, thì ở giữa chúng, tầng ý thức chỉ là một khu vực nhỏ, giống như một hòn đảo -hải đảo của bản ngã. Nếu bạn đi sâu vào vô thức, nó biến mất -cái hải đảo này sẽ tan biến đi như chưa bao giờ là một hòn đảo thực sự mà chỉ là một tảng băng thạch. Nếu bạn đi vào vô thức, nó không còn có mặt. Thế nên, con người cũng rất sợ hãi cả bản tánh tự nhiên. Con người sợ hãi Thượng Đế cũng giống như họ sợ hãi tình dục, họ sợ hãi nguyện cầu cũng giống như họ sợ hãi thương yêu. Tất cả nỗi sợ hãi đều có một lý do giống nhau -họ sợ rằng mình sẽ rơi xuống dưới tầng ý thức, vì nếu để cho phần vô thức vận hành thì họ sẽ không còn hiện hữu nữa. Cái hải đảo bản ngã của họ tan chảy và biến mất.
Khi làm tình, bạn không còn hiện hữu -trừ phi bạn là nhà đạo đức hay là người Thanh giáo. Khi bạn làm tình, bạn hoàn toàn tan chảy, biến mất. Không còn bạn, chỉ còn lại một sự rung động tuyệt vời, một khoái cảm vô biên... Đó là khúc luân vũ của năng lượng, là tiết tấu bao la, là hoà điệu tuyệt vời - bạn nghe thanh âm chưa từng được nghe, nếm hương vị của một cái gì đó chưa từng được nếm... nhưng bạn không hề hiện hữu. Thế nên người ta sợ hãi vô thức.
Điều này cũng tương tự như khi bạn vượt ra khỏi tầng ý thức và vươn đến cảnh giới cực lạc -đến Thượng Đế, chìm trong nguyện cầu, thiền định. Sự sợ hãi cũng giống như thế, rằng bạn sẽ tan chảy đi.
Với vô thức, đôi lúc bạn còn gặp gỡ hẹn hò. Bởi vì với vô thức vẫn còn có một điều tuyệt vời -bạn tan biến đi nhưng mà bạn còn có thể quay trở lại. Cả vô thức lẫn siêu thức có một điểm tương đồng -bạn tan biến đi trong đó. Điểm khác nhau của chúng là -với vô thức bạn chỉ tan biến đi trong một khoảnh khắc, rồi bạn quay về, trở lại mái nhà xưa. Cái hải đảo đó vẫn còn là nơi trú ẩn an toàn của bạn và bạn vẫn là bạn của trước đây. Cuộc hành hương chỉ diễn ra trong vài giây phút, chỉ là một khoảnh khắc tạm thời.
Thế nên con người thỉnh thoảng vẫn dành cho vô thức một sự hẹn hò gặp gỡ, nhưng đối với siêu thức thì họ tìm cách tránh xa. Bởi vì một khi đã thể nhập vào đó, bạn sẽ không bao giờ quay trở lại. Gate gate paragate parasangate bodhi svaha -vượt qua, vượt qua, vượt qua vĩnh viễn; vượt qua vĩnh viễn, không bao giờ trở lại. Thế nên người ta sợ hãi, kinh khiếp. Thế nhưng nỗi sợ hãi này phải được buông bỏ, bằng không bạn sẽ mãi sống trong địa ngục -và chính bạn đã chọn lựa để sống ở đó. Bạn mãi sống trong khổ đau vì bạn đã quyết định như thế.
Toàn bộ nỗ lực của tôi ở đây là làm cho bạn tỉnh thức để nhìn thấy khổ đau đã hiện hữu như thế nào. Nó có mặt với sự hỗ trợ, cộng tác tận tình của bạn; nó không thể hiện hữu một mình. Bạn cũng hiện hữu với sự hỗ trợ của nó, và ngược lại -đây là một tổ hợp đại âm mưu giữa cái ngã và khổ đau. Bạn có nhận thấy điều này không? Con người thường cứ than vãn về nỗi bất hạnh của mình hơn là nói về hạnh phúc. Con người cứ không ngừng lải nhải và làm chán tai người khác với những khổ đau, bệnh hoạn, và những chuyện đại loại như thế.
Tôi đã từng nghe chuyện có một bà đến phòng mạch thăm bệnh và vị bác sĩ hỏi, "Bà có vấn đề gì đây?" Người đàn bà trả lời, "Đừng có thắc mắc chuyện tôi đang bệnh gì -cứ việc mổ cho tôi đi."
Vị bác sĩ ngạc nhiên, "Chuyện gì vậy? Mổ cái gì? Bộ bà phát khùng rồi chắc?" Người đàn bà trả lời, "Mổ cái gì cũng được tất -cắt amiđan, ruột thừa, cái gì cũng được hết. Tôi đang phát ngấy lên khi phải nghe những chuyện giải phẫu của thiên hạ.
Bất cứ lúc nào tôi gặp một bà bạn là cứ y như tôi phải ngồi nghe bà ta kể lể chuyện bà ta đã mổ amiđan như thế nào, thế là tôi phải lắng nghe câu chuyện từ đầu chí cuối. Gặp bà khác thì lại nghe kể chuyện mổ ruột dư... cũng không thiếu một mảy may chi tiết. Còn tôi thì chẳng có chuyện gì để nói cả. Cứ mổ cho tôi bất cứ cái gì để tôi còn có chuyện để nói chứ."
Con người thường hay kể lể về những nỗi khổ đau của mình và họ cảm thấy rất thống khoái. Bởi vì càng khổ đau nhiều chừng nào xem ra cái ta của họ càng có mặt nhiều chừng nấy: Thế là họ cứ tha hồ thổi phồng thêm về nỗi bất hạnh của mình. Không tin thì bạn cứ việc nhìn lại mình -khi nào bạn nói đến những khổ đau, bất hạnh của mình, bạn cứ luôn cường điệu, phóng đại nó ra.
Lúc còn là giáo sư tại một trường đại học, tôi có một bà bạn đồng nghiệp và bà ta cứ thường làm tôi phát chán về những chuyện bệnh hoạn, mổ xẻ... của bà ấy. Một hôm tôi điện thoại cho ông chồng -một luật sư rất nổi tiếng- và bảo ông ta, "Bà xả của bạn hành hạ tôi quá chừng. Bất cứ lúc nào gặp tôi là bà ấy bắt đầu mở máy - và tôi đành phải lịch sự lắng nghe tất cả những chuyện bệnh hoạn đầu cua tai nheo!"
Ông chồng cười lớn, "Thế là tôi trút được phần nào gánh nặng -bởi vì bà ấy đã tìm được bạn để trút bầu tâm sự! Nhưng mà đừng có tin bà ấy nghe! Nếu bà ấy nói là bị 'ung thư' thì cứ xem như bà ấy bị nhức đầu hay đại loại như thế, đừng ... đừng có tin vào chuyện của bả! Trước đây tôi cũng đã từng tin như thế, lúc ban đầu."
Bà ấy phóng đại quá mức. Thế nhưng tại sao con người lại cứ thích phóng đại những khổ đau bất hạnh của mình? Bởi vì nỗi khổ lớn chừng nào thì cái ngã của họ cũng lớn theo nhiều chừng nấy. Càng nhiều rắc rối mà họ đối đầu, càng có thêm nhiều thách thức -họ đang đánh một trận chiến to lớn! Họ phóng đại kẻ thù lên bởi vì phải thổi phồng kẻ thù như thế cái ta của họ mới vĩ đại. Để cuối cùng cho thấy họ là người chế ngự được địch thủ.
Nếu chỉ là một cơn nhức đầu qua loa và bạn vượt qua nó thì có gì quan trọng? Nhưng nếu đó là căn bệnh ung thư và bạn chiến thắng được, thì có nghĩa là bạn đã làm được một cái gì đó, giống như một phép mầu.
Hãy để ý và chấm dứt những cơ cấu đang vận hành này. Đừng bao giờ nói đến những khổ đau của bạn -nó không đáng giá chút nào, buông bỏ nó mới là chuyện đáng làm. Đừng bao giờ quan tâm quá mức đến nỗi khổ đau của bạn, bởi vì khi quan tâm đến nó, có nghĩa là bạn đang nuôi dưỡng nó. Lòng quan tâm là thực phẩm nuôi dưỡng -khi bạn quan tâm đến bất cứ điều gì, bạn sẽ càng làm cho nó tăng trưởng mạnh mẽ thêm.
Đừng bao giờ nuôi dưỡng nỗi khổ đau bất hạnh của bạn bằng cách quan tâm đến nó. Nên tách biệt, lánh xa, giữ mình luôn ở trong trạng thái hững hờ. Ngay cả nếu nó thực sự có mặt cũng chẳng sao, đừng buồn lưu ý đến. Và rồi thời gian trôi qua, bạn sẽ rất ngạc nhiên khi thấy một điều -nỗi khổ đau càng ngày càng thu nhỏ lại dần...đến một ngày, bỗng nhiên nó biến mất. Trước đây bạn đã tiếp tay giúp nó hiện hữu bằng cách quan tâm đến nó.
Nên nhớ rằng, chính sự quan tâm là thực phẩm, là chất liệu nuôi dưỡng. Bây giờ đã có những thí nghiệm khoa học chứng minh điều này. Bạn quan tâm đến cái gì, cái đó sẽ tăng trưởng. Người ta cho biết rằng ngay cả cây cối cũng tăng trưởng nhanh chóng hơn nếu như người làm vườn tỏ lòng quan tâm đến chúng. Nếu y quan tâm đặc biệt đến một cây nào, các cây khác sẽ không lớn nhanh bằng cây đó.
Bạn có thể tự thí nghiệm lấy -đây không phải là chuyện khó khăn gì, nó không đòi hỏi bạn phải có cả một phòng thí nghiệm cực lớn. Hãy chọn ra mười cây cảnh cùng một cỡ với nhau và quan tâm đến một cây trong số đó. Bạn tưới nước giống y nhau, bón phân giống y nhau - nhưng chỉ tỏ lòng quan tâm đến một cây duy nhất. Thỉnh thoảng vuốt ve nó, ôm ấp nó, hôn hít nó, quan tâm đến nó nhiều hơn. Thỉnh thoảng đến ngồi bên cạnh nó, nói chuyện với nó, hát cho nó nghe. Và rồi bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng -chính các nhà khoa học cũng đã từng ngạc nhiên- cái cây đó sẽ phát triển, tăng trưởng nhanh hơn. Chỉ trong vài tháng, cái cây này sẽ lớn gấp đôi hơn những
cây kia. Các cây kia đã bị bỏ quên -không phải là bạn bỏ quên chuyện tưới nước chúng; tất cả mọi chuyện chăm sóc đều giống nhau. Chỉ có một điều thiếu sót: Bạn không quan tâm đến chúng.
Đó là lý do tại sao trẻ con trưởng thành nhanh hơn khi sống với người mẹ. Bạn có thể giao chúng cho y tá chăm sóc -có thể họ chăm sóc còn tốt hơn người mẹ nữa, vì họ là người được đào tạo để làm công việc này. Tuy nhiên có một cái gì đó đã mất mát: Người y tá đã không bày tỏ được lòng quan tâm đối với chúng như của một người mẹ. Người mẹ có thể không phải là một người được huấn luyện để chăm sóc trẻ con, thế nhưng đây không phải là trọng điểm -đứa con biết rằng người mẹ hết lòng quan tâm đến mình, và nó cảm thấy đó chính là điều quan trọng. Nó biết rằng mẹ mình quanh quất ở đâu đây, người mà nó rất mực tin cậy. Sự ôm ấp của người mẹ, sự nồng ấm của người mẹ, sự hết lòng quan tâm của bà làm cho đứa trẻ cảm thấy mình sáng giá.
Đứa trẻ thấy mình trở nên cần thiết. Y thấy có người cần đến mình; hạnh phúc, vui sướng khi có mình. Nếu không có y người mẹ sẽ buồn rầu đau khổ, nếu y ốm đau, người mẹ sẽ lo âu phiền não. Như thế trên cõi đời này y không phải là đồ phế thải, có ai đó trông cậy vào y. Có ai đó đã đầu tư vào y -có ai đó sẽ buồn khổ nếu không có mình, y đang làm cho ai đó hạnh phúc. Khi bạn cảm thấy rằng mình quả thực cần thiết cho ai đó, lòng bạn cảm thấy sướng vui. Cảm thấy mình cần thiết là một nhu cầu -sự quan tâm chiếu cố của họ đã cho y biết chắc một điều rằng y thực sự cần thiết cho người khác. Nếu không có y người mẹ sẽ không còn giống như người đàn bà trước đây. Bà sẽ không còn nở nụ cười, bà sẽ không còn chạy loanh quanh như đang chạy loanh quanh chung quanh y; bà sẽ buồn rầu, khổ sở. Thế là đời sống của y trở nên có ý nghĩa; y đã mang đến ý nghĩa cho thế gian này.
Khi bạn yêu một cô gái, nàng bỗng trở nên đẹp đẽ tuyệt vời hơn. Khi một cô gái yêu bạn, bạn trở thành hào hoa phong nhã hơn, bỗng dưng tất cả những thô kệch vụng về của bạn biến đi đâu mất. Bạn trở nên sạch sẽ hơn - bạn tắm rửa mỗi ngày, bạn đánh răng cẩn thận, bây giờ bạn lo lắng không biết mồ hôi mình tiết ra có nặng mùi không.
Bạn thay đổi nhanh chóng khi có cô gái nào đó yêu bạn. Chuyện gì đã xảy ra? Chuyện đơn giản là bây giờ có người quan tâm đến bạn, bạn trở nên quan trọng trong cuộc đời này. Có đôi mắt của ai đó đang dõi trông theo bạn -và bạn cần phải làm hài lòng đôi mắt kia, niềm hạnh phúc của chúng trông cậy ở bạn. Bạn đã không còn vô nghĩa trong cõi đời này, mà là một cần thiết. Bạn phải có mặt ở đây -không có bạn thế giới này sẽ không còn giống như xưa. Bỗng dưng chung quanh bạn là vòng nguyệt quế, là vô vàn ý nghĩa; bạn như được bao phủ bởi cả một mùi hương. Bạn có thể thấy rõ điều này ở một người đàn ông để biết là y đang yêu hay không. Để ý và quan sát rồi bạn sẽ thấy. Khi một người đàn ông chưa yêu, trông y có vẻ lờ phờ uể oải như người thiếu ngủ. Đôi chân y lê những bước nặng nhọc, như một sinh vật buồn tẻ, thiếu vắng nhựa sống, niềm vui. Y đã không còn đôi cánh, đôi cánh của y đã bị cắt đi mất rồi.
Thế nhưng khi một người đàn ông đang yêu, bỗng dưng y như được chắp thêm đôi cánh. Bầu trời của y phủ đầy những giấc mơ hoa mộng, tất cả đẹp như một bài thơ. Không có một người nam hay người nữ nào trên trái đất này mà không trở thành nhà thơ khi họ đang yêu. Đúng vậy, tất cả những ai được gọi là nhà thơ trên thế gian này đều là những người không ngừng chìm đắm trong yêu đương. Đối tượng tình yêu của họ không nhất thiết là trai gái mà là bất cứ một cái gì đó -có thể là thiên nhiên, là Thượng Đế, là người đẹp hay nhân loại nói chung - tuy nhiên những người được biết là nhà thơ đều có một tình yêu miên viễn như thế. Nhờ thế mà họ sống mãi trong thế giới thi ca. Bằng không, tất cả mọi người đều là thi sĩ hết -vì thế, một khi tình yêu mất dấu, thế giới thi ca cũng mất dấu luôn.
Lòng quan tâm ưu ái chính là thực phẩm, một loại thực phẩm rất mực tế vi. Thế nên cần ghi nhớ điều này: Đừng bao giờ quan tâm đến cái tiêu cực, đừng bao giờ quan tâm đến bất hạnh khổ đau. Đừng đá động đến nó, đừng phóng đại nó lên -bạn đang làm công việc hủy diệt chính mình, một sự tự hủy. Hãy mặc kệ nó, không ngó ngàng gì đến, nó sẽ biến mất. Hãy dửng dưng với nó. Dửng dưng là thuốc độc -nếu bạn muốn tiêu diệt nó, hãy tập cho mình sự dửng dưng đối với nó.
Để ý đến hạnh phúc, bày tỏ lòng quan tâm hơn đối với hạnh phúc. Nâng niu từng niềm hạnh phúc nhỏ của bạn - chỉ là những khoảnh khắc nhỏ, nhưng bạn nên tập trung toàn bộ năng lượng của mình vào đó, trút vào đó hoàn toàn con người bạn. Và thế là nó sẽ tăng trưởng lên, sẽ lan rộng ra trên toàn bộ cuộc đời mình.
Thiên đàng không phải là một nơi chốn địa lý, tọa lạc ở một nơi nào đó -thiên đàng là cách sống, và địa ngục cũng thế, chỉ là một cách sống. Địa ngục ở tại đây và thiên đàng cũng ở tại đây. Thế nên có đôi lúc chuyện xảy ra là bạn có thể đang ở trong địa ngục nhưng người ngồi kế bạn đang ở trong thiên đàng. Thế nên thiên đàng và địa ngục không hề tách lìa. Chúng chỉ là những trạng thái tâm lý, những lối sống, và tất cả đều tùy thuộc vào bạn.

Câu hỏi thứ ba:
Tôi muốn trở thành một sa môn thế nhưng tôi đã được khuyến cáo từ lúc còn thơ ấu là nên đi từng bước một cách cẩn thận. Và bởi vậy, tôi đã lưỡng lự trong một thời gian khá dài. Tôi nên làm gì đây?
Nếu bạn cứ tiếp tục lưỡng lự, bạn sẽ đánh mất tất cả những gì tuyệt vời nhất. Bởi vì giây phút tuyệt vời chỉ đến với bạn trong những khoảnh khắc rất mực hiếm hoi - nếu bạn không sẵn sàng để nhảy lên tàu kịp lúc, bạn sẽ vẫn cứ tiếp tục mất đi cơ hội. Một người cứ luôn luôn lưỡng lự sẽ cứ tiếp tục lỡ tàu -bởi vì khi cơ hội đến, y lại lưỡng lự. Khi cơ hội trôi qua, lúc đó y quyết định thì đã muộn rồi. Thế là y tiếp tục chờ đợi một chuyến tàu khác.
Có một giai thoại về Immanuel Kant. Một cô gái đã tỏ ý muốn kết hôn với ông ta. Đó là một người phụ nữ rất mực nhân ái -bởi vì người đời hiếm ai có thể yêu được những loại người như Immanuel Kant. Đầu óc luôn luôn cứ vơ vẩn ở tận chín tầng mây... Ai mà có thể yêu được những loại người như thế? Người phụ nữ này chắc chắn phải là người có lòng từ bi lân mẫn.
Và rồi Immanuel Kant trả lời: "Hãy để tôi suy nghĩ một tí". Một tí của ông ta kéo dài đến ba năm -quán chiếu vấn đề trên mọi góc cạnh, mặt tích cực và tiêu cực, thuận và chống. Nay cuốn nhật ký của ông còn được bảo quản cho thấy ông đã viết ra cả trên ba trăm lý do thuận tình và chống lại. Và rồi cuối cùng lý do "thuận" thắng phiếu -chỉ một phiếu thôi, nhưng với lý do này, ông đã đi đến quyết định cuối cùng. Hãy nhìn xem, quyết định cái kiểu này thì chẳng có vẻ gì là tình yêu cả. Phải không? Hoàn toàn luận lý - một người thuần lý kiểu tam đoạn luận.
Thế rồi ông ta tìm đến nhà người thiếu nữ kia và gõ cửa. Người cha cô gái ra mở cửa, chào hỏi, "Cái gì đó anh bạn trẻ?" "Thưa, tôi đã quyết định muốn được kết hôn với con gái ông," Kant trả lời.
Người đàn ông cười lớn, "Anh bạn đã đến hơi trễ một tí -nó đã lấy chồng và có một đứa con rồi! Bạn đã lỡ mất cơ hội." Và Immanuel Kant được biết là đã sống đời độc thân cho đến cuối đời -bởi vì không hề có một người phụ nữ nào mở lời với ông, và dĩ nhiên ông ta cũng không thể nào tự mình ngỏ lời với bất cứ người đàn bà nào; chuyện khó mà xảy ra với loại người như Kant. Ông ta sẽ rất lưỡng lự khi ngỏ lời, sẽ lưỡng lự cả hàng năm trời may ra mới dám hỏi.
Một cô gái con nhà khá giả chưa hề đụng móng tay đến chuyện bếp núc vừa mới kết hôn. Muốn chứng tỏ cho ông chồng biết đến tài nấu nướng của mình, thế nên nhân lúc người làm nghỉ phép, cô ta đã quyết định làm một con gà nướng cho bửa ăn tối. Nàng ta nhổ lông con gà một cách cẩn thận, xếp vào nồi rất mực gọn ghẽ rồi đút vào lò.
Khoảng hai giờ đồng hồ sau, cô nàng nghe một tiếng động cực mạnh vang lên ở cánh cửa lò. Khám xét kỹ lưỡng cho thấy là sự náo động này gây lên bởi con gà vừa mới được đút lò.
"Thưa bà," con gà kêu lên khẩn khoản, "Xin bà làm ơn hoặc trả lông lại cho tôi hoặc mở điện ra. Tôi đang lạnh đến chết cóng trong cái lò này."
Thế là bạn đã chờ đợi quá lâu rồi. Phải làm một cái gì đó hay là chết! Hãy tự cho mình một tí ân huệ. Tại sao phải sợ hãi như thế? Tại sao phải cẩn thận như thế? Cuộc sống chỉ dành cho những người can đảm. Điều này không có nghĩa là tôi phủ nhận đức tính cẩn thận -nhưng sự cẩn thận của tôi có một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt với bạn.
Cẩn thận đối với tôi có nghĩa là cảnh giác, tỉnh thức. Cẩn thận không có nghĩa là láu cá, khôn vặt; càng không có nghĩa là tính toán. Cẩn thận đồng nghĩa với tỉnh thức, sống trong một cung cách hoàn toàn tỉnh thức. Đừng đi vào đời bằng đôi mắt ngái ngủ mà hãy bằng đôi mắt rộng mở. Tôi không hề bảo bạn "Cứ việc nhắm mắt và làm bất cứ chuyện gì." Tôi bảo bạn mở to đôi mắt của mình ra. Nhưng nếu cứ mở mắt, rồi ngồi lặng yên và không bao giờ dám chấp nhận chuyện rủi ro, bạn sẽ không bao giờ đi tới bến bờ nào cả. Bạn chỉ sẽ chết dí ngay tại chỗ đó.
Bạn không phải đang sống mà chỉ là trưởng thành như cây cỏ. Hãy chuyển động! Đời sống là một chuyển động không ngừng, là dòng sông luân lưu. Nếu dòng sông lưỡng lự, nó sẽ biến thành ao hồ. Ao hồ là tù đọng, là một xác chết, và tự nhiên là nó sẽ trở thành dơ bẩn. Rồi không sớm thì muộn nó sẽ khô cạn, nước sẽ bốc hơi.
Dòng sông luân lưu tuôn chảy đi vào đại dương, đi vào vô tận. Nó không cần đến bản đồ, không cần người hướng đạo, và cũng không biết chắc là nó sẽ dừng lại ở nơi đâu. Đại dương thì xa xôi quá đổi -ngay cả không thể nghe được tiếng sóng vỗ rì rào. Thế nhưng dòng sông không ngừng đi tới, nó lặng lờ tuôn chảy, chẳng biết nơi đâu là bến bờ, và vẫn cứ tiếp tục dò dẫm đi vào cỏi lạ ... cho đến một ngày, nó thể nhập vào đại dương. Tất cả mọi dòng sông đều đi đến đích.
Nếu bạn muốn đi đến đích, bạn cũng sẽ phải luân lưu tuôn chảy như dòng sông. Đồng ý là con người cần phải cảnh giác -thế nhưng cẩn thận quá mức có thể là một chướng ngại. Nó sẽ không cho phép bạn đi vào những vùng đất xa lạ của đời mình. Cái mà ta biết sẽ không bao giờ đủ -chỉ có cái chưa biết mới làm thoả mãn ta. Chỉ khi nào bạn dấn bước đi vào vùng đất xa lạ đó, bạn mới thực sự tươi mát, trẻ trung trở lại.
Từ lâu lắm rồi, bạn đang sống một cuộc đời thường của một người không phải là hành giả sa môn. Nếu bạn thấy cuộc sống này là hạnh phúc, vui thú, là hoàn toàn không có vấn đề gì -thế thì cũng đừng nên bận tâm đến chuyện hành giả, sa môn. Đâu có điểm gì quan trọng để bạn trở thành một hành giả. Tôi sẽ là người cuối cùng trên thế gian này để điểm đạo cho bạn. Nếu bạn cảm thấy hạnh phúc với cuộc đời, với cách thế mà bạn đang sống, thì bạn đâu có nhu cầu.
Tuy nhiên nếu bạn cảm thấy bất hạnh, khổ đau với cuộc sống này thì bạn cần một ít can đảm đủ để cất một vài bước vượt ra ngoài khuôn khổ mà bạn hiện đang sống. Tôi không hề bảo đảm rằng trở thành một hành giả sẽ mang đến cho bạn an lạc hạnh phúc -mọi chuyện không hề dễ dàng như thế. Nhưng một điều mà tôi có thể hứa khả: bạn sẽ lớn dậy, sẽ rộng mở hơn. Và một khi bạn lớn dậy, những khả năng tiềm ẩn cũng lớn dậy theo - bạn sẽ có nhiều cơ hội để đạt hạnh phúc hơn. Sẽ không có gì xảy ra khi bạn chỉ đơn thuần trở thành một hành giả, nhưng sự can đảm để dấn bước vào một cuộc phiêu lưu mới sẽ làm cho đời sống bạn trở nên sinh động hơn. Và hạnh phúc chỉ xảy đến cho những người có một đời sống sinh động.
Có đôi lúc, sự tính toán quá mức, tính toán theo kiểu đầu óc con buôn, sẽ tạo ra thêm những rắc rối phiền hà không cần thiết mà ta không ngờ đến.
Một cặp vợ chồng mới cưới đi hưởng tuần trăng mật tại Washington D.C. và quyết định lưu trú tại khách sạn Watergate (4). Cô dâu mới sau khi leo lên giường ngủ liền bảo chồng, "Cưng ơi, em cảm thấy không thoải mái chút nào, có thể là cái phòng này đã bị đặt máy nghe lén."
Thế là tân lang bắt đầu một cuộc lục soát không sót một xó xỉnh nào: đàng sau những bức tranh treo trên tường, trong những ngọn đèn, giữa những đồ đạc thiết trí trong phòng. Cuối cùng anh ta lật tung tấm thảm lên và tìm thấy một tấm dĩa sắt được gắn vào sàn nhà. Anh ta tháo hết các đinh ốc và gỡ tấm dĩa lên. Cảm thấy an tâm, cặp vợ chồng mới lên giường và trải qua môt đêm cực kỳ hạnh phúc.
Sáng hôm sau, khi đang đứng ở phòng tiếp tân của khách sạn, người lễ tân bắt chuyện: "Đêm rồi, ông bà có cảm thấy thoải mái với khách sạn của chúng tôi không?"
"Ồ. Tuyệt vời," tân lang trả lời.
"Thế thì hay quá," người bồi lễ tân tiếp tục, "Đêm rồi, căp vợ chồng ở ngay tầng dưới căn phòng của ông bà đã bị cái giá đèn trên trần nhà rơi xuống người họ!"
Thế đó, sự cẩn thận tính toán của bạn đôi khi có thể gây tai hại không những cho bạn mà cho cả người khác nữa! Rất mực tai hại! Bạn cần một tí can đảm -một chút liều mạng là tốt nhất.
Bây giờ là một câu chuyện cuối cho bạn...
Một cô gái tuyệt đẹp đến xin làm công việc dạy sư tử tại một gánh xiệc. "Tôi đã có người làm công việc này rồi,"người chủ trả lời. "Nhưng tôi có thể nhận cô vào bìểu diễn các vai trò khác, cỡi ngựa hay đu xà treo chẳng hạn."
"Không," cô gái phản đối, "Tôi chỉ muốn làm người huấn luyện sư tử."
Đúng vào lúc ấy người dạy thú của gánh xiệc bước vào mặt mày hớt hải với cánh tay đầy máu, "Con sư tử trở chứng đã đớp vào cánh tay tôi," y rên lên, "Thế là chương trình này phải hủy bỏ tối nay."
"Được rồi," người chủ quay qua cô gái, "Cô có thể đảm nhận công việc này."
Cô gái liền bước vào chuồng sư tử, chậm rãi cởi hết giày vớ ra, rồi lần lượt đến áo quần, nịt vú, quần lót. Xong cô nàng xếp lại tất cả một cách gọn gàng, và trong tư thế khoả thân, nằm dài ra trên sàn chuồng sư tử, dùng gói áo quần làm gối kê đầu.
Cặp sư tử hiền lành ngoan ngoản bước đến và bắt đầu liếm vào mặt, vào cổ, vào ngực, vú cô gái.
Người chủ liền quay qua người dạy thú đang còn săn sóc vết thương, "Tại sao ông lại không làm được như thế?"
"Làm được chứ," người dạy thú trả lời, "với điều kiện là ông mang hai con sư tử chết tiệt kia ra khỏi chuồng đi."
Tại sao bạn lại đang chờ đợi nhỉ? Chờ cho đến lúc cặp sư tử kia được mang ra khỏi chuồng? Lúc đó bạn mới chịu trở thành hành giả, sa môn? Như thế thì đâu còn gì là trọng điểm nữa? Vâng, đây là một dịch vụ đầy rủi ro, trở thành một hành giả, sa môn là một việc làm rất mực may rủi. Đây không phải là một món hời mà là một trò chơi may rủi -bạn không hề biết được chuyện gì sẽ xảy đến cho mình. Và tôi không hề bảo đảm với bạn bất cứ điều gì, không cho bạn một văn tự hứa hẹn. Hành giả, sa môn không phải là một loại trái phiếu.
Tôi chỉ làm công việc đơn giản là mở cho bạn cánh cửa vào vùng hoang dã, vào đại dương mênh mông, vào cõi cực lạc. Chỉ đơn thuần mở ra cánh cửa. Và khi cánh cửa mở ra, hãy bước vào, đừng lưỡng lự. Lưỡng lự là một tập quán lâu đời của bạn. Và do bởi sự lưỡng lự này, bạn đã đánh mất không biết bao nhiêu cơ hội trong cuộc đời mình -những cơ hội đến rồi đi. Nó không hề chờ đợi ai, nó không cần quan tâm đến bạn. Nó đến và rồi chỉ trong khoảnh khắc, nó đội nón ra đi. Và nếu bạn không sẵn sàng để nắm lấy cơ hội khi nó còn ở đó... Mà nó lưu lại ở đó chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thôi, rồi cánh cửa đóng lại, đôi khi sẽ đóng lại vĩnh viễn... ai mà biết được.
Thế nên khi cánh cửa mở ra, hãy nhảy ngay -nhảy vào vùng hoang dã xa lạ ấy. Bạn sẽ không mất mát gì cả. Bạn có gì đâu để mà mất mát? Thế thì tại sao bạn lại phải lo lắng rằng mình sẽ mất cái gì đó? Tại sao bạn lại ngần ngại? Bạn mất đi cái gì?
Cũng chẳng khác gì một người trần truồng đang đứng trước dòng sông nhưng không muốn tắm vì lo sợ - y sợ là mình không biết sẽ phải phơi áo quần ở đâu! Mặc dù y không hề có áo quần, đang trần như nhộng, nhưng y sẽ không dám tắm sông bởi vì việc này đã đặt ra cho y một vấn đề nan giải -phơi áo quần ở chỗ nào?
Hãy nhìn kỹ đi: Cái gì làm bạn sợ hãi? Bạn mất đi cái gì? Chỉ mất nỗi khổ đau của bạn thôi!

Câu hỏi thứ tư:
Xin làm ơn giải thích dùm tôi. Có phải cái sống là người quan sát và cái chết là đối tượng được quan sát?
Không. Cả hai đều là đối tượng được quan sát -sự sống và cái chết. Vượt ra ngoài chúng là người quan sát. Bạn không thể gọi là người quan sát "sự sống" bởi vì sự sống chứa đựng cái chết. Bạn cũng không thể gọi người quan sát "cái chết" bởi vì cái chết ươm mầm sự sống. Cái người quan sát đó chỉ là một siêu nghiệm.
Rằng bạn không là sự sống cũng không là cái chết. Bạn kinh qua sự sống, bạn kinh qua cái chết, nhưng bạn không là cả hai. Bạn chỉ là một chứng nhân của tất cả. Bạn kinh qua hạnh phúc, qua khổ đau, bất hạnh, bạn kinh qua bệnh hoạn, sức khoẻ, bạn kinh qua thành công, thất bại -nhưng bạn không hề là những thứ này. Bạn chỉ luôn là một người quan sát, một chứng nhân.
Sự chứng kiến đó vượt ra khỏi lãnh vực nhị nguyên. Thế nên đừng cố gắng đồng hoá mình với một phần của đối cực nào. Sự sống chỉ là bộ phần của một cái vòng tròn, nửa phần kia là cái chết vẫn luôn hiện hữu. Chết và sống không hề phân lìa, chúng sóng đôi cùng nhau. Chết và sống chỉ là hai khía cạnh của cùng một năng lượng, là hai mặt của một đồng tiền -một mặt là sự sống, mặt kia là cái chết. Bạn có thể nào nghĩ đến sự sống mà không có cái chết? Cũng như có thể nào bạn nghĩ đến cái chết mà không có sự sống? Thế nên chúng không hề là hai mặt đối nghịch mà bổ túc lẫn nhau. Chúng là thân hữu của nhau, không phải kẻ thù; chúng là những người hùn vốn chung của cùng doanh nghiệp.
Tôi có thể hiểu được câu hỏi của bạn. Bạn chỉ muốn đồng hoá mình với sự sống, để bạn có thể tuyên bố rằng, "Tôi là bất tử, cái chết không có tôi." Đó là nỗi khát khao của bạn. Tôi không hề nói rằng bạn không bất tử, nhưng mà cái danh từ "bất tử" xem ra không ổn chút nào. Bạn có thể bất diệt nhưng không bất tử. "Bất tử" có nghĩa là không có cái chết -luôn luôn là sự sống, sống đời. "Bất diệt" có nghĩa là bạn không có cả hai thứ. Bạn là bộ phận của một tổng thể tiếp nối không ngừng -kinh qua sự sống, kinh qua cái chết, lúc lên lúc xuống, những lũng sâu và núi cao, tiếp nối không ngừng. Bạn là những mảnh đời đã sống và những mảnh đời đã chết, chưa hề cách biệt ... một hoa sen trong biển lửa, không hề bị chạm đến.
Chuyện kể rằng Maharshi Raman đang hấp hối. Vào hôm Thứ Năm, ngày 13 tháng Tư, một bác sĩ mang đến cho ông cái máy thở phụ để làm dịu bớt sự tắc nghẽn hô hấp trong buồng phổi, nhưng ông đã từ chối. "Không còn cần thiết, trong vòng hai ngày nữa mọi chuyện sẽ đâu vào đó," ông bảo. Và hai ngày sau, ông đã qua đời.
Vào lúc mặt trời sắp lặn, Maharshi bảo những người thị giả nâng ông dậy. Họ biết rằng bất cứ sự chuyển động, đụng chạm nào cũng sẽ làm cho ông rất đau đớn, tuy nhiên ông bảo họ đừng bận tâm đến chuyện đó. Ông đang bị hành hạ bởi bệnh ung thư -ông bị ung thư cổ, rất mực đau đớn. Ông không thể ăn uống, không thể chuyển động cái đầu, ngay đến việc nói lên vài lời cũng rất khó khăn.
Ông đã ngồi dậy được nhờ một thị giả đỡ cho ông cái đầu. Một người bác sĩ khác sửa soạn cho ông thở dưỡng khí nhưng ông khoát tay bảo đem đi nơi khác.
Bỗng nhiên một nhóm đồ đệ tụ tập ở hàng hiên bên ngoài cất lên tiếng hát bài "Aranuchala - Siva", một cái bhajan mà ông rất thích. Ông rất yêu mến cái vùng Aranuchala đó, ngọn đồi nơi mà ông từng lưu trú có tên là "Aranuchala", và cái bài bhajan là một lời nguyện cầu, lời nguyện cầu cho ngọn đồi kia.
Khi nghe được bài này, đôi mắt của Maharshi mở rộng và sáng lên. Ông nở một nụ cười nhẹ nhàng chan chứa trìu mến thương yêu. Trong khoé mắt đó ứa ra những giọt nước mắt hạnh phúc, hoan lạc.
Có ai đó cất tiếng hỏi, "Maharshi, có phải ngài đang thực sự rời bỏ chúng tôi?"
Rất khó khăn để nói chuyện, nhưng ông cũng thốt ra được vài lời, "Người ta bảo rằng ta sắp chết -thế nhưng ta không hề đi đâu cả. Ta đi đâu bây giờ? Ta luôn ở đây."
Ông thở hắt ra một hơi cuối cùng, rồi im lặng. Không hề có một sự vùng vẫy, co quắp, không hề có dấu hiệu nào khác của cái chết: chỉ không còn hơi thở tiếp nối.
Những gì mà ông ta nói mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao -"Ta đi đâu bây giờ? Ta vẫn luôn ở đây." Không có nơi chốn nào để đến. Chỉ có một hiện hữu này đây, chỉ có một khúc luân vũ này đây -người ta có thể đi đâu bây giờ? Sự sống đến rồi đi. Cái chết đến rồi đi -nhưng biết nơi đâu là chốn quê nhà? Bạn đã hiện hữu ở đó trước khi có sự sống.
Đó là lý do tại sao các vị Thiền sư thường hay bảo môn đệ: Hãy đi vào thiền quán và cố gắng để nhìn rõ cái mặt mũi của mình trước khi sinh ra đời -và đôi lúc trước khi cả cha mẹ, ông bà của bạn ra đời. Tìm cái khuôn mặt bản thể uyên nguyên của bạn trước khi bạn được sinh ra trên cõi đời này.
Bạn hiện hữu ở đó trước khi sinh ra và bạn cũng sẽ hiện hữu ở đó sau khi chết. Đời sống là khoảng cách giữa lúc ra đời và cái chết. Bạn không phải là sự sống. Bạn là vĩnh cửu, là vô thủy vô chung. Bạn sẽ vẫn luôn có mặt ngay bây giờ và ở đây, luôn luôn và luôn luôn. Tuy nhiên đừng gọi đó là bất tử bởi vì trong chữ "tử" này đã bao hàm cái "chết". Thế cho nên nó không bất tử -mà là vô sanh, vô diệt.
Hãy luôn luôn ghi nhớ điều này, bất cứ lúc nào bạn buông bỏ nhị nguyên tính, hãy buông bỏ toàn bộ. Nếu bạn giữ lại một nữa, cái phần kia cũng sẽ tự động được giữ lại luôn. Nếu bạn nghĩ đến sự sống, điều tự nhiên là bạn lo sợ cái chết. Thế rồi bạn tiếp tục trấn an mình rằng bạn sẽ không chết -thế nhưng khi đồng hoá mình với sự sống, bạn biết rằng sống nghĩa là chết trong từng khoảnh khắc.
Đời sống chỉ là một biểu hiện, một hiển thị. Cái chết là năng lượng tiếp tục chuyển động vào cõi vô sắc tướng. Sống chỉ là một chương, và cái chết mở ra một chương khác, nhưng cái năng lượng thì vượt ra ngoài những chương mục kia: đó là một sinh thể.
Cung cách chết của Dược Sơn (Nhật: Yakusan) -một vị đại Thiền sư- đã là một mẫu nhỏ trong toàn bộ đời sống của ông. Trước giờ lâm tử, ông la lớn lên, "Cái chánh điện đang sụp đổ! Cái chánh điện đang sụp đổ!" Những tăng sĩ hối hả mang đủ các thứ để chống đỡ chạy đến. Thiền sư Dược Sơn khoát tay bảo họ, "Không có ai trong các ngươi hiểu ta đang nói gì cả!" Xong ông qua đời.
"Cái chánh điện" được xây dựng trên cơ sở nhị nguyên tính sống/chết. Nhị nguyên tính là cái nhà, cái chánh điện. Cái cấu trúc nhị nguyên này đang sụp đổ -đó là ý nghĩa của những gì mà Dược Sơn muốn nói khi kêu lên, "Cái chánh điện đang sụp đổ!". Nhị nguyên tan biến và bất nhị khởi dậy ... những đám mây đen tan đi chỉ còn lại bầu trời trong vắt. Bầu trời trong vắt đó không thể được đồng hoá với bất kỳ ngôn từ đến từ bất kỳ một cặp nhị nguyên nào. Bạn không thể gọi nó là ánh sáng, bởi vì ánh sáng là một bộ phận của bóng tối, người bạn thiết thân của bóng tối. Bạn không thể gọi nó là dễ thương, bởi vì thương yêu là bạn đồng hành của thù hận. Bạn không thể gọi nó là đàn ông bởi vì đàn ông và phụ nữ là một cặp sóng đôi. Bạn cũng không thể gọi nó bằng bất cứ tên gọi nào, bởi vì tất cả mọi danh hiệu đều là một phần tử của nhị nguyên.
Thế nên Đức Phật đã im lặng trước vấn đề này. Bất cứ lúc nào có ai hỏi ngài rằng, "Bạch Thế Tôn, cái gì sẽ xảy đến cho ngài, ngài sẽ đi về đâu sau khi chết?" Đức Phật chỉ mĩm cười. Ngài không hề thốt ra một tiếng bởi vì tất cả mọi khả năng ngôn ngữ đều sai lầm, bất túc. Tất cả lời nói đều sai trái, hư vọng. -bởi vì tất cả mọi lời đều phát xuất từ hệ thống ngôn ngữ nhị nguyên. Ngôn ngữ của chúng ta là nhị nguyên; không thể diễn tả được ý niệm về bất nhị. Đó là lý do tại sao Đức Phật luôn luôn giữ im lặng trước các vấn đề Thượng Đế, bất diệt, rốt ráo uyên nguyên -ngài không hề thốt ra một lời.
Một giai thoại về Thiền đã mô tả cung cách Thượng Tọa Huệ Minh tiếp cận thầy mình, ngài lục tổ Huệ Năng. Ngài Huệ Năng là một nhân vật tên tuổi bậc nhì trong lịch sử Thiền học. Thứ nhất là tổ Bồ Đề Đạt Ma và thứ nhì là lục tổ Huệ Năng -đây là hai hòn đá tảng trụ cột trong toàn bộ lịch sử Thiền học. Họ đã đặt ra toàn bộ nền móng cơ cấu của tông phái này.
Bồ Đề Đạt Ma cho chúng ta kỹ thuật, đó là kỹ thuật thiền định mà như chúng ta được biết, được gọi là tọa thiền -ngồi lặng yên không làm gì cả và rồi cây cỏ sẽ tự nó đâm chồi nẩy lá. Vô tác, và quán chiếu. Vi vô-vi -làm mà không làm. Trong suốt chín năm chỉ ngồi đó diện bích, vị tổ Bồ Đế Đạt Ma này đã để lại cho đời một kỹ thuật thiền định - một trong những kỹ thuật hàng đầu. Tất cả mọi phương pháp thiền định khác đều có vẻ như là trò trẻ con trước kỹ thuật này của Bồ Đề Đạt Ma.
Còn ngài Huệ Năng cho chúng ta công án - một phương pháp vượt bực khác vô cùng đặc sắc đối với Thiền gia. Kỹ thuật của Bồ Đề Đạt Ma không được xem là đặc biệt lắm trong chốn Thiền môn vì chỉ là bản sao chép những gì mà Đức Phật đã sử dụng trước đây. Nhìn trên bình diện này, ngài Lục Tổ xem ra là người có đầu óc sáng tạo độc đáo hơn cả Bồ Đề Đạt Ma -người đề xuất ra công án. "Công án" có nghĩa là câu hỏi nêu lên một vấn nạn phi lý không thể trả lời được, cho dù bạn cố gắng đến mức nào. Đây là câu hỏi không có lời giải đáp. Và người ta phải thiền quán trên cái vấn nạn không thể giải đáp này, ví dụ như, "Cái gì là thanh âm tiếng vỗ của một bàn tay?" Một bàn tay thì không thể nào vỗ được rồi. Thế nên, ngay tự buổi đầu, lời giải đáp xem ra đã bất khả, nhưng người ta bắt buộc phải quán chiếu về nó.
Và theo ngài Huệ Năng, khi bạn suy nghĩ về một vấn đề gì đó không thể suy luận, thời gian trôi qua, từng tí một, sự suy nghĩ sẽ trở nên bất khả. Đến một ngày, bỗng dưng toàn bộ cơ cấu suy luận của bạn sụp đổ tan tành. Bỗng dưng bạn rơi vào trạng thái vô niệm. Và đó là kết quả của công phu thiền quán.
Một giai thoại Thiền học đã mô tả chuyện Thượng Tọa Huệ Minh tiếp cận thầy mình, ngài lục tổ Huệ Năng, để cầu xin điểm đạo. Ngài lục tổ bảo, "Trong một khoảnh khắc, hãy tập trung cái tâm của ngươi, giữ đừng cho nó chạy theo niệm thiện hay niệm ác."
Ngài Huệ Năng ngồi đó cùng các cao đồ và sẵn sàng vung trượng lên để đánh nếu cần. Ông bảo Thượng Tọa Huệ Minh, "Hãy nhắm mắt lại, trong một khoảnh khắc, hãy tập trung cái tâm của ngươi, giữ đừng cho nó chạy theo niệm thiện hay niệm ác." Thiện và ác là một hình thái của nhị nguyên tính. Bạn có thể gọi nó là sống và chết, thù hận và thương yêu, hoặc tốt và xấu -chỉ là một hình thái của nhị nguyên tính.
Ngài Huệ Năng bảo: Ta đang ngồi chờ ngươi đây. Ngươi hãy canh thức tâm mình, đừng cho nó khởi lên một niệm nào của nhị nguyên tính tốt và xấu. Đừng cho bất cứ cái gì là tốt, cái gì là xấu. Đừng phán xét. Nếu các niệm khởi lên, hãy cho chúng đi qua. Nếu ông Phật hiện ra, đừng cho rằng, "Tốt quá. Ta đã được gia bị, Ta đã thấy được Phật trong khi quán niệm." Hay nếu một cô gái điếm hiện ra, cám dỗ quyến rũ ngươi, đừng cho rằng đó là xấu -"Tại sao cái niệm này khởi dậy với tôi. Tại sao cái cô điếm này cứ theo đuổi tôi?" Đừng nguyền rủa nó. Ông Phật có hiện ra, cứ mặc kệ ông ta. Cô gái điếm có hiện ra, cứ mặc kệ cô ta. Đừng quan tâm, giữ mình trong vô niệm. Khi ngươi không còn ở trong nhị nguyên tính, ngươi ở trong vô niệm.
Sau khi Thượng Tọa Huệ Minh bảo rằng ông ta đã sẵn sàng như thế, Lục Tổ tiếp tục: "Bây giờ thì ngươi đã không còn chạy theo niệm thiện, niệm ác, ngươi hãy nhớ lại cái diện mạo của Thượng Tọa Minh trước khi cha mẹ ngươi sinh ngươi ra đời."
Bây giờ là vấn nạn thứ hai -Khi Thượng Tọa Minh bảo rằng, "Tôi đã sẵn sàng. Bây giờ tôi đã không còn ý niệm tốt xấu, không còn ý niệm phán xét phân biệt."
Ngài Huệ Minh này chắc chắn phải là một nhân vật hiếm có -chắc chắn là người đã có công phu thiền quán. Ông ta đã là một tăng sĩ, một hành giả, một người hành trì thiền định rất nhiều năm -nếu không, chắc là ông ta sẽ không đạt đến trạng thái đó một cách dễ dàng như thế. Và bạn không dễ gì gạt được một vị Thiền sư; bạn không thể giả bộ, "Vâng, bạch thầy, con đã đạt đến trạng thái này." Lập tức bạn sẽ nhận được vài gậy nên thân giáng vào đầu.
Một vị Thiền sư không hề tin vào cái gọi là phép lịch sự, vào hình thức xã giao, một vị Thiền sư thường là người có cung cách rất hoang dã. Và khi Thượng Tọa Minh bảo rằng, "Tôi đã sẵn sàng," ngài Huệ Năng tiếp...
"Bây giờ ngươi đã không còn chạy theo niệm thiện, niệm ác, ngươi hãy nhớ lại cái diện mạo của Thượng Tọa Minh trước khi cha mẹ ngươi sinh ngươi ra đời."
Bây giờ là đi lùi trở lại. Tìm kiếm chính mình. Ta là ai trước khi được sinh ra? Ta là cái gì trước khi được sinh ra? Quán niệm về cái sinh thức đó, đi sâu vào đó.
Ngài Huệ Minh dưới sự tác động của những lời dạy của Lục Tổ, đột ngột rơi vào tình trạng tĩnh lặng của bản lai diện mục. Và rồi với tất cả lòng tôn kính biết ơn, ông thưa với thầy, "Bạch Thầy, giống như một người đang uống nước. Y tự biết rằng nước lạnh hay nước nóng."
Ông ta không thể trả lời; không thể có một câu trả lời. Ông ta đã nếm được cái mùi vị, đã biết mình trước đây là ai, bây giờ mình là ai và tương lai sẽ là ai -nhưng ông ta không thể nói lên được bất cứ điều gì về chuyện đó. Không thể thốt ra lời, không thể diễn tả được.
Ông ta chỉ có thể nói lên được một điều: "Bạch Thầy, giống như một người đang uống nước. Y tự biết rằng đó là nước lạnh hay nước nóng. Con biết, nhưng con không thể trình giải với Thầy được."
Dĩ nhiên là ngài Huệ Năng cũng biết, nhưng ông cũng không thể nói ra. Và dĩ nhiên Đức Phật cũng biết nhưng ngài không thể nói ra. Tôi cũng thế -tôi cũng biết nhưng tôi không thể nói ra một cách chính xác nó là gì.
Một điều mà tôi có thể nói với bạn, nhưng nó sẽ luôn luôn là một phủ định: Đó không phải là sống và cũng không phải chết. Nó không phải thời gian cũng không phải không gian. Không là thân cũng không phải tâm. Không là hữu hình cũng không phải vô hình. Không là thiện cũng không phải ác. Không Thượng Đế cũng không phải Quỷ Sa Tăng. Tôi chỉ có thể phủ nhận, chỉ có thể nói rằng nó không phải như thế.
Thế nhưng muốn biết nó là cái gì, bạn phải uống. Chỉ khi nào người ta uống nước, người ta mớí biết ... đó là nước lạnh hay nước nóng.

Câu hỏi thứ năm:
Osho, ngài có điều gì muốn nói với tôi không?
Đây là câu hỏi của Anand Fareed. Fareed, tôi không có điều gì để nói cả. Tất cả những gì mà tôi muốn nói là không có gì để nói cả. Tất cả những gì mà tôi muốn nói với bạn chi là để chuẩn bị cho bạn một khoảnh khắc của sự tĩnh lặng vĩnh cửu khi bạn quên lời và khởi sự sống như một sinh thể.
Có lần Đức Phật hỏi một cao đồ của mình, ngài Tu Bồ Đề, "Này ông Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Như Lai có thuyết Pháp hay không?" Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật, "Bạch Đức Thế Tôn, Như Lai không hề thuyết pháp gì cả."
Trong suốt bốn mươi hai năm trường, Đức Phật đã không ngừng thuyết giảng thế mà ngài Tu Bồ Đề lại bảo rằng, "Bạch Đức Thế Tôn, Như Lai không hề thuyết pháp gì cả." Và Đức Phật đã công nhận điều xác quyết đó của Tu Bồ Đề - điều này đã làm cho một cao đồ khác, ngài A Nan -thị giả của Phật- đang ngồi cạnh đó, phải sửng sốt, "Ngài Tu Bồ Đề, ngài muốn nói điều gì? Có phải là Đức Thế Tôn đã không ngừng thuyết Pháp trong bốn mươi hai năm qua hay sao -năm này qua năm nọ, buổi sáng, buổi chiều, buổi tối. Ngài đâu có làm điều gì khác hơn?"
Nhưng Đức Phật đã xác nhận sự hiểu biết của Tu Bồ Đề chứ không phải là của A Nan. Ngài Tu Bồ Đề đã hiểu ý -còn ngài A Nan chỉ nghe lời. Đức Phật đã phải nói thêm, "A Nan, ông phải chờ thời gian mới hiểu được điều này. Tu Bồ Đề đã nói đúng."
Một lần khác, khi Đức Phật đã nhập niết bàn, tất cả tăng chúng, cao đồ đã tập trung lại để kết tập tất cả những lời dạy của Phật. Ngài A Nan đã không được phép tham dự pháp hội và ngài Tu Bồ Đề là một trong những người lãnh đạo cuộc kết tập này. Điều này rất khác thường -tuy nhiên những người này đã biết rằng Phật là một nhân vật khác thường.
Trong suốt bốn mươi hai năm trường ngài A Nan đã kề cận Đức Phật như bóng với hình. Ngài đã đã theo sát bước chân Phật đến khắp mọi nơi, ngay cả ngủ cùng chung phòng với Phật -ông là thị giả, là người thân cận duy nhất với Đức Phật. Ngài đã nghe không sót bất cứ lời dạy nào của Phật, và trí nhớ của ngài thật phi thường.
Và bây giờ Tu Bồ Đề là một trong những người lãnh đạo của đại hội kết tập những lời giáo huấn của Phật - người mà A Nan không hề rời nửa bước ... Còn Tu Bồ Đế thì rất hiếm khi gần Phật -bởi vì ông nhận sứ mạng đi hoằng pháp khắp xứ Ấn Độ. Ít gần gũi với Phật, chỉ được nghe Phật thuyết giảng một đối lần, thế mà bây giờ ngài Tu Bồ Đề lại là một trong những người lãnh đạo đại hội, sắp kết tập những điều Phật thuyết giảng - trong khi đó A Nan, có vẻ như là người có đủ tiêu chuẩn nhất để lãnh đạo công việc này, ngay cả việc tham dự đại hội cũng không được phép.
Ngài Tu Bồ Đề lại bảo A Nan, "Ngài hãy ngồi ở ngoài như người gác cửa -như ngài đã từng làm công việc đó với Đức Phật trước đây. Ngài phải ngồi lại ở ngoài cửa này. Trừ phi ngài chứng đắc A La Hán, ngài không được phép vào trong."
Cũng chính ngài Tu Bồ Đề này, người đã từng bảo rằng Đức Phật không hề thuyết giảng gì cả bây giờ lại trở thành người đứng ra chủ trì việc kết tập kinh điển -tất cả những lời dạy của Phật sẽ được thu thập lại và lý giải dưới sự hướng dẫn của ông ta. Thế nhưng, ở đó là những tri kiến căn bản vững chắc về giáo lý, những tri kiến không thông qua lời nói, văn tự, ngoài ra tất cả đều chỉ là những hiểu biết, nhận thức hời hợt bên ngoài -bởi vì chân đế rốt ráo không thể được nói bằng lời. Tuy nhiên chúng sanh nói chung tâm trí còn cạn cợt, thế nên ngay cả một vị Phật cũng khó có thể thuyết giảng những chân lý cao siêu cho họ.
Thế là ngài A Nan bị bỏ mặc ở ngoài đại hội. Năm trăm vị tì kheo đang tụ tập ở trong phòng họp -trong đó nhiều người tuổi hạ còn kém xa A Nan. Không những là một trong những người có hạ lạp cao nhất, A Nan còn là người anh em chú bác của Phật -người anh họ thân cận nhất của Phật. Và A Nan đứng đó, ở bên ngoài buồn rầu đến độ không cầm được nước mắt.
Câu chuyện kể rằng, một ngày một đêm đã trôi qua, và A Nan vẫn còn đứng ở ngoài cửa đại hội, lòng tràn đầy thống khổ. Tuy nhiên sau hai mươi bốn giờ, đột nhiên một cái gì đó như ánh sánh bùng dậy ở trong ông, A Nan lập tức hiểu được điều Phật dạy trước đây, hiểu được tại sao Phật lại xác nhận rằng, "Ông Tu Bồ Đề đã nói đúng; còn ông A Nan, ông đang sai lầm. Ông chỉ nghe được những lời nói của tôi -và lời nói không là gì cả. Đạo vốn không lời."
A Nan ngập tràn hoan lạc, nhảy múa reo vui. Ngay khoảnh khắc xảy ra với A Nan ở bên ngoài, Tu Bồ Đề đang ở bên trong kết tập kinh điển đột nhiên dừng lại và nói với tăng chúng, "Chúng ta ra ngoài cung thỉnh ngài A Nan vào. Ngài vừa đắc quả A La Hán xong, và xứng đáng để tham dự đại hội."
Các vị thánh tăng bước ra cửa và trông thấy ngài A Nan đang nhảy múa. Chưa bao giờ họ trông thấy một người có một khuôn mặt rạng rỡ, tràn ngập niềm phỉ lạc hân hoan như thế. Và họ nghe ngài A Nan tán thán, "Đức Phật đã nói rất đúng. Xưa nay ta chỉ nghe lời. Bây giờ ta mới nghe được âm thanh không lời."
Ngài Tu Bồ Đề liền cất tiếng, "Bây giờ thì ngài có thể kể lại những gì mà ngài biết, những điều mà ngài nghe về Đức Thế Tôn. Bây giờ thì trí nhớ của ngài rất đáng tin cậy, vì ánh sáng tri kiến đã bừng dậy. Trước đến giờ, trí nhớ của ngài chỉ thuần tuý là một cổ máy -nó chưa hề được thắp sáng bên trong."
Thế nên, điều mà tôi có thể nói vớí bạn, Fareed: Rằng, tôi không có điều gì để nói với bạn cả. Và nếu bạn hiểu được điều này, thì đó là thông điệp của tôi.

Câu hỏi thứ sáu:
Tôi không thể nào tin được một cái gì đó giống như tam ma địa hay hoát nhiên đạt ngộ có thể xảy ra. Trừ phi được thực chứng, làm thế nào tôi có thể tin rằng ngài là một ông Phật hay là ai đó?
Đúng thế. Không ai bảo bạn phải nên tin cái này cái nọ. Làm sao mà bạn có thể tin được? Trông chờ vào một chuyện như thế quả là điều xuẩn động.
Ai bảo bạn rằng phải nên tin? Ở chỗ này không hề rao giảng đức tin. Đức tin là một hình thái vô minh, và với đức tin, con người vẫn sẽ còn mãi chìm đắm trong vô minh. Niềm tin chỉ là một vật thay thế giả tạo -nếu bạn bắt đầu tin, bạn sẽ không bao giờ hiểu biết. Cần lưu ý bạn điều này: nếu bạn khởi sự tin vào cái gì, bạn sẽ ngừng lớn dậy. Không hề có nhu cầu để tin.
Thế nhưng cũng không có nhu cầu để nghi -đây là điều cần nên biết. Cái đó được gọi là tin cậy -chính là không tin và không nghi. Điều này thoạt trông có vẻ khác thường, bởi vì thông thường bạn cho rằng tin cậy có nghĩa là tin tưởng vào cái gì. Không phải thế -tin là không tin và cũng không nghi.
Bạn không cần phải tin, cũng không cần phải nghi tôi. Bạn có thể chỉ có mặt ở đây như một thí nghiệm, như một giả định. -"Có thể gả này đúng, cũng có thể gả này sai." Bạn không cần phải đi đến quyết định. Làm sao bạn quyết định được? Bạn phải trải qua sự chứng nghiệm với ngay chính tâm thức mình -từ đó mới đi đến sự quyết định.
Nếu tôi đang nói về điều mà bạn chưa hề được biết, làm sao bạn lại có thể tin được điều này. Tất cả mọi niềm tin đều chỉ là một sự đè nén -sự đè nén mối nghi của bạn ở trong lòng. Tôi không hề bảo bạn hãy tin tưởng ở tôi. Chỉ có một điều mà bạn có thể làm, nếu như bạn có thể làm được; đó là cũng đừng nghi, mà hãy để cho tâm hồn rộng mở. Bởi vì khi một khoảnh khắc hoài nghi dấy lên, đó chỉ là mặt phản diện của niềm tin, thế thôi.
Đừng nói rằng, "Những gì Đức Phật dạy là đúng hay sai" -Đừng nói gì cả, không có nhu cầu cần thiết. Làm thế nào mà bạn có thể nói là 'đúng' hay 'sai' trong khi bạn chưa hề nếm thử mùi vị của nó? Thế nên cứ nên mở lòng mình ra, đừng bao giờ mang ý niệm đúng, sai. Sự cởi mở, và không thành kiến chính là lòng tin cậy. Và nếu cứ để cho tâm hồn mình rộng mở, theo với thời gian, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy có một cái gì đó lớn dậy trong tâm mình.
Nếu bạn gần gũi thân cận với một người đã nhập tam ma địa, và tâm hồn bạn rộng mở, cái tam ma địa này cũng sẽ thấm lan vào bạn, sẽ tưới tẩm tâm hồn bạn. Nếu lòng bạn mở ra, những cánh cửa tâm hồn mở ra, ánh sáng sẽ không dừng lại ở bên ngoài, chúng sẽ ùa tràn vào ngay lập tức.
Thế nên tôi không hề bảo rằng bạn phải tin tưởng vào tôi, bởi vì một người khi tin vào một cái gì đó, tâm hồn của họ thường bị khép lại. Tôi cũng không bảo là nên hoài nghi, bởi vì một người khi nghi ngờ điều gì, tâm hồn của họ cũng bị đóng kín luôn. Thế thì thế nào là một con người của tin cậy? Con người của tin cậy là một con người cởi mở, trải lòng ra với mọi người. Sống cởi mở nghĩa là sống trong tin cậy.
Tin hay nghi, cả hai đều là nhị nguyên tính của một năng lượng. Hãy buông bỏ cả hai. Hãy là tại đây. Không sợ hãi cũng không phòng thủ. Nghi ngờ là ở trong trạng thái phòng thủ. Lòng nghi ngờ cất lên tiếng nói, "Tôi sợ người này sẽ dẫn tôi đến một nơi chốn nào đó mà tôi không muốn đến." Không ai có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu mà bạn không muốn. Và tôi cũng không hề cố tình đưa bạn đến bất cứ nơi nào cả, chỉ đơn giản là mang bạn đến ngay tại chỗ này. Không hề có vấn đề ở nơi đó. - không bao giờ có cái gọi là nơi đó. Chỉ có một vấn đề duy nhất là tại đây, và ngay bây giờ.
Ngay bây giờ -trong cái ngay bây giờ này không có tin và cũng không có nghi. Bạn lắng nghe tôi cũng như bạn đang lắng nghe tiếng chim hót buổi sáng ở ngoài kia, như tiếng âm nhạc vọng lên ở một cõi nào. Có ai đó đang chơi đàn "luýt" Ấn Độ -bạn không tin trong cách thế của niềm tin; bạn không nghi, trong cách thế của sự không tin cậy. Bạn chỉ mở lòng ra, đó là cách thế mà tôi muốn bạn sống trong tin cậy. Tin cậy một cách đơn giản. Người này đang chơi đàn, một cái gì đó có thể xảy ra, bạn đón nhận một cách cởi mở. Bạn luôn sẵn sàng đón nhận -cái đó gọi là lòng tin cậy. Bạn chỉ lắng nghe. Trong lòng bạn không hề dấy lên một sự đôi co, rằng người kia chơi đàn thật hay quá tệ. Cái gì hiển nhiên sẽ tự phơi bày -đâu có nhu cầu phải đôi co tranh cãi, cho dù là phù hay chống.
Nếu chân lý có mặt ở đây nó sẽ tự hiện bày. Chân lý tự nó có sức thuyết phục lớn lao; nó không cần đòi hỏi đến bất cứ niềm tin nào. Chỉ có giả dối hư ngụy mới đòi hỏi niềm tin. Chân lý chỉ nói lên một điều duy nhất là không nên để bị vướng mắc vào tin hay nghi; luôn luôn rộng mở và sẵn sàng, và rồi mọi chuyện sẽ tự xảy đến.
Làm thế nào bạn có thể tin vào tôi được? Tôi đang nói bằng một ngôn ngữ khác và bạn đang nghe bằng một ngôn ngữ khác. Tôi nói điều này, bạn nghe điều khác - làm sao bạn có thể tin tưởng ở tôi? Tôi đang nói về một cõi khác trong khi bạn đang sống ở một cõi khác. Tôi mang đến cho bạn một cảnh giới trọn vẹn mà bạn chưa hề sống qua -làm sao để bạn có thể tin được? Nhưng đồng thời làm sao bạn lại có thể không tin?
Hai con rết vừa xem xong một suất chiếu bóng. Brigitte Bardot là tài tử chính.
"Phim tuyệt hay," một con rết phẩm bình.
"Và Bardot cũng có cả cặp giò nữa -rất tuyệt," con rết thứ hai trả lời một cách phấn khởi. Con rết thứ nhất gật gù, "Vâng, nhưng chỉ có hai chân thôi, quá ít."
Vâng, một con rết chỉ là một con rết. Trừ phi Bardot có cả trăm chân, chuyện đó đâu có thành vấn đề đối với một con rết? Có thể là Bardot có một cặp giò thượng thặng - nhưng hai chân thôi, quá ít...
Một vị giám mục đi về vùng quê và đang tán chuyện thân mật với một gã chăn chiên. "Đàn chiên của bạn bao lớn?" Ông ta hỏi. "Dạ, năm trăm năm chục con," người chăn chiên trả lời, không hề biết rằng người đang đối thoại với mình là một vị giám mục.
"Ồ, trên một phương diện nào đó, chúng ta coi như là bạn đồng nghiệp với nhau -Tôi cũng có một đàn chiên khá lớn," vị giám mục bắt đầu, gợi ý về vai trò lãnh đạo tinh thần của mình.
"Ồ, thật vậy sao?" người chăn chiên vui vẻ, "Thế ông có tất cả bao nhiêu con?"
Vị giám mục trả lời không chút do dự, "Chắc là khoảng một trăm năm chục ngàn!"
Nghe đến đó, gã chăn chiên hai tay ôm đầu thán phục, "Trời đất ơi, chắc là ông phải rất bận rộn trong mùa động tình của chúng!"
Vâng, một anh chăn chiên chỉ là một anh chăn chiên - ngôn ngữ của anh ta là ngôn ngữ của riêng anh ta. Khi vị giám mục nói rằng, "Tôi cũng là một kẻ chăn chiên," ông ta đang dùng một ngôn từ hoàn toàn xa lạ với ngôn từ của anh chàng chăn chiên nghèo hèn ít học này. Y không thể nào hiểu được cái ý nghĩa tượng trưng trong câu nói, y không thễ hiểu được sự ẩn dụ này.
Khi tôi đang nói chuyện với bạn, tất cả những điều tôi nói đều chỉ là ẩn dụ. Phải dùng đến những ẩn dụ, vì nếu không bạn sẽ chẳng hiểu được gì cả. Như thế làm sao bạn có thể tin ở tôi được? -những ẩn dụ này chỉ hoàn toàn là những ẩn dụ đối với bạn. Trừ phi chúng trở thành những kinh nghiệm bản thân của chính bạn, làm sao bạn có thể tin ở tôi?
Và tôi cũng không phải có mặt ở đây để giúp đỡ bạn tin tưởng vào tôi. Sự có mặt của tôi ở đây chỉ là để giúp bạn hiểu. Tin tưởng không phải là cách thế của tôi. Đừng an trú trong niềm tin -trừ phi bạn hiểu thấu đáo, niềm tin chỉ là điều vô nghĩa. Khi bạn hiểu, niềm tin không còn cần thiết nữa. Khi bạn hiểu, bạn thông suốt; đâu cần đến phương cách để tin. Khi bạn không hiểu, bạn sẽ không biết; cũng đâu có phương cách nào để tin.
Như thế điều gì cần phải được thực hiện? Sư tin cậy. Tin cây không hề dính dáng đến tin hay nghi. Đây chỉ là vấn đề yêu thương. Nếu bạn thương yêu tôi, nếu bạn cảm nhận rằng, "Bất cứ nơi nào có sự hiện diện của người này, rất đáng để cho mình tìm hiểu," -chỉ thế thôi. "Rất đáng để cho mình tìm hiểu, bất cứ nơi nào mà người này có mặt. Trong bất cứ cảnh giới nào mà ông ta hiện hữu, rất đáng để cho mình tìm hiểu." Chỉ thế thôi -có một sự thôi thúc để khám phá là quá đủ rồi.
Hãy xem tôi như là một cuộc phiêu lưu của bạn. Không phải là bến đổ để bạn thả neo đời mà là một cuộc phiêu lưu vào vô định. Tôi không muốn trở thành một nhà tù cho bạn, tôi muốn trở thành sự tự do của bạn.

Câu hỏi thứ bảy:
Tôi đã nhập thất và tịnh khẩu trong suốt hai mươi mốt ngày theo đúng như ngài hướng dẫn. Từ đó, tôi cảm thấy mình có một năng lực lớn lao. Hôm rồi một con chó thấy tôi và sủa dữ dội. Tôi tự nói với mình, "Ngưng ngay!" Con chó ngưng sủa ngay lập tức. Tôi thử với một người đang đi về hướng nhà mình, và bảo thầm, "Hãy chạy!" Thế là y bắt đầu chạy. Rồi tôi cũng thử như thế với một người đàn bà đang đi trước mặt tôi, tôi bảo, "Hãy quay mặt lại và nháy mắt với tôi." Quả nhiên, cô ta làm như thế. Nhưng kể từ lúc ấy, tôi cảm thấy mình yếu đi nhiều. Chuyện gì đã xảy ra?
Tôi đã cố gắng thử rất nhiều lần nữa sau đó, nhưng không có chuyện gì xảy ra cả. Có điều gì sai lầm chăng?
Bạn hết xăng! Trong cái thời buổi năng lượng khan hiếm này bạn phải nên cẩn trọng một tí!
Tuy nhiên điều đó đã xảy ra. Bắt nguồn từ sự tịnh khẩu chuyện đó đã xảy ra, bạn cảm thấy mình có năng lực -bởi vì trong suốt hai mươi mốt ngày, năng lượng được tiếp tục tích lũy, nó trở thành một cái hồ chứa. Bạn phí phạm năng lượng của bạn do bởi nói năng. Bạn đã phí phạm năng lượng của mình một cách không cần thiết, không mục đích. Bạn tiếp tục làm tiêu mòn năng lực của mình -đã có đến cả một ngàn lẻ một lỗ mội trong chiếc thuyền của bạn.
Khi bạn tịnh khẩu trong suốt hai mươi mốt ngày, bạn đã duy trì, đã bạn bảo tồn được nguồn năng lượng này. Và rồi bỗng dưng bạn cảm thấy mình có năng lực. Nếu trong tương lai chuyện này lại xảy ra, không nên sử dụng nó -nếu dùng đến, bạn lại phí phạm nó một cách vô ích. Dùng để làm con chó ngưng sủa thôi ư?... Có đáng không? Bạn muốn trở thành một Satya Sai Baba chắc? Đừng có xuẩn động như thế. Bạn đã phí phạm nó.
Thế nhưng lần đầu tiên nó đã xảy ra. Sự phí phạm đồng thời cũng xảy ra, bởi vì đây là lần đầu tiên bạn không để ý đến điều gì sẽ xảy ra -cái năng lượng còn rất mới mẻ. Trong các kinh sách cổ điển có nói rằng nó sẽ cạn kiệt đi nếu dùng đến ba lần. Thế là qua câu chuyện của bạn, bạn đã đi rất đúng bài bản. Lần đầu tiên khi bạn cảm thấy mình có năng lực, skati, đó chỉ là vô thức - và rồi không biết rõ bạn sử dụng đến. Con chó đang sủa, bỗng dưng bạn bảo, "Ngưng ngay!" Không phải là bạn đã chủ tâm làm việc này -chỉ là nguồn năng lực sẵn có ở đó buộc bạn thốt nên lời như thế. Và bạn cũng không trông chờ việc con chó sẽ ngưng sủa -con chó không nghe lời một cách dễ dàng như thế. Thế nhưng khi con chó ngưng sủa, bạn quả tình bối rối. Có thể bạn nghĩ rằng đây chỉ là một ngẫu nhiên.
Thế rồi bạn thử lần thứ hai - để xem thử đó có phải là chuyện ngẫu nhiên hay không. Cái lần thứ hai này bạn hành động có ý thức, có chủ tâm hơn. Lần trước có thể là chuyện ngẫu nhiên, bạn chưa tin chắc lắm, thế nên lần này bạn bảo một người đàn ông đang đi về hướng nhà mình, "Hãy chạy!" Thế là y khởi sự chạy. Lần này thì dứt khoát không phải là chuyện ngẫu nhiên rồi. Một lần thì OK - nhưng hai lần là quá nhiều.
Bạn thử thêm lần thứ ba, bây giờ thì bạn gần như đã trở thành một con người hướng ngã rồi. Bạn đã biết chuyện gì xảy ra; bạn biết là mình có khả năng làm được một chuyện gì đó. Và bây giờ bạn đem khả năng đó ra thử với một người đàn bà - nàng ta sẽ phải quay mặt lại và nháy mắt với bạn. Và quả đúng như thế. Bây giờ thì cái ngã của bạn đã bay vút lên cao, đã lên tới đỉnh. Và một khi có cái ngã dính vào, ta lại trở thành con người yếu đuối như cũ.
Cái năng lực này có thể biến bạn trở thành con người rất mực ngã mạn nếu bạn dùng tới nó. Thế nên tất cả các bí kíp lưu truyền trên thế gian này đều đã có nói đến: Khi cái năng lực này xảy đến cho bạn, xin làm ơn cẩn thận dùm, đừng dùng đến nó.
Vâng, câu chuyện như thế đã xảy ra với bạn. Lần tới nên cẩn thận hơn. Bất cứ lúc nào bạn cảm thấy mình có năng lực, hãy nhớ rằng: cái năng lực này có thể sẽ mất đi dễ dàng. Và bạn có cả toàn bộ cơ chế để đánh mất nó -đó là toàn bộ quá khứ của bạn, cái quá khứ đã bị rò rỉ. Chính cái quá khứ đó đã chơi khăm bạn, đã điều khiển để lừa phỉnh bạn. Bằng cách làm cho con chó ngưng sủa hay làm cho người đàn ông chạy, bạn đã bị cái quá khứ đó gạt gẫm.
Bạn đã hết xăng rồi. Lần tới nếu cảm thấy mình có năng lực, giữ lại năng lực đó -bằng cách không sử dụng đến nó một tí nào cả, nếu bạn muốn giữ nó lại ... Sự thôi thúc luôn có mặt, vâng, sự thôi thúc để sử dụng có thể rất mực lớn lao, bạn có thể ngồi đứng không yên với nó -bởi vì năng lực có sẵn trong tay, và bạn có thể dùng nó để làm những chuyện khùng điên. Và tất cả những chuyện mà bạn có thể làm được đều khùng điên hết thảy, bất kể chuyện gì.
Nếu bạn có thể giữ mình trầm tĩnh, an nhiên trước sự thôi thúc sử dụng đến nó, thì cái năng lực đó sẽ được tiếp tục duy trì - và bạn trở thành người có năng lực thực sự. Và rồi cái năng lực đó sẽ không còn ở trong tay của cái ngã, nó sẽ len lách vào sâu hơn. Lúc đó cái ngã sẽ không còn được củng cố bởi nguồn năng lực này. Thực ra, bây giờ nó trở thành cái khiêm tốn của bạn, cái vô ngã của bạn.
Khi cái năng lực trở thành khiêm tốn - khi nó trở nên đơn giản, vô ngã - chính lúc đó Thượng Đế khởi sự vận hành thông qua bạn. Khi bạn có năng lực, chỉ lúc đó bạn mới là một trung gian của Thượng Đế. Lúc đó bạn trở thành một phương tiện chuyển vận.
Có rất nhiều hoa sen đang chờ đợi để nở hoa trong bạn, nhưng chúng cần đến năng lực. Thay vì dùng nó để làm con chó ngưng sủa, hãy để cho nó thẩm thấu, vận hành trong toàn bộ sinh thể bạn. Rất nhiều đoá sen, một ngàn lẻ một đoá sen, sẽ nở hoa trong bạn. Đừng có bao giờ điên khùng dại dột nữa. Nếu nó đã xảy đến một lần cho bạn, nó sẽ còn xảy ra - không có vấn đề gì cả. Lần tới hãy cảnh giác, tỉnh thức hơn một tí. Đừng để mình trở thành trò chơi của vô thức
Xem Chương 7 - Quay về Mục lục - Quay về Mục lục Toàn tập

Ads Belove Post