Chương 1. Chú rể đang đợi bạn

Chương 1. Chú rể đang đợi bạn

Price:

Read more

Yoga: Alpha và Omega (Tập 5)
Bài giảng về Kinh Yoga của Patanjali
Chương 1. Chú rể đang đợi bạn

18. Cái được thấy, bao gồm các yếu tố và các giác quan, có bản chất ổn định, hành động và trơ ì, và dành cho mục đích cung cấp kinh nghiệm và do vậy giải thoát cho người thấy.
19. Ba gunas - ổn định, hoạt động, và trơ ì - có bốn giai đoạn: được xác định, không xác định, được chỉ dẫn, và không biểu lộ.
20. Người thấy, mặc dầu tâm thức thuần khiết, vẫn thấy qua sự bóp méo của tâm trí.
21. Cái được thấy tồn tại cho một mình người thấy.
22. Mặc dầu cái được thấy là chết với người đã đạt tới giải thoát, nó là sống với những người khác vì nó là thông thường cho tất cả.
23. Người thấy và cái được thấy tới cùng nhau cho nên bản tính thực của từng cái có thể được nhận ra.
24. Nguyên nhân của sự thống nhất này là dốt nát.
Tâm trí khoa học thường nghĩ rằng có khả năng của tri thức không có tính cá thể. Thực ra điều đó thường là định nghĩa về thái độ khoa học một cách chính xác. Với "tri thức không có tính cá thể" điều đó ngụ ý rằng người biết có thể vẫn còn chỉ là khán giả. Sự tham gia của người đó là không được cần tới. Không chỉ có thế, nhưng nếu người đó tham dự vào cái được biết, chính việc tham dự đó làm cho tri thức thành không khoa học. Người biết khoa học nên vẫn còn là người quan sát, nên vẫn còn tách rời, không nên được tham dự theo bất kì cách nào vào điều người đó biết. Nhưng điều này không còn là hoàn cảnh nữa.
Bản thân khoa học đã tới tuổi lớn. Mới vài thập kỉ trước, ba hay bốn thập kỉ trước, và khoa học đã nhận ra thái độ ảo tưởng của nó. Không có tri thức nào mà không có tính cá thể. Chính bản chất của tri thức là có tính cá thể. Và không có tri thức nào đứng tách rời, bởi vì biết nghĩa là được gắn lại. Không có khả năng nào của việc biết cái gì như là khán giản - việc tham dự là phải có. Cho nên bây giờ biên giới không còn rõ ràng nữa.
Nhà thơ thường nói rằng cách biết của ông ấy là có tính cá thể. Khi nhà thơ biết đoá hoa, ông ấy không biết nó theo cách khoa học cổ. Ông ấy không phải là người quan sát từ bên ngoài. Theo một cảm giác sâu sắc nào đó ông ấy trở thành nó: ông ấy đi vào trong đoá hoa và cho phép đoá hoa đi vào trong ông ấy, và có gặp gỡ sâu sắc. Trong gặp gỡ đó bản tính của hoa được biết tới.
Bây giờ khoa học cũng nói rằng khi bạn quan sát một vật, bạn tham gia vào - dù việc tham gia nhỏ tới đâu, nhưng bạn tham gia. Nhà thơ thường nói rằng khi bạn nhìn hoa nó không còn là cùng đoá hoa như khi không có ai nhìn vào nó, bởi vì bạn đã đi vào trong nó, trở thành một phần của nó. Chính cái nhìn của bạn là một phần của nó bây giờ; nó không phải là cách thức trước đây. Đoá hoa đứng bên đường không biết ai trong rừng, không ai đi qua, là đoá hoa khác; thế rồi, đột nhiên ai đó tới nhìn vào nó - đoá hoa không còn như cũ nữa. Đoá hoa thay đổi người nhìn, cái nhìn thay đổi đoá hoa. Một phẩm chất mới đã bước vào.
Nhưng điều này là được với nhà thơ - không ai mong đợi họ rất hợp lí, khoa học - nhưng bây giờ ngay cả khoa học cũng nói rằng điều này đang xảy ra trong phòng thí nghiệm: khi bạn quan sát, cái được quan sát không còn như cũ nữa; người quan sát đã tham gia vào trong nó và phẩm chất thay đổi. Bây giờ các nhà vật lí học nói rằng nguyên tử di chuyển theo cách khác khi không ai quan sát chúng. Khi bạn quan sát, chúng lập tức đổi chuyển động của chúng. Cũng hệt như khi bạn đang tắm: bạn là người khác; thế rồi đột nhiên bạn nhận ra ai đó đang nhìn qua lỗ khoá - bạn thay đổi. Khi nguyên tử cũng cảm thấy rằng ai đó đã nhìn, nó không còn như cũ nữa; nó chuyển động theo cách khác.
Đây là biên giới: khoa học được coi là tuyệt đối không có tính cá thể; được tồn tại ở ngay giữa khoa học và tôn giáo và được coi là tham gia một phần; và tôn giáo là tham gia toàn phần.
Nhà thơ nhìn hoa - có những thoáng nhìn trong đó ông ấy không còn đó nữa, hoa không còn đó nữa. Nhưng đây chỉ là những thoáng nhìn. Trong nhiều giây có tiếp xúc, và thế rồi họ lại tách ra, thế rồi họ rời ra. Điều gì xảy ra khi nhà huyền môn, người tôn giáo, nhìn vào hoa? Sự tham gia là toàn bộ. Nó không mảnh mẩu. Người biết và cái được biết cả hai biến mất; chỉ năng lượng rung động giữa hai điều này còn lại. Kinh nghiệm còn lại: người kinh nghiệm không còn đó, cái được kinh nghiệm không còn đó. Các cực biến mất, đối thể và chủ thể biến mất, mọi biên giới đều mất.
Tôn giáo là việc tham gia toàn bộ. Thơ ca hay nghệ thuật hay hội hoạ là tham gia bộ phận.
