Chương 4. Ham muốn thực sự

Chương 4. Ham muốn thực sự

Price:

Read more

Osho - Nhịp đập của tuyệt đối
Chương 4. Ham muốn thực sự

Upanishad chia con người ra làm hai loại. Loại thứ nhất là những người giết chết atman - cái ta; họ là những người tự tử vì họ giết cái ta riêng của họ. Và có những người biết cái ta; họ thuộc vào loại thứ hai. Người biết cái ta và người giết cái ta. Chúng ta có một từ, atmahatya, nghĩa là giết cái ta, nhưng chúng ta không dùng nó theo đúng nghĩa của nó. Upanishad đã dùng nó theo đúng nghĩa của nó. Khi một người phá huỷ thân thể mình, chúng ta nói người đó tự tử - đã giết chết atman. Điều này không đúng, vì giết chết thân thể không có nghĩa là giết chết atman. Giết thân thể riêng của bạn chắc chắn là tự tử. Nó chắc chắn có nghĩa là cái chết riêng của riêng bạn, và vậy mà, đồng thời, nó không phải là của riêng bạn. Nó đơn thuần là thay đổi cái vỏ, thay đổi thân thể. Nó là việc giết chết thân thể, không phải là giết cái ta - không phải là giết chết atman.
Upanishad gọi người ấy là kẻ giết chết - kẻ phá huỷ cái ta - người cứ sống mà không biết đến bản thân mình, người bị bao phủ trong dốt nát. Người như thế là người đang giết chết atman của mình. Sống mà không biết đến bản thân mình là việc tự tử thực sự. Và tất cả chúng ta đều sống mà không biết đến chính bản là những người bị vây bọc trong bóng tối của không hiểu biết mình. Những người là kẻ giết cái ta đi tới thế giới của Asura sau cái chết. thân mình. Chúng ta sống nhưng chúng ta không biết chút nào về chúng ta là ai, chúng ta từ đâu đến, tại sao chúng ta có, chúng ta có với mục đích gì, chúng ta đi đâu, ý nghĩa cuộc sống này là gì. Không, về tất cả những câu hỏi này, chúng ta không có ý tưởng mờ nhạt nào. Chúng ta không biết gì về bản thân mình. Chúng ta có thể biết về nhiều thứ khác, nhưng chúng ta hoàn toàn dốt nát về một điều; chúng ta không biết gì về bản thân mình.
Upanishad sẽ qui chúng ta là kẻ giết cái ta, là asura - là ma quỉ. Cố ý hay không cố ý chúng ta làm tổn thương bản thân mình chừng nào mà chúng ta còn chưa biết tới bản thân mình. Trước hết dốt nát của chúng ta gây rắc rối cho chúng ta, thế rồi nó gây rắc rối cho người khác. Nhớ trong tâm, người dốt nát tấn công bản thân mình trước và tấn công người khác sau. Thực ra chừng nào mà chúng ta còn chưa tấn công mình trước, không thể tấn công người khác được. Không thể gây đau cho người khác trước khi chúng ta làm như thế cho bản thân mình. Người chưa bao giờ bị gai đâm vào chân mình không rải gai trên đường của người khác. Và người còn chưa làm cho mình phải khóc không bao giờ tạo ra kế hoạch gây rắc rối cho người khác. Sự kiện là trước hết chúng ta tạo ra rắc rối cho chính mình, và khi nó đã trở thành rắn chắc và tập trung và bắt đầu biểu lộ qua chúng ta, thế thì chúng ta bắt đầu phân phát nó. Duy nhất khổ làm cho người khác bất hạnh. Điều này dường như là phải vì chúng ta đang chia sẻ cái chúng ta có. Nhưng việc cho này là cái đến sau, cái thứ yếu; trước hết chúng ta gây ra đau đớn và khổ sở cho bản thân mình.
Không phải tất cả chúng ta đều đang gây ra đau khổ cho bản thân mình đấy sao? Chúng ta đang làm thế đấy! Chúng ta có thể cố gắng để đem vui vẻ và thích thú đến cho người khác nhưng đến cuối cùng chúng ta chỉ đem cho đau khổ. Con đường tới địa ngục được lát bằng thiện ý, và nó được làm bằng những nỗ lực của mong muốn tốt lành mà chúng ta nuôi dưỡng cho bản thân mình. Ham muốn của chúng ta là gì không phải là vấn đề gốc rễ. Tất cả chúng ta đều ham muốn đem vui vẻ đến cho bản thân mình, nhưng không ai có thể đem cho mình vui vẻ mà không biết đến bản thân mình. Làm sao một người không biết “Tôi là ai?” có được bất kì ý tưởng nào về “Vui vẻ của tôi là gì? Tôi có thể biết được vui vẻ của mình là gì chỉ khi tôi biết bản tính của tôi, bản thể của riêng tôi, cái ta của tôi.”
Chừng nào mà tôi còn chưa biết gì về loại gốc rễ ăn sâu trong tôi, làm sao tôi có cảm giác nào về hoa gì có thể nở trong tôi? Tôi có thể hi vọng vào loại hoa nào khi tôi dốt nát đến thế về loại hạt mầm nằm bên trong tôi? Tôi nên ao ước là loại hoa nào? Nếu tôi không có một ý tưởng tối thiểu nào về bản thân hạt mầm, kết quả chỉ có thể là bất hạnh cho tôi, dù tôi có thể cố gắng bất kì cái gì, vì tôi không thể là cái tôi cố là được, và hậu quả tôi trở thành khổ, đau buồn, lo âu. Tôi sẽ chết trong căng thẳng và lo âu. Toàn thể cuộc đời tôi sẽ là cuộc chạy đua điên cuồng của thèm khát, nhưng tôi sẽ không đạt tới đâu cả. Mặc dầu cuộc hành trình rất dài, tôi sẽ không tìm ra nơi đến, vì nó bị giấu kín trong bản tính của tôi, trong cái ta của tôi.
Trước hết tôi phải biết tôi là ai. Tôi phải chắc chắn liệu tôi đang cố gắng phát hiện ra tôi là gì, hay liệu tôi đang cố gắng phát hiện ra tôi không là gì. Nếu tôi không phát hiện được tôi không là gì, tôi sẽ chắc chắn bị khổ. Điều đáng quan tâm hơn là ở sự kiện rằng nếu tôi thực sự thành công trong việc phát hiện ra tôi không là gì, tôi vẫn sẽ khổ. Những người không thành công trong cuộc sống chắc chắn trở nên khổ, nhưng không có sự chấm dứt khổ sở cho cả những người thành công. Những người không thành công đó trở thành khổ là có thể hiểu được. Nhưng những người thành công cũng trở nên bất hạnh. Đi và tìm ra điều ấy từ người thành công mà xem.
Thế thì dường như là cuộc sống là một trò đùa lớn, sự diễu cợt. Trong thế giới này người không thành công trở thành bất hạnh, điều dường như hoàn toàn logic; điều ấy dường như công bằng và đúng đắn. Nhưng những người thành công trong cuộc sống cũng bất hạnh. Trong những hoàn cảnh như thế, thế giới này dường như là rất quái dị và không cân bằng. Khi cả người thành công và người không thành công đều phải bất hạnh, thế thì dường như không có cách nào để hạnh phúc. Cho nên trước hết chúng ta hỏi những người thành công tại sao họ bất hạnh, vì không cái gì đáng ngạc nhiên về người không thành công bị bất hạnh. Chúng ta hỏi những người như Alexander Đại đế và Stalin; chúng ta hỏi các nhà triệu phú như Carnegie và Ford. hỏi những người đã thu được cái họ muốn. Hỏi họ, “Ông có tìm thấy hạnh phúc không?” và bạn sẽ rất phân vân khi nghe họ trả lời. Họ nói, “Chúng tôi đã thành công, nhưng thành công trong trong việc tìm ra bất hạnh.”
Những người không thành công cũng nói, “Chúng tôi không đạt tới hạnh phúc; thay vì thế chúng tôi tìm thấy bất hạnh.” Những người đã đạt tới thành công nói, “Chúng tôi thành công trong việc trở nên bất hạnh; chúng tôi chỉ tìm thấy bất hạnh trong tay.”
Những người chạy nhanh nhất trong cuộc đua của cuộc sống đạt tới đích của họ chỉ qua bất hạnh; và những người không đạt tới đâu và cứ lang thang đây đó nơi hoang vu cũng vẩn vơ trong khổ sở. Khi như vậy là trường hợp, cái gì là khác biệt giữa đích đến và con đường? Cái gì là khác biệt giữa đi lang thang và đạt tới đích? Dường như không cái gì khác biệt cả. Khác biệt không thể được thấy, vì người không biết mình là ai sẽ bị làm cho khổ sở ngay cả bởi thành công của người đó. Cái ngày mà người đó trở nên thành công người đó sẽ nhận ra rằng toà nhà mà người đó đã xây dựng - thành tựu lớn của người đó - đã không hoàn thành nhu cầu của người đó. Nó không cho bản tính của người đó sự nuôi dưỡng nào. Toà nhà đã được xây dựng, người đó đã tích luỹ của cải, người đó đã tìm thấy danh vọng và tài sản; nhưng những thành đạt này không nuôi dưỡng gì cho bất kì phần nào của cuộc sống nội tâm của người đó cả, chúng không đem đến mãn nguyện. Người đó đã phải thăm dò để phát hiện, “Cái gì là ham muốn thực sự của mình, cái gì là khát khao của mình? Mình thực sự ước muốn cái gì?” Không biết được ham muốn thực sự của mình bạn sẽ đơn giản cứ tiếp tục ham muốn, nhảy hết từ ham muốn nọ sang ham muốn kia.
Vài ngày trước khi chết, Freud đã viết trong một bức thư gửi cho một người bạn: “Sau khi nghe nói về khổ sở của hàng nghìn người trong cả cuộc đời tôi, tôi đã đi đến kết luận rằng loài người mang định mệnh là bao giờ cũng còn trong bất hạnh, lí do là ở chỗ con người không biết mình muốn gì.” Khi một người như Freud nói một điều như vậy, vấn đề này cũng đáng để suy nghĩ tới. Ông ấy nói, “Tôi đã đi đến kết luận rằng con người không biết mình muốn gì, sau khi đã nghiên cứu những đau khổ, lo âu, khắc khoải và những xung đột tinh thần của hàng nghìn người bất hạnh.”
Con người sẽ không bao giờ biết điều mình muốn bởi vì, ngay ở chỗ đầu tiên, người đó không biết mình là ai. Giả sử tôi ra phố mua quần áo may sẵn cho bản thân mình. Tôi không biết gì về thân thể tôi cả, tôi không biết gì về số đo của mình cả, tôi không biết gì về các yêu cầu thân thể của tôi; nói tóm lại, tôi không có bất kì ý tưởng nào về bản thân mình vậy mà tôi ra phố mua quần áo may sẵn. Khi chúng có đầy ra đấy tôi thấy rằng chúng không vừa với tôi. Có cái gì sai ở đâu đó; chúng không khớp với việc sử dụng của tôi. Bằng đủ mọi cách đi và kiếm quần áo may sẵn đi, nhưng trước khi đi ra, tìm xem bạn là ai, tìm xem quần áo của ai đang được chuẩn bị, nhà của ai đang được xây dựng, hạnh phúc của ai đang cần được tìm.
Điều rất đáng quan tâm là quan sát rằng một người biết mình là ai không sớm hơn cuộc hành trình, và mọi thu xếp cùng chuẩn bị cho toàn bộ cuộc đời anh ta, được biến đổi. Người đó không còn tìm kiếm những cái mà chúng ta tìm kiếm nữa. Người đó không biểu lộ sự sẵn lòng mỉm cười và vẻ hài lòng bởi ai đó chào giá hời - hay không phải mất gì - để có được cái mà vì nó chúng ta phải lao động vất vả. Nếu ai đó sẵn lòng cho không người đó cái gì đó, người đó sẽ quay mặt đi với người này trong trường hợp cái đó bị tống vào anh ta. Người đó quyết tâm đạt tới cái gì đó hoàn toàn khác, cái gì đó bất thường; và cũng rất đáng quan tâm mà thấy rằng những người đã biết bản thân mình không bao giờ thất bại. Cho đến giờ họ chưa bao giờ không thành công. Họ thành công cũng nhiều như những người không biết bản thân mình vẫn không thành công. Người đã biết tới bản thân mình trở nên thành công bởi vì, khi biết về cái ta, người đó mở ra cho bản thân mình cái bí mật đó và cái cửa đó nơi phúc lạc có đấy. Phúc lạc đó bị ẩn giấu bên trong cái ta.
Cho nên,  Upanishad tuyên  bố có hai kiểu người: những người biết tới chính bản thân họ, và những người dốt nát về bản thân họ. Những người không biết tới bản thân mình theo đuổi con đường của họ đi vào dốt nát, và mọi thứ họ làm đều được tiến hành trong dốt nát. Họ cứ thu nhận trong dốt nát, họ ra quyết định trong dốt nát, và trong cái dốt nát của họ, cuộc đua của họ càng trở nên ngày một nhanh hơn. Cách nhìn nhận thông thường là: “Mình đã không đạt được điều mình muốn trong cuộc sống bởi vì mình chạy chưa nhanh như mình đáng phải chạy. Để mình chạy nhanh hơn một chút, nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, để cho mình có thể đạt tới mục đích của mình. Có lẽ mình chưa đạt được nó bởi vì mình đã không đặt cược tất cả. Nếu mình đặt cược tất cả, mình có thể đạt được.”
Chúng ta không bao giờ dừng việc xem xét liệu điều ta đang cố gắng đạt tới có bất kì hài hoà nội tâm nào với chúng ta hay không. Cho dù một điều được đạt tới, nó sẽ thành vô dụng, và nếu nó không được đạt tới, nó không thể hữu dụng gì; và thời gian dành ra để thu được nó hay để không thể thu được nó bị mất đi. Tới mức độ này chúng ta trở thành kẻ ám sát của mình. Chúng ta đã trở thành asura, ma quỉ, kẻ giết atman - cái ta. Từ asur nghĩa là những người sống trong bóng tối. Nó có nghĩa là những người sống tại một nơi mà ánh sáng mặt trời không đạt tới, một nơi mà không có bừng sáng. Họ dò dẫm trong bóng tối, họ vẩn vơ trong bóng tối, giống như mầm mống của bóng tối. Những người không biết tới bản thân mình đang sống trong bóng tối này.
Biết tới bản thân mình là trở thành mặt trời. Cuộc hành trình của một cá nhân như vậy là đi vào trong thế giới của ánh sáng; nhưng có những người mà ánh sáng bên trong của họ không cháy, bị tắt ngấm; họ chìm sâu trong bóng tối. Những người vẫn còn đang chạy, dò dẫm, khao khát, đi theo kẻ mù, đều giống như kẻ mù theo sau kẻ mù. Và còn có một số người trong số họ là những kẻ nói lớn; những người như thế có những người theo sau ít nói hơn, và cứ thế cuộc đua tiếp diễn. Kẻ mù với chút ít dũng cảm tập hợp quanh mình những kẻ mù ít dũng cảm hơn.
Kahlil Gibran đã viết rằng ông ấy đi lang thang từ làng nọ sang làng kia, hứa hẹn cho mọi người thấy Thượng đế nếu họ theo ông ấy. Không ai đã bao giờ theo ông ấy cho nên không rắc rối nào nảy sinh. Dân làng bảo ông ấy tới lần nữa vì họ đang rất bận với những việc khác. Mùa màng đang chín rộ và phải gặt ngay, cho nên ông ấy nên tới sau một thời gian nữa. Khi ông ấy lại tới thăm họ, họ nói, “Năm nay mùa màng không được tốt; có khan hiếm lương thực và chúng tôi đang khó khăn. Xin phiền ông tới sang năm vậy.” Ông ấy vẫn tiếp tục tới thăm làng ấy. Ông ấy không vội vàng gì để thuyết phục bất kì ai theo ông ấy, nhưng một người hăng hái trong làng đó quyết định đi theo ông ấy. Khi Gibran nói, “Theo ta nếu ông muốn gặp Thượng đế,” thì người đó quẳng chiếc rìu của mình đi và nói, “Tôi xin theo ông!”
Gibran trở nên nóng nẩy. Thế rồi ông ấy nghĩ, “Không biết thằng cha này theo mình bao lâu? Trong một hay hai tuần nó sẽ mệt mỏi và sẽ rời bỏ ta.” Nhưng người dân làng này vẫn tiếp tục theo ông ấy.
Một năm trôi qua. Người này nói, “Tôi sẽ theo ông đến bất kì đâu ông đưa tôi tới.” Hai năm trôi qua và Gibram trở nên ngày một nóng nẩy hơn. Ông ấy cố tránh người theo mình, nhưng người này bao giờ cũng đứng sau ông, nói, “Tôi được chuẩn bị để theo ông tới bất kì đâu ông đưa tôi đến. Tôi sẽ tuân theo bất kì điều gì ông bảo tôi làm.”
Sáu năm trôi qua theo kiểu này. Thế rồi một hôm người này tóm lấy cổ Gibran và nói, “Ông đã lấy thời gian khá lâu rồi, bây giờ chỉ cho tôi Thượng đế. Ông muốn đi đâu bây giờ nào?”
Thầy nói, “Ta xin lỗi; ta thậm chí đã lạc đường trong việc đi cùng với ông. Bản thân ta đã lạc đường vì ông đã theo ta. Trước khi ông bắt đầu theo ta, con đường của ta hoàn toàn rõ ràng cho ta. Mọi thứ đều rõ ràng thấy được. Ta đã gần tới đích, Thượng đế đã ở trước mặt ta. Tai hoạ làm sao mà ta để ông đi cùng ta! Bây giờ ta đã lạc mất đường rồi. Cho nên xin ông rời bỏ ta và đi theo đường của ông đi.”
Người dân làng đó cảnh cáo ông, “Đừng tới làng tôi lần nữa đấy!”
Gibran nói, “Này người anh em, tôi xin ông thứ lỗi. Tôi sẽ không bao giờ tới thăm làng ông nữa đâu, nhưng tôi có thể sang làng khác, vì không có những người như ông trong các thôn làng này. Họ chỉ đơn giản nghe tôi và tôi cứ đi một mình trên con đường của mình.”
Con người, bản thân người đó sống trong dốt nát, thường được cho là đi nói cho người khác về ánh sáng của tri thức đúng đắn; để làm cho người đó thoải mái và giúp người đó quên đi bóng tối của riêng người đó. Điều quan trọng là nhận biết về những người như thế. Khi bạn bắt đầu nói về những vấn đề mà bạn không biết gì về nó, thật khó ước lượng được bạn làm hại người khác đến mức độ nào. Nhưng thật khó mà tìm ra một người tuân theo qui tắc chỉ nói những điều mình biết, và người giữ im lặng về điều người đó không biết. Không, có hấp dẫn lớn để chỉ cho người khác, để bảo người khác, nếu cơ hội nảy sinh. Hấp dẫn này cực kì lớn. Nếu chúng ta gặp ai đó mà dường như chút ít yếu về chủ đề Thượng đế và linh hồn, và người mà có thể bị tràn ngập và kính cẩn bởi việc nói của chúng ta, thế thì chắc chắn chúng ta sẽ tống tri thức của chúng ta cho người đó. Thế thì chúng ta sẽ chỉ cho người đó con đường đạt tới Thượng đế và chỉ dẫn người đó cách tiến hành.
Công việc chỉ ra con đường cho người khác là thích thú và hài lòng bởi vì nó tạo ra ảo tưởng trong chúng ta rằng chúng ta đã biết con đường: và trong việc chỉ nó cho người khác qua một thời gian dài, dần dần chúng ta quên mất rằng bản thân chúng ta không biết đến chân lí. Có rất ít người thực sự biết, nhưng có rất nhiều người bao giờ cũng sẵn sàng cố vấn cho người khác. Sẽ có lợi rất nhiều cho thế giới nếu những người không biết mà cứ đi nói cho người khác sẽ giữ im lặng về chủ đề tri thức tâm linh. Nhưng rất khó để họ giữ yên tĩnh, và cũng khó tương đương cho người khác để làm im lặng họ. Nếu bạn cố gắng làm họ im lặng, họ sẽ bắt đầu hét to nhiều hơn, vì trong việc hét to lên họ có thể tự lừa dối mình. Âm thanh riêng của họ rơi vào tai họ tạo ra niềm tin trong họ: “Tất cả đều ổn thoả, tôi biết chân lí rồi!”
Upanishad tuyên bố rằng có hai kiểu người. Cân nhắc và xem xét cẩn thận xem bạn thuộc vào kiểu nào trong hai kiểu này, bạn thuộc vào phân loại nào. Cần phải ra quyết định một cách chân thành và đúng đắn về bản thân mình để cho bước tiếp có thể được lấy đúng đắn và theo đúng hướng. Bạn là ai? Người tự giết mình hay người tự biết mình?
Nếu bạn là người tự biết mình thế thì không vấn đề gì nảy sinh, vấn đề xong rồi. Thế thì không có hành trình nào cho bạn. Nếu bạn là người tự giết mình thế thì bạn phải làm cuộc hành trình. Nó còn chưa bắt đầu, để một mình câu hỏi về sự tồn tại của nó qua đi. Nhưng thật dễ để coi bản thân mình là người biết về cái ta, vì tất cả chúng ta đều đã đọc Upanishad, Gita, Kinh thánh, Koran và những điều Mahavira và Phật đã nói. Thật khó tưởng tượng được điều này đắt giá và tai hại đến đâu cho nhân loại. Những cuốn sách ‘tôn giáo’ này ở ngay đầu lưỡi mọi người; tất cả họ đều biết đầy đủ. Sự kiện là, không ai biết gì về họ nhưng tất cả đều trong ảo tưởng rằng họ biết mọi điều, vì toàn bộ sách vở đều được ghi nhớ.
Ngừoi ta viết thư cho tôi nói rằng, “Thầy nói điều gì đó về vấn đề nào đó, nhưng nó dường như không đúng vì có điều gì đó khác đã được viết về nó trong sách như vậy và như vậy.” Bây giờ, nếu bạn biết cái gì là đúng thế thì không cần bạn phải nghe điều tôi nói. Và nếu bạn không biết cái gì là đúng thế thì làm sao bạn có thể quyết định được cái như thế và như thế mà sách đã viết là đúng? Vấn đề này không thể được quyết định đơn giản chỉ bởi việc suy nghĩ và cân nhắc về nó. Người ta phải làm điều gì đó trong vấn đề này, đơn giản nghĩ và cân nhắc không có tác dụng.
Hôm qua khi tôi rời khỏi chỗ này, một người bạn đã tiến tới chiếc xe và nói, “Điều thầy vừa nói trong bài giảng hôm nay đã được nói tới trong Yogasara rồi.” Bây giờ, người này đã đọc Yogasara. Cho nên tôi nói, “Chú ý làm như tôi vừa bảo bạn - vì nếu bạn đã hành động theo điều mà Yogasara phải nói, bạn sẽ không cần đi đến tôi nữa. Bạn đã bày tỏ tôn kính lớn lao với Yogasara; nhưng bạn đã không làm gì cả. Xin đừng tôn kính tôi theo cùng cách đó. Và bây giờ bạn hỏi liệu điều này đã không được nói trong Yogasara không. Nó có tạo ra khác biệt nào? Bạn đã đọc Yoagasara và bây giờ bạn đã nghe tôi. Câu hỏi là: khi nào bạn sẽ đưa vào thực hành điều bạn đã nghe thấy?”
Người hỏi không phải là trẻ con, trẻ con không bao giờ hỏi những câu hỏi ngu xuẩn như vậy. Người đó là một ông già. Nếu bạn muốn thu thập những câu chuyện rất ngu xuẩn, bạn nên tới với ông già ấy, vì cái ngu xuẩn của họ đã chín muồi và đúng vụ. Họ đã kinh nghiệm dốt nát theo tất cả sức mạnh và sức nặng của chúng. Họ quen thuộc với mọi kinh sách. Họ biết tất cả những điều đã được nói. Họ đã trở thành ‘người biết về cái ta.’ Không có hại gì khi trở thành như vậy. Điều ấy là rất tốt, rất đáng ca ngợi. Nếu ai đó trở thành người biết về cái ta, đấy là lí do để mở hội. Nhưng thế thì người ấy không có nhu cầu đến với tôi làm gì cả, và từ khi người ấy tới, tôi biết rằng việc đọc Yogasara của ông ấy là vô dụng và rằng bất kì cái gì ông ấy đã đọc cho đến nay đều không ích lợi gì.
Điều rất có thể là những người như vậy sẽ làm cho tôi thành vô dụng khi họ đã thực hiện mọi việc đọc của họ. Họ quá bận rộn với hoạt động này. Nếu tôi nói rằng điều Yogasara đã nói là đúng, thế thì - tôi biết điều đó - vấn đề sẽ xong rồi. Nhưng nếu tôi nói, “Nó không được nói theo cách này trong Yogasara,” họ sẽ nắm ngay lấy cơ hội để bắt đầu tranh cãi. Bạn có thể tranh biện trong cả đời mình.
Tôi không hào hứng với bất kì cuộc tranh cãi nào, tôi không lo lắng gì mấy tới bất kì chủ nghĩa nào. Tôi hào hứng với mỗi việc cỏn con này - rằng bạn có thể có khả năng quyết định được rõ ràng liệu bạn là người giết cái ta hay là người biết cái ta. Nếu bạn là người biết cái ta, bạn ở bên ngoài việc xem xét. Thế thì tôi không bận tâm với bạn. Vấn đề xong rồi! Nếu bạn là người giết cái ta thế thì cái gì đó có thể được thực hiện, và tôi đang bảo bạn điều có thể được làm. Nhớ lấy lấy điều này: không phải là việc tôi bảo bạn làm cho nó thành đúng, không cái gì trở thành đúng bởi vì lời nói của tôi là vậy. Bạn sẽ không biết nó theo bất kì cách nào chừng nào mà bạn còn chưa dịch nó thành hành động. Biết nó sau khi đưa nó vào thực hành đi - sau việc thực hiện của nó.
Tôn giáo là thực nghiệm, không phải là ý nghĩ. Tôn giáo là phương pháp hành động, không phải là phương pháp suy nghĩ. Tôn giáo là khoa học, không phải triết học. Nó chắc chắn là phòng thí nghiệm, nhưng không phải là phòng thí nghiệm phức tạp nơi chúng ta tới và thu thập chất liệu và công cụ, và bắt đầu thực hiện thực nghiệm. Bản thân bạn là phòng thí nghiệm. Toàn bộ thực nghiệm được tiến hành bên trong bản thân bạn.
Đủ cho hôm nay. Chúng ta sẽ nói về lời kinh khác vào ngày mai. Bây giờ tôi sẽ nói vài lời về thực nghiệm của chúng ta ở đây và thế rồi chúng ta sẽ bắt đầu làm nó. Tôi bắt đầu với niềm tin rằng bạn là người giết cái ta. Bạn có thể bị xúc phạm bởi lời tôi. Điều tốt là bạn bị xúc phạm. Điều tốt là bạn bị tổn thương một chút. Đôi khi tôi thấy mọi người bị chết về xúc động đến mức họ thậm chí không còn bị ảnh hưởng bởi những lời như vậy. Nếu bạn dán cho họ cái nhãn là người giết cái ta, họ sẽ nói, “Anh đúng đấy, chúng tôi chấp nhận cái nhãn của anh.” Tôi bảo bạn rằng bạn đang sống cho đến tận bây giờ mà không biết gì về bản thân mình. Tôi muốn bạn đi vào bên trong cái ta của bạn, và có khả năng nói với cái ta của bạn, “Tôi đang sống mà không biết về cái ta của mình”; vì đau xót của việc không biết tới cái ta là sắc buốt đến mức nó sẽ hướng dẫn bạn trong thực nghiệm của bạn. Bằng không không thể làm được điều đó.
Nhớ lấy trong đầu, thực nghiệm này là tới mức bạn sẽ biết nó chỉ nếu bạn làm nó. Bạn sẽ không có khả năng biết bởi vì người bên cạnh bạn làm nó. Trong buổi thiền chiều nay tôi thấy khoảng chục người tuyệt đối ngây thơ ngồi nhìn quanh đây đó để xem người khác đang làm gì. Họ sẽ thấy gì? Ai đó chạy, ai đó múa, ai đó khác hét to. Bạn nhìn cái gì vậy? Có thể bạn đang nghĩ rằng những người ấy điên. Tôi đang bảo bạn nghĩ lại - bạn là người điên đấy! Người kia đang làm điều gì đó. Bạn đã tới để quan sát người điên sao? Tại sao tất cả các bạn đã lên đường tới đây? Chỉ để quan sát ai đó nhảy múa sao? Công sức bạn tới đây bị phí hoài rồi. Cuộc hành trình dài thế và vô ích đến thế. Nếu bạn muốn thấy người điên bạn có thể làm điều đó ở thành phố riêng của bạn. Bạn không cần phải làm cuộc hành trình dài đến thế và leo lên ngọn núi này.
Bạn sẽ không bao giờ có khả năng biết cái gì đang xảy ra bên trong thân thể người khác. Nếu người đó đang cười to bạn sẽ có khả năng nghe thấy âm thanh của tiếng cười, nhưng bạn sẽ không bao giờ biết được giấc mơ người đó đang mơ bên trong bản thân người đó. Nếu người đó đang khóc bạn sẽ có khả năng thấy nước mắt của người đó, nhưng bạn sẽ không bao giờ biết cái



đã bị kích động bên trong người đó và cái trào ra qua nước mắt người đó. Nếu người đó nhảy múa bạn sẽ thấy tay người đó đưa lên đưa xuống, hay bạn sẽ thấy người đó nhún nhảy, nhưng bạn sẽ không bao giờ biết âm thanh nào bắt đầu chơi bên trong người đó, sợi dây nào bắt đầu âm vang bên trong anh ta: bạn sẽ không có khả năng nghe thấy âm thanh không biết đó của cây sáo bên trong người đó, dù bạn có để tai mình sát gần ngực người đó đến đâu. Do đó tôi bảo bạn quên hoàn toàn người khác đi, gạt sang bên mọi bận tâm về người khác.
Cho nên tôi muốn nói rằng từ mai bạn đeo khăn bịt mắt ngay cả trong buổi thiền trưa. Không ai được ngồi đây mà không bịt mắt; và nút tai bạn bằng miếng bông. Gạt sang bên tính tò mò của bạn để nghe và nhìn; bạn sẽ không đến đâu cả qua những hành động như thế. Bạn phải để mắt mở trong chương trình đêm; những người giữ mắt nhắm tối đa trong ngày sẽ có khả năng đi sâu hết mức. Những người chưa làm như thế hôm nay phải nhớ điều này và giữ mắt nhắm nhiều nhất có thể được. Chương trình đêm sẽ thực hiện với mắt mở.
Nhớ lấy điều này: khi mắt bạn mở, năng lượng của bạn tiếp tục chảy ra mọi lúc. Nếu bạn muốn làm thực nghiệm này với năng lượng tối đa của mình, thế thì giữ mắt nhắm nhiều nhất có thể được trong ngày để cho năng lượng đó có thể được tích luỹ. Mắt bạn có thể dùng năng lượng này trong chương trình đêm; bằng không nó không thể được dùng. Cho nên thật cẩn thận về điều này sáng mai. Giữ cho mắt, tai và mồm khép kín tới hết mức khả năng bạn. Chương trình sáng và việc im lặng buổi trưa sẽ được trải qua với việc bịt mắt, và mắt bạn sẽ còn để mở cho bốn mươi phút trong chương trình đêm.
Bây giờ chúng ta sẽ ngồi đây trong bốn mươi phút và bạn đơn giản giữ cái nhìn thẳng vào tôi; thậm chí đừng chớp mắt. Để mắt mở trong bốn mươi phút. Bạn sẽ bắt đầu có nhiều kinh nghiệm, và những người đã tiến hành kinh nghiệm này vào ban ngày - và nhiều bạn đã làm điều đó rất có ý thức - sẽ phát hiện ra một số kết quả rất quan trọng. Những người thích làm điều đó khi đứng nên đi ra vòng ngoài ở các phía và đứng đó, vì họ thích nhảy nhót và múa may mãnh liệt. Những người ngồi ở trung tâm quanh tôi về mọi phía trong góc này nên vẫn còn ở chỗ mình. Bây giờ những người đang đứng nên tản ra mọi hướng. Những người có ý tưởng ít nhất rằng việc đứng sẽ là tư thế thích hợp hơn cho họ nên đi ra xa bây giờ, để cho họ sẽ không cần phải đứng dậy vào giữa chương trình, vì một khi chúng ta bắt đầu bạn sẽ không được phép đứng dậy và quấy rối người xung quanh.
Giữ im lặng hoàn toàn - không ai được nói. Tôi theo dõi và nhìn các bạn trong bốn mươi phút. Tôi sẽ ngồi trong im lặng hoàn toàn. Thế rồi để cho bất kì cái gì xảy ra, cứ xảy ra với bạn. Nếu bạn muốn thở sâu, làm nó; nếu bạn muốn nhảy múa, thì nhảy múa; nhưng chú ý của bạn phải dồn vào tôi, mắt bạn phải nhìn thẳng vào tôi. Nếu bạn có ý hò hét, hay nhảy múa, hay khóc lóc hay cười nói, làm điều đó. Làm bất kì cái gì bạn muốn làm, nhưng giữ mắt hướng về tôi.
Tôi có thể cho bạn vài hướng dẫn. Khi tôi cảm thấy rằng bạn bây giờ đều theo nhịp độ riêng của bạn, tôi sẽ giơ cả hai tay lên. Đồng thời bạn tự thực hiện đầy đủ. Đó sẽ là dấu hiệu của tôi rằng kundalini bên trong của bạn đang dâng lên - đang thức tỉnh. Bây giờ đặt tất cả năng lượng của bạn vào hoạt động của bạn. Và khi tôi cảm thấy rằng bạn đã tràn đầy năng lượng đến mức tính thượng đế có thể giáng xuống bạn, tôi sẽ hạ tay xuống. Thế thì đặt tất cả năng lượng của bạn, không giữ lại một chút nào, vào trong hoạt động của bạn - và nhiều điều sẽ xảy ra!
Xem tiếp Chương 5 - Quay về Mục lục

Ads Belove Post

Powered by RedCircle