Khoa học thường không phải là tham gia chút nào - điều này không còn là hoàn cảnh nữa. Khoa học phải quay lại gần hơn với thơ ca, gần hơn với tôn giáo. Các biên giới tất cả đều lẫn lộn bây giờ. Mới năm mươi năm trước đây, bất kì người nào được đào tạo theo cách khoa học đều sẽ cười Patanjali, chắc đã cười rất to vào Shankara và Vedanta, chắc đã nghĩ sâu bên dưới rằng những người này đã phát điên. Bây giờ, không thể nào cười được Patanjali. Ông ấy đang chứng minh là đúng hơn.
Khi khoa học đi sâu hơn, yoga dường như chứng minh là đúng hơn, hợp thức hơn, bởi vì điều này bao giờ cũng là quan điểm của nhà yogi: rằng chỉ cái một tồn tại. Phân tách, phân chia biên giới, là tạm thời - nó là vì dốt nát. Nó được cần tới; nó là huấn luyện tuyệt đối cần thiết. Người ta phải đi qua nó, người ta phải chịu đựng nó và kinh nghiệm nó - nhưng người ta phải đi qua nó. Nó không phải là nhà; nó chỉ là lối chuyển. Thế giới này là lối chuyển của tách rời, của li dị.
Nếu bạn đi qua nó và bạn bắt đầu hiểu toàn thể kinh nghiệm này, hôn nhân tới ngày càng gần hơn và gần hơn, và rồi một hôm, đột nhiên, bạn kết hôn, kết hôn với cái toàn thể - mọi phân tách biến mất. Và trong hôn nhân đó là phúc lạc. Trong phân tách này có đau khổ vì phân tách là giả. Nó tồn tại chỉ bởi vì bạn không hiểu. Nó tồn tại trong việc hiểu lầm của bạn. Nó giống như mơ.
Bạn ngủ: thế rồi bạn mơ cả nghìn lẻ một thứ, và đến sáng tất cả chúng biến mất. Và đột nhiên bạn bắt đầu cười bản thân bạn. Toàn thể sự việc dường như buồn cười thế. Bạn không thể tin được rằng nó đã xảy ra. Bạn không thể tin được rằng bạn đã bị nó lừa rằng nó là thực. Bạn không thể nào tin được làm sao có thể có chuyện bạn say mê thế bởi những hình ảnh trôi nổi trong tâm trí, chẳng là cái gì ngoài bong bóng ý nghĩ, và trông chúng đấy - chắc chắn thế, thực chất thế, thực thế làm sao.
Cùng điều đó xảy ra khi người ta đi tới biết thực tại, nhưng thực tại là được biết qua việc tham gia sâu sắc. Nếu bạn không tham gia, bạn sẽ biết thực tại từ bên ngoài như người lạ, người ngoài. Bạn có thể đi tới ngôi nhà này; bạn có thể đi quanh ngôi nhà và bạn sẽ biết những điều nào đó về ngôi nhà, nhưng bạn đã đi bên ngoài, chỉ ngoại vi. Bạn đã nhìn vào tường từ bên ngoài - bạn không biết ngôi nhà từ bên trong.
Thỉnh thoảng, như kẻ cắp trong bóng tối của đêm, bạn có thể đi vào nhà nữa; nhà thơ là kẻ cắp. Nhà khoa học vẫn còn là người lạ. Người tôn giáo là khách; người đó không đi vào trong chỗ tối của đêm, không ăn cắp trong nhà. Bởi vì người ta có thể biết những điều nào đó như tên ăn cắp, nhà thơ sẽ tốt hơn con người của khoa học, người đã từng vẩn vơ loanh quanh và loanh quanh, về và về và về, và không bao giờ đi vào. Ngay cả nhà thơ sẽ biết cái gì đó mà nhà khoa học không bao giờ có thể biết, bởi vì người đó đã từng ở trong nhà - mặc dầu trong đêm, trong bóng tối; mặc dầu không được mời, không như khách, không từ cửa trước.
Người tôn giáo đi vào nhà như vị khách. Ông ấy thu được điều đó. Và ông ấy biết cái gì đó không chỉ về ngôi nhà mà về người chủ nữa - vì ông ấy là khách. Ông ấy không chỉ biết về ngôi nhà vật chất đang tồn tại, mà còn cả về người chủ phi vật chất có đó, người thực sự là trung tâm của ngôi nhà. Ông ấy biết chủ nhân.
Khoa học chỉ biết vật chất. Nghệ thuật thỉnh thoảng có thoáng nhìn về phi vật chất vì kẻ cắp cũng có thể bắt gặp chủ nhân, nhưng ông ta sẽ ngủ. Kẻ cắp cũng có thể thấy khuôn mặt, nhưng chỉ trong bóng tối vì anh ta sợ, bao giờ cũng sợ cái gì đó có thể đi sai. Anh ta là kẻ cắp và bao giờ cũng sợ và run. Nhưng khi bạn tới ngôi nhà như khách - được mời, bạn đã thu được điều đó - người chủ ôm bạn; có đón chào. Thế thì bạn biết chính trung tâm của thực tại.
Ở Ấn Độ chúng ta có hai từ, cả hai đều có nghĩa là "nhà thơ." Không ngôn ngữ nào khác có hai từ dành cho nhà thơ, bởi vì không có nhu cầu; một từ là đủ. Nó giải thích hiện tượng về thơ ca - "nhà thơ" là đủ. Nhưng trong tiếng Phạn chúng ta có hai từ, kavi và rishi, và phân biệt là rất tinh tế và đáng hiểu. Kavi là một người: người đó là nhà thơ đã tới như kẻ cắp. Người đó tham gia, cho nên người đó là nhà thơ, nhưng tri thức của người đó là theo mảnh mẩu. Trong những khoảnh khắc nào đó... dường như kẻ cắp đã ở bên trong nhà và đột nhiên có tia chớp trên trời và anh ta có thể cả ngôi nhà từ bên trong nữa - nhưng nó chỉ là một khoảnh khắc. Tia chớp mất đi... mọi thứ đã trở thành như giấc mơ.
Nhà thơ đôi khi bắt gặp thực tại, nhưng dường như nhà thơ đã không thu được nó. Đó là lí do tại sao bạn thỉnh thoảng sẽ bị ngạc nhiên: bạn đọc bài thơ của ai đó - X, Y, Z - nó hấp dẫn bạn, tới chính trái tim bạn, bạn bị khuấy động và bạn muốn gặp người này, người mà từ đó những dòng này đã bay ra, nhưng khi bạn gặp người đó, nhà thơ đó, bạn thất vọng - ông ấy chỉ chất phác, bình thường, chả có gì cả.
Trong chuyến bay của thơ ca của ông ấy, ông ấy phi thường thế, nhưng nếu bạn gặp nhà thơ, ông ấy bình thường. Điều gì đã xảy ra? Bạn không thể tin được rằng viên đá quí đẹp thế có thể bắt nguồn từ người bình thường thế. Đó là vì nhà thơ không là người thường trú mãi mãi trong ngôi đền. Ông ấy là kẻ cắp. Thỉnh thoảng ông ấy vào, nhưng lúc tối. Tốt hơn chỉ lang thang loanh quanh; ít nhất ông ấy có thoáng nhìn. Ông ấy hát lên về thoáng nhìn đó - liên tục có nỗi hoài niệm trong bản thể ông ấy về thoáng nhìn bên trong nhất mà ông ấy đã đạt tới. Ông ấy ca về nó lặp đi lặp lại, nhưng nó không còn là kinh nghiệm của ông ấy bây giờ. Nó là chỗ nào đó trong quá khứ, dĩ vãng, việc nhớ lại, không phải là thực tại.
Rishi là nhà thơ đã được đón nhận như vị khách. Từ rishi nghĩa là "người thấy," và từ kavi cũng có nghĩa là "người thấy" - chúng cả hai đều ngụ ý: người đã thấy. Thế khác biệt là gì? Khác biệt là ở chỗ rishi đã thu được nó. Ông ấy đã vào nhà trong sánh sáng ban ngày đầy đủ; ông ấy đã đi vào từ cửa trước. Ông ấy đã không phải là khách không được mời; ông ấy đã không xâm phạm vào tài sản riêng của bất kì ai. Ông ấy được đón chào. Người chủ đón nhận ông ấy. Bây giờ ông ấy cũng hát, nhưng việc hát của ông ấy là khác toàn bộ với thơ ca thông thường. Upanishads là thơ ca như thế, Vedas là thơ ca như thế - chúng là từ trái tim của rishis. Họ không phải là nhà thơ bình thường. Họ là những nhà thơ phi thường - phi thường theo nghĩa rằng họ đã thu được thoáng nhìn; nó không phải là thứ được đánh cắp.
Nhưng điều này là có thể chỉ khi bạn học cách tham gia một cách toàn bộ - đó là điều yoga là gì. Yoga nghĩa là gặp gỡ; yoga nghĩa là hôn nhân; yoga nghĩa là hợp nhất. Yoga nghĩa là: cách đi tới cùng nhau lần nữa - cách làm tan biến phân tách, cách làm tan biến mọi biên giới, cách đi tới điểm người biết và cái được biết đã trở thành một. Đây là việc tìm kiếm của yoga.
Khoa học, trong vài thập kỉ này, đã ngày càng trở nên nhận biết rằng mọi tri thức đều có tính cá thể. Yoga nói mọi tri thức đều tuyệt đối cá thể, và nó càng nhiều tính cá thể càng tốt - bạn nên được tham gia vào trong nó: bạn nên trở thành hoa, bạn nên trở thành đá, bạn nên trở thành trăng, bạn nên trở thành biển, thành cát. Bất kì chỗ nào bạn nhìn bạn nên là cả chủ thể và đối thể. Bạn nên được tham gia vào. Bạn nên tham gia; chỉ thế thì, cuộc sống đập rộn ràng, đập rộn ràng với nhịp riêng của nó. Thế thì bạn không áp đặt cái gì đó lên nó.
Khoa học có tính hung hăng, thơ ca có tính cướp bóc, tôn giáo là tham gia. Bây giờ, cố hiểu những lời kinh này của Patanjali.
Cái được thấy, bao gồm các yếu tố và các giác quan, có bản chất ổn định, hành động và trơ ì, và dành cho mục đích cung cấp kinh nghiệm và do vậy giải thoát cho người thấy.
Điều thứ nhất cần được hiểu là ở chỗ thế giới tồn tại cho bạn được giải thoát. Nhiều lần câu hỏi đã nảy sinh trong tâm trí bạn: "Tại sao thế giới này tồn tại? Tại sao có nhiều khổ thế? Để làm gì? Chủ định của nó là gì?" Nhiều người tới tôi và họ nói, "Đây là câu hỏi tối thượng - 'Tại sao chúng ta hiện hữu?' Và nếu cuộc sống là khổ thế, chủ định của nó là gì? Nếu có Thượng đế, tại sao ngài không thể phá huỷ mọi hỗn độn này? Tại sao ngài không thể phá huỷ toàn thể cuộc sống khổ cực này, địa ngục này? Tại sao ngài cứ buộc mọi người phải sống nó?" Yoga có câu trả lời: Patanjali nói, "... với chủ định cung cấp kinh nghiệm và do vậy giải thoát cho người thấy."
Nó là việc huấn luyện, khổ là việc huấn luyện - bởi vì không có khả năng nào trở nên trưởng thành mà không có khổ. Nó giống như lửa: vàng, là vàng ròng, phải trải qua lửa. Nếu vàng nói. "Tại sao!" thế thì vàng vẫn còn chưa là vàng ròng, vô giá trị. Chỉ bằng việc trải qua lửa mọi thứ không phải là vàng sẽ bị thiêu cháy, và chỉ vàng ròng nhất sẽ còn lại. Đó là điều giải thoát tất cả là gì: chín chắn, trưởng thành tối thượng tới mức chỉ cái thuần khiết, chỉ cái hồn nhiên còn lại, và mọi cái vô dụng đều bị thiêu cháy.
Không có cách khác để nhận ra điều đó. Không thể có bất kì cách nào khác để nhận ra nó. Nếu bạn muốn biết no là gì, bạn sẽ phải biết đói. Nếu bạn muốn tránh đói, bạn sẽ tránh cả no nữa. Nếu bạn muốn biết làm dịu khát sâu sắc là gì, bạn sẽ phải biết khát, khát sâu sắc. Nếu bạn nói, "Tôi không muốn khát," thế thì bạn sẽ bỏ lỡ khoảnh khắc đẹp đó của việc làm dịu cơn khát. Nếu bạn muốn biết sáng là gì, bạn sẽ phải trải qua đêm tối; đêm tối chuẩn bị cho bạn nhận ra sáng là gì. Nếu bạn muốn biết sống là gì, bạn sẽ phải trải qua chết; chết tạo ra nhạy cảm trong bạn để biết sống. Chúng không đối lập; chúng là phần bù.
Không có gì đối lập trong thế giới; mọi thứ đều bù nhau. Thế giới "này" tồn tại để cho bạn có thể biết thế giới "khác"; "này" tồn tại để biết "khác." Vật chất tồn tại để biết tâm linh; địa ngục tồn tại để đi tới cõi trời. Đây là chủ định. Và nếu bạn muốn tránh một thứ bạn tránh cả hai, bởi vì chúng là hai mặt của cùng một điều. Một khi bạn hiểu, không có khổ: bạn biết đây là huấn luyện, kỉ luật. Kỉ luật là nghiêm khắc. Nó phải nghiêm khắc chỉ thế thì trưởng thành thực mới bắt nguồn từ nó.
Yoga nói thế giới này tồn tại như trường huấn luyện, trường học tập - đừng né tránh nó và đừng cố trốn khỏi nó. Thay vì thế sống nó đi, và sống nó toàn bộ tới mức bạn không cần bị buộc phải sống nó lần nữa. Đó là nghĩa khi chúng ta nói rằng người chứng ngộ không bao giờ quay lại - không có nhu cầu. Người đó đã trải qua mọi kì thi mà cuộc sống cung cấp. Người đó không cần quay lại. Bạn phải bị buộc lặp đi lặp lại cùng hình mẫu cuộc sống vì bạn không học. Bạn cứ lặp đi lặp lại kinh nghiệm này mà không học. Cùng kinh nghiệm bạn lặp đi lặp lại - cùng giận dữ. Bao nhiêu, bao nhiêu nghìn lần bạn đã từng giận dữ? Đếm nó đi. Bạn đã học gì từ nó? Chẳng cái gì cả. Bất kì tình huống nào nảy sinh, bạn sẽ lại giận - cùng điều, cứ dường như đấy là lần đầu tiên bạn nổi giận.
Bao nhiêu lần tham lam, thèm khát sở hữu bạn? Nó sẽ lại sở hữu. Và bạn sẽ lại phản ứng theo cách cũ - dường như bạn đã quyết định không học. Và sẵn sàng học là sẵn sàng trở thành nhà yogi. Nếu bạn đã quyết định không học, nếu bạn muốn vẫn còn bị mù, nếu bạn muốn lặp đi lặp lại cùng điều vô nghĩa; thế thì bạn sẽ phải bị ném lại: bạn sẽ phải được đưa vào cùng lớp - cho tới khi bạn đỗ.
Đừng nhận cuộc sống theo bất kì cách nào khác. Đó là trường huấn luyện bao la, đại học duy nhất có đó. Từ "đại học- university" bắt nguồn từ "universe-vũ trụ." Thực ra không đại học nào nên gọi bản thân nó là "university"; cái tên này quá dài. Toàn thể vũ trụ là đại học duy nhất. Nhưng bạn đã tạo ra những đại học nhỏ và bạn tưởng rằng khi bạn đã qua được chúng bạn đã trở nên có quyền, dường như bạn đã trở thành người biết. Không, những đại học nhỏ bé, nhân tạo này sẽ không có tác dụng đâu. Bạn sẽ phải trải qua đại học này cả đời bạn.
Patanjali nói, "... với chủ định cung cấp kinh nghiệm và do vậy giải thoát..." Kinh nghiệm là giải thoát. Jesus đã nói, "Biết chân lí và chân lí sẽ giải thoát ông." Bất kì khi nào bạn kinh nghiệm một điều, tỉnh táo, nhận biết, quan sát đầy đủ điều đang xảy ra - tham gia và quan sát cùng nhau - nó là giải thoát. Ngay lập tức, cái gì đó nảy sinh ra từ nó: kinh nghiệm trở thành thực. Bạn đã không vay mượn nó từ kinh sách; bạn đã không vay mượn nó từ ai đó khác.
Kinh nghiệm không thể được vay mượn; chỉ lí thuyết có thể được vay mượn. Đó là lí do tại sao mọi lí thuyết đều bẩn, bởi vì chúng đã qua tay nhiều người thế, nhiều triệu tay. Chúng giống như tờ bạc bẩn đang lưu hành. Kinh nghiệm luôn tươi tắn - tươi như giọt sương buổi sáng, tươi như hoa hồng sáng nay. Kinh nghiệm bao giờ cũng hồn nhiên và trong trắng - không ai đã từng chạm tới nó. Bạn bắt gặp nó lần đầu tiên. Kinh nghiệm của bạn là của bạn, nó không phải là của ai khác, và không ai có thể trao nó cho bạn được.
Chư Phật có thể chỉ ra con đường, nhưng bạn phải bước đi. Không vị phật nào có thể bước thay cho bạn được, không có khả năng nào. Vị phật không thể cho bạn đôi mắt của ông ấy để cho bạn có thể nhìn qua chúng. Cho dù Phật cho bạn đôi mắt, bạn sẽ đổi đôi mắt đó - đôi mắt này sẽ không thể nào thay đổi được bạn. Khi mắt được gắn khớp vào trong bộ máy của bạn, bộ máy của bạn sẽ thay đổi bản thân đôi mắt, nhưng mắt không thể thay đổi được bạn. Chúng là bộ phận; bạn là chính hiện tượng lớn lao.
Tôi không thể cho bạn mượn tay tôi được. Cho dù tôi làm thế, cái chạm sẽ không phải là của tôi, nó sẽ là của bạn. Khi bạn chạm và cảm cái gì đó - cho dù là từ tay tôi - chính bạn là người sẽ cảm, không phải tay tôi. Không có khả năng nào vay mượn thực tại.
Kinh nghiệm giải thoát. Mọi ngày tôi đều bắt gặp những người nói, "Làm sao người ta được tự do với giận? Làm sao người ta được tự do với dục, thèm khát? Làm sao người ta được tự do với cái này và cái nọ?" Và khi tôi nói, "Sống qua nó đi," họ bị choáng. Họ đã tới tôi để tìm phương pháp kìm nén bản thân họ. Và nếu họ đã đi tới guru khác ở Ấn Độ họ chắc đã tìm ra phương pháp nào đó để kìm nén bản thân họ. Nhưng kìm nén không bao giờ có thể giải thoát, bởi vì kìm nén nghĩa là kìm nén kinh nghiệm. Kìm nén nghĩa là chặt đi mọi rễ kinh nghiệm. Nó không bao giờ có thể là giải thoát. Kìm nén là tù túng lớn nhất mà bạn có thể thấy ở bất kì chỗ nào.
Bạn sống trong nhà giam. Mới hôm nọ, một sannyasin mới bảo tôi, "Tôi thích như con vật trong chuồng." Có mọi khả năng là anh ta ngụ ý rằng anh ta muốn tôi giúp cho anh ta để cho con vật bị giết chế, bởi vì chúng ta nói "con vật" chỉ khi chúng ta kết án. Chính từ này mang nghĩa kết án. Nhưng khi tôi bảo , "Được, tôi sẽ giúp bạn, Tôi sẽ phá chuồng và làm cho con vật tự do hoàn toàn," anh ta bị hơi choáng; vì khi bạn nói "con vật" bạn đã đánh giá nó, kết án nó - đấy không phải là sự kiện đơn giản. Trong chính từ "con vật" hay "tính thú vật" bạn đã nói rằng mọi điều mà bạn muốn nói. Bạn không chấp nhận điều đó. Bạn không muốn sống điều đó. Đó là lí do tại sao bạn đã tạo ra nhà giam.
Nhà giam là tính cách. Mọi tính cách đều là nhà giam, nhà tù, xiềng xích quanh bạn. Và con người của tính cách là người bị cầm tù. Người thực sự thức tỉnh không phải là người của tính cách. Người đó sống động. Người đó sống động đầy đủ, nhưng người đó không có tính cách, bởi vì người đó không có nhà giam. Người đó sống một cách tự phát, người đó sống qua nhận biết - cho nên không cái gì có thể đi sai - nhưng người đó không có nhà giam quanh người đó để bảo vệ người đó.
Nhà giam là cái thay thế cho nhận biết. Nếu bạn muốn sống cuộc sống ngủ, bạn cần tính cách, để cho tính cách cho bạn hướng dẫn. Thế thì bạn không cần tỉnh táo. Bạn không ăn cắp cái gì đó - tính cách chỉ che giấu bạn: nó nói, "Không! Đây là sai! Đây là tội lỗi! Mình sẽ khổ ở địa ngục! Mình đã quên toàn thể Kinh Thánh sao? Mình đã quên mọi trừng phạt mà con người phải trải qua sao?" Đây là tính cách. Điều này đang cản trở bạn. Bạn muốn ăn cắp; tính cách chỉ là cái cản trở.
Con người của nhận biết sẽ không ăn cắp, nhưng người đó không có tính cách; và đó là phép màu và cái đẹp. Người đó không có tính cách và người đó sẽ không ăn cắp, bởi vì người đó hiểu. Không phải là người đó sợ tội - không có cái gì như tội cả; nhiều nhất, sai sót thôi - không cái gì như tội. Người đó không sợ bị trừng phạt, bởi vì trừng phạt không ở trong tương lai - không phải là tội bị trừng phạt đâu, thực ra: tội là việc trừng phạt rồi. Không phải là bạn giận hôm nay và ngày mai bạn sẽ bị trừng phạt hay trong kiếp sau - cực kì vô nghĩa. Khi bạn đưa tay vào lửa hôm nay, bạn có cho rằng nó sẽ bị bỏng trong kiếp sau không? Khi bạn đưa tay vào lửa hôm nay nó bỏng hôm nay; lập tức nó bỏng. Đưa tay vào và việc bỏng - tất cả đều đồng thời. Thậm chí không lỗ hổng một khoảnh khắc. Cuộc sống chưa bao giờ tin vào tương lai vì cuộc sống chỉ trong hiện tại.
Không phải là tội sẽ bị trừng phạt trong tương lai đâu, tội là trừng phạt rồi. Trừng phạt bản chất có đó: bạn ăn cắp và bạn bị phạt - bởi vì bạn bị cầm tù nhiều hơn: bạn sẽ trở nên sợ hơn; bạn sẽ không có khả năng đối diện với thế giới; một cách liên tục, bạn sẽ cảm thấy mặc cảm nào đó, bạn đã làm cái gì đó sai, bất kì khoảnh khắc nào bạn cũng có thể bị bắt. Bạn đã bị bắt! Có thể không ai đã bao giờ bắt bạn và không toà án nào trừng phạt bạn - và không có toà án cõi trời nào ở đâu cả - nhưng bạn bị bắt. Bạn bị bắt bởi bản thân bạn. Làm sao bạn sẽ quên được điều đó? Làm sao bạn sẽ tha thứ cho bản thân bạn được? Làm sao bạn sẽ hoàn tác lại điều bạn đã làm? Nó sẽ nấn ná và nấn ná. Nó sẽ theo bạn như cái bóng; nó sẽ ám ảnh bạn như ma. Bản thân nó là việc trừng phạt.
Tính cách cản trở bạn khỏi phạm phải điều sai, nhưng nó không thể cản trở bạn khỏi việc nghĩ về chúng. Nhưng ăn cắp hay nghĩ về ăn cắp là như nhau. Giết người thực sự và chỉ nghĩ về điều đó là như nhau, bởi vì khi có liên quan tới tâm thức của bạn, bạn đã phạm vào nó nếu bạn đã nghĩ về nó. Nó chưa bao giờ trở thành hành động vì tính cách cản trở bạn; nếu tính cách không có đó nó chắc đã trở thành hành động. Cho nên thực ra tính cách, nhiều nhất, làm điều này: nó cản trở ý nghĩ; nó không cho phép ý nghĩ được biến đổi thành hành động.
Nó là tốt cho xã hội, nhưng chẳng cái gì tốt cho bạn. Nó bảo vệ xã hội; tính cách của bạn bảo vệ xã hội. Tính cách của bạn bảo vệ người khác, có vậy thôi. Đó là lí do tại sao mọi xã hội đều nhấn mạnh vào tính cách, đạo đức, thế này thế nọ; nhưng nó không bảo vệ bạn.
Bạn có thể được bảo vệ chỉ trong nhận biết. Và làm sao thu được nhận biết? Không có cách khác ngoại trừ sống cuộc sống trong tính toàn bộ của nó. "...cho mục đích cung cấp kinh nghiệm và do vậy giải thoát cho người thấy."
"Cái được thấy, bao gồm các yếu tố và các giác quan, có bản chất ..." ba gunas. Yoga tin vào ba gunas: sattva, rajas, tamas. Sattva là phẩm chất làm cho mọi thứ ổn định; rajas là phẩm chất cho hoạt động; và tamas là phẩm chất chính là trơ ì. Ba phẩm chất này là những phẩm chất cơ sở. Qua ba phẩm chất này toàn thể thế giới này tồn tại. Đây là ba ngôi của yoga.
Bây giờ các nhà vật lí sẵn sàng đồng ý với yoga. Họ đã chẻ nguyên tử ra và họ đã bắt gặp ba thứ: điện tử, nơtron, proton. Ba thứ này có cùng ba phẩm chất trên: một là phẩm chất của ánh sáng - sattva - tính ổn định; phẩm chất khác là của rajas - hoạt động, năng lượng, lực; và phẩm chất thứ ba là lượng trơ ì - tamas. Toàn thế giới đều bao gồm ba gunas này; và qua ba gunas này, con người của nhận biết phải đi qua. Người đó phải kinh nghiệm tất cả ba gunas này. Và nếu bạn kinh nghiệm chúng như sự hài hoà, điều là kỉ luật thực của yoga...
Mọi người đều kinh nghiệm: thỉnh thoảng bạn cảm thấy lười, thỉnh thoảng bạn cảm thấy đầy năng lượng; thỉnh thoảng bạn cảm thấy thoải mái và nhẹ nhàng, và thỉnh thoảng bạn cảm thấy xui xẻo và khó chịu; thỉnh thoảng bạn là bóng tối, và thỉnh thoảng bạn là bình minh. Bạn cảm thấy cả ba gunas này. Nhiều khoảnh khắc của chúng tới liên tục, bạn đi trong bánh xe, nhưng chúng không theo tỉ lệ. Con người của ngủ say chiếm chín mươi phần trăm ngủ say. Người đó cũng hoạt động - người đó phải là vậy bởi vì chỉ giữ cho việc sống cuộc sống ngủ say, người đó sẽ phải hành động một chút. Đó là mọi điều về hoạt động của người đó - chỉ để hỗ trợ cho trơ ì của người đó. Và người đó phải hơi tốt một chút với mọi người nữa; bằng không mọi người sẽ rất, rất khó chịu với người đó. Mọi người sẽ không dung thứ cho trơ ì của người đó.
Bạn có quan sát không? Những người không mấy hoạt động... Chẳng hạn, người rất béo bao giờ cũng mỉm cười. Đó là việc bảo vệ của họ. Họ biết họ không thể tranh đấu được. Họ biết rằng nếu đánh nhau xảy ra họ không thể thoát được, họ không thể "bỏ chạy." Bạn bao giờ cũng thấy những người rất béo mỉm cười, hạnh phúc. Lí do là gì? Tại sao người gầy trông buồn và tại sao người béo không bao giờ trông buồn thế, bao giờ cũng hạnh phúc? Các nhà tâm lí và sinh lí nói rằng đó là cách bảo vệ của họ, bởi vì trong vật lộn cuộc sống điều rất khó cho họ là luôn luôn trong tâm trạng tranh đấu, như người gầy còm bao giờ cũng vậy. Họ có thể tranh đấu - nếu người kia yếu họ sẽ đánh anh ta; nếu người kia là người mạnh, họ sẽ chuồn. Họ có thể làm cả hai điều này, và người béo không thể làm được hai điều này - người đó cứ mỉm cười; người đó cứ là người tốt với mọi người. Đó là việc bảo vệ của người đó để cho người khác phải tốt với người đó.
Người lười bao giờ cũng tốt. Họ chưa bao giờ phạm vào bất kì điều xấu nào bởi vì ngay cả để phạm tội người ta cũng cần chút ít hoạt động. Bạn không thể làm người lười thành một Hitler, không thể được. Bạn không thể làm người lười thành một Napoleon hay Alexander, không thể được. Người lười đã không phạm vào bất kì tội lớn lao nào; họ không thể phạm được. Họ theo cách nào đó là người tốt bởi vì ngay cả phạm tội hay làm cái gì đó xấu họ sẽ phải hoạt động - điều đó không dành cho họ.
Thế rồi có người hoạt động, không cân bằng; họ bao giờ cũng bận rộn. Họ không lo nghĩ theo bất kì cách nào về chỗ đạt tới; họ chỉ lo nghĩ về cách đi cho nhanh. Họ không bận tâm về liệu họ đang đi tới bất kì chỗ nào - điều đó không phải là vấn đề chút nào. Nếu họ đi với tốc độ mọi thứ đều ổn. Đừng hỏi, "Anh đang đi đâu thế?" Họ không định đi đâu cả; họ đơn giản đi. Họ không có số mệnh. Họ chỉ có năng lượng để hoạt động. Họ chỉ có năng lượng để có tính hoạt động. Những người này là người nguy hiểm trên thế giới, nguy hiểm hơn người lười. Trong loại thứ hai này có mọi Adolf Hitler, Mussolinis, Napoleon, Alexander. Mọi con quỉ gây hại đều tới từ loại thứ hai vì họ có năng lượng, năng lượng không cân xứng.
Thế rồi có loại người thứ ba, hiếm khi tìm thấy: ở đâu đó một Lão Tử chỉ ngồi im lặng - không lười, thụ động. Không hoạt động, không lười - thụ động: đầy năng lượng, một bể chứa, nhưng ngồi im lặng. Bạn có quan sát ai đó ngồi im lặng, đầy năng lượng không? Bạn cảm thấy một trường bao quanh người đó, toả ra với cuộc sống, nhưng tĩnh lặng - không làm gì cả, chỉ hiện hữu.
Và yoga định tìm ra cân bằng giữa ba phẩm chất này. Nếu bạn có thể tìm ra cân bằng giữa ba phẩm chất này, đột nhiên bạn siêu việt lên. Nếu một phẩm chất là nhiều hơn các phẩm chất khác, thế thì phẩm chất này trở thành vấn đề của bạn. Nếu bạn lười hơn là hoạt động thế thì tính lười sẽ là vấn đề của bạn: bạn sẽ chịu khổ qua nó. Nếu hoạt động là nhiều hơn lười thế thì bạn sẽ khổ với hoạt động của bạn. Và phẩm chất thứ ba không bao giờ nhiều, nó bao giờ cũng ít; nhưng ngay cả vậy điều đó về mặt lí thuyết là có thể - rằng ai đó quá tốt - cái quá tốt đó sẽ là khổ cho người đó, cái quá tốt đó sẽ tạo ra không cân bằng. Cuộc sống đúng là cuộc sống của cân bằng.
Phật có tám nguyên tắc cho các đệ tử của ông ấy. Trước mọi nguyên tắc ông ấy đều thêm một từ, sama. Nếu ông ấy nói, "Nhận biết đi," ông ấy không chỉ nói "smriti," ông ấy nói "samyak smriti." Trong tiếng Anh họ bao giờ cũng dịch nó là "chính kí ức." Nếu ông ấy nói, "Hoạt động đi," ông ấy bao giờ cũng nói, "Chính hoạt động." Với "chính" ông ấy ngụ ý ở trong thăng bằng. Thuật ngữ Ấn Độ samyak nghĩa là việc cân bằng. Ngay cả với samadhi, ngay cả với thiền, Phật nói "samyak samadhi" chính định. Ngay cả samadhi cũng có thể quá nhiều, và thế thì nó sẽ là nguy hiểm. Ngay cả tốt cũng có thể là quá nhiều, và thế thì nó sẽ nguy hiểm.
Thăng bằng nên là yếu tố then chốt. Bất kì cái gì bạn làm, bao giờ cũng được cân bằng như người đi trên dây, liên tục giữ cân bằng. Đó là tính chính: yếu tố của cân bằng. Người muốn đạt tới hôn nhân tối thượng, yoga tối thượng, phải ở trong cân bằng sâu sắc. Trong cân bằng bạn siêu việt lên trên cả ba gunas. Bạn trở thành gunateet: bạn đi ra ngoài cả ba thuộc tính này. Bạn không còn là một phần của thế giới; bạn đã đi ra ngoài.
Ba gunas - ổn định, hoạt động, và trơ ì - có bốn giai đoạn: được xác định, không xác định, được chỉ dẫn, và không biểu lộ.
Ba gunas này có bốn giai đoạn. Thứ nhất, Patanjali gọi "cái được xác định." Bạn có thể gọi nó là vật chất; đó là thứ được xác định nhiều nhất quanh bạn. Thế rồi, "cái không được xác định" - bạn có thể gọi nó là tâm trí; cái đó nữa cũng có đó, được bạn liên tục cảm thấy, nhưng là yếu tố không được xác định. Bạn không thể xác định tâm trí là gì. Bạn biết nó, bạn sống nó liên tục, nhưng bạn không thể xác định được nó. Vật chất có thể được xác định nhưng không phải tâm trí. Và thế rồi "cái được chỉ dẫn" - cái được chỉ dẫn thậm chí còn tinh tế hơn cái không được xác định: nó là cái ngã. Bạn chỉ có thể chỉ dẫn về nó. Bạn thậm chí không thể nói nó là không được xác định vì nói cái gì đó là không được xác định là cách thức tinh tế để định nghĩa nó, vì điều đó nữa là một định nghĩa. Nói rằng cái gì đó là không được xác định... bạn đã định nghĩa nó theo cách phủ định rồi; bạn đã nói cái gì đó về nó. Cho nên, thế thì, có một tầng tinh tế của sự tồn tại, chính là cái ngã, cái được chỉ dẫn ra. Và thế rồi bên ngoài nó lại có cái tinh tế nhất, chính là "cái không biểu lộ" - không được chỉ dẫn - cái đó là vô ngã.
Cho nên: vật chất, tâm trí, cái ngã, vô ngã - đây là bốn giai đoạn của tất cả ba guna này.
Nếu bạn ở sâu trong ngủ say bạn sẽ giống như vật chất. Con người của ngủ say gần như là vật chất, sống tẻ nhạt; bạn không thấy người đó sống. Thế rồi có phẩm chất thứ hai, tâm trí. Nếu rajas, hoạt động, là quá nhiều, thế thì bạn trở nên quá nhiều về tâm trí. Thế thì bạn rất, rất hoạt động - tâm trí liên tục hoạt động, bị ám ảnh với hoạt động, liên tục trong tìm kiếm bận bịu mới. Ai đó hỏi Edmund Hillary, người đầu tiên lên tới đỉnh Everest, "Tại sao? Tại sao ông đã nhận rủi ro đó?" Ông ấy nói, "Bởi vì đỉnh Everest có đó, con người phải đi lên." Chẳng có gì cả... Tại sao con người đi lên mặt trăng? Bởi vì mặt trăng có đó. Làm sao bạn có thể tránh được nó? Bạn phải đi lên. Con người của hoạt động liên tục trong tìm kiếm bận rộn. Con người không thể vẫn còn không bận rộn, đó là vấn đề của con người. Không bận rộn con người là địa ngục; bận rộn con người quên đi bản thân mình.
Nếu tamas, trơ ì, là quá nhiều, bạn trở thành giống như vật chất. Nếu rajas là quá nhiều bạn trở thành tâm trí: tâm trí là hoạt động. Đó là lí do tại sao tâm trí phát điên. Thế rồi, nếu sattva là quá nhiều bạn trở thành cái ngã, bạn trở thành atma. Nhưng điều đó nữa cũng là không cân bằng. Nếu tất cả ba ở trong cân bằng thế thì cái thứ tư tới, vô ngã. Đó là bản thể thực của bạn nơi thậm chí không có cảm giác về "cái tôi" tồn tại, đó là lí do tại sao có thuật ngữ "vô ngã."
Đây là bốn giai đoạn - ba giai đoạn mất thăng bằng, và giai đoạn thứ tư của thăng bằng. Thứ nhất là được xác định, thứ hai là không được xác định, thứ ba là được chỉ dẫn, thứ tư thậm chí không được chỉ dẫn, vô chỉ dẫn; và cái thứ tư là cái thực nhất. Giai đoạn thứ nhất dường như là thực nhất vì bạn sống trong giai đoạn thứ nhất. Giai đoạn thứ hai dường như là rất gần bởi vì bạn sống trong tâm trí. Giai đoạn thứ ba dường như là có chút ít xa xôi, nhưng bạn có thể hiểu được. Giai đoạn thứ tư dường như đơn giản không thể tin được - vô ngã sao? Brahman, Thượng đế, bất kì cái gì bạn đặt tên cho nó, dường như rất xa xăm, dường như gần không tồn tại; và đó là cái có tính tồn tại nhất.
Người thấy, mặc dầu tâm thức thuần khiết, vẫn thấy qua sự bóp méo của tâm trí.
Và giai đoạn thứ tư đó, ngay cả khi bạn đạt tới nó... khi bạn còn trong thân thể bạn sẽ phải dùng mọi tầng của bản thể bạn. Ngay cả vị phật, khi ông ấy nói với bạn, phải nói qua tâm trí. Ngay cả vị phật, khi ông ấy bước đi... ông ấy phải bước qua thân thể. Nhưng bây giờ, một khi bạn đã biết rằng bạn ở bên ngoài tâm trí, tâm trí không bao giờ có thể lừa được bạn: bạn có thể dùng nó và bạn sẽ không bao giờ bị nó dùng. Đó là khác biệt. Không phải là vị phật không dùng tâm trí, ông ấy dùng chứ: ông ấy dùng; bạn thì bị dùng. Không phải là ông ấy không sống trong thân thể: ông ấy sống chứ; bạn bị sống - thân thể là chủ và bạn là nô lệ. Phật là chủ; thân thể là nô lệ. Thay đổi toàn bộ, hoán chuyển toàn bộ xảy ra - cái ở trên đi xuống dưới và cái ở dưới đi lên trên.
Cái được thấy tồn tại cho một mình người thấy.
Đây là cực đỉnh của yoga hay vedanta: "Cái được thấy tồn tại cho một mình người thấy." Khi người thấy biến mất, cái được thấy biến mất, bởi vì nó có đó chỉ cho người thấy được giải thoát. Khi giải thoát đã xảy ra nó không được cần nữa. Điều này sẽ tạo ra nhiều vấn đề bởi vì vị phật... với ông ấy cái được thấy đã biến mất, nhưng với bạn nó vẫn tồn tại. Có hoa, ai đó trong các bạn trở thành người chứng ngộ: với người đó hoa đã biến mất, nhưng với bạn nó vẫn tiếp tục. Cho nên làm sao điều đó là có thể được - với người này nó biến mất và với bạn nó tiếp tục?
Điều đó giống như thế này: tất cả các bạn đi ngủ đêm nay, tất cả các bạn đều mơ; thế rồi, một người trở nên tỉnh - giấc ngủ của người đó bị phá vỡ, mơ của người đó biến mất - nhưng mơ của mọi người khác vẫn tiếp tục. Việc biến mất mơ của người đó không giúp ích theo bất kì cách nào cho mơ của bạn bị quấy rối; chúng vẫn tiếp tục theo cách của chúng. Đó là lí do tại sao chứng ngộ mang tính cá nhân. Một người trở nên thức tỉnh; mọi người khác vẫn tiếp tục dốt nát của họ. Người đó có thể giúp người khác được thức tỉnh. Người đó có thể tạo ra phương cách quanh bạn để giúp bạn thoát ra khỏi giấc ngủ của bạn, nhưng chừng nào bạn còn chưa thoát ra khỏi giấc ngủ của bạn, mơ của bạn sẽ tiếp tục: "Cái được thấy tồn tại cho một mình người thấy."
Mặc dầu cái được thấy là chết với người đã đạt tới giải thoát, nó là sống với những người khác vì nó là thông thường cho tất cả.
Ở Ấn Độ chúng ta đã làm chỉ một phân biệt giữa mơ và điều bạn có thể gọi là thực tại, và đây là phân biệt: rằng mơ là thực tại riêng tư và thực tại này mà bạn gọi là thế giới thì là mơ chung, có vậy thôi. Khi bạn mơ, bạn mơ thế giới riêng tư. Trong đêm bạn sống cuộc sống riêng tư; bạn không thể mời được bất kì ai khác tới chia sẻ trong giấc mơ của bạn. Ngay cả người bạn gần gũi nhất của bạn hay vợ bạn hay người yêu của bạn cũng là xa xôi. Khi bạn mơ bạn đang mơ một mình. Bạn không thể đưa bất kì ai tới đó; nó là thế giới riêng tư. Thế thì cái gì là thế giới này, bởi vì ở Ấn Độ chúng ta đã gọi thế giới này cũng là tựa mơ đó sao? Đây là mơ chung. Tất cả chúng ta mơ cùng nhau vì tâm trí chúng ta vận hành theo cùng cách.
Đi tới sông. Đem một chiếc gậy thẳng đi cùng bạn; bạn biết chiếc gậy là thẳng. Nhúng nó xuống sông: ngay lập tức, bạn thấy nó đã trở thành bị cong, bị uốn đi. Kéo nó ra; bạn biết nó thẳng. Lại cho nó vào trong nước; nó lại trở thành cong. Bây giờ, bạn biết rõ rằng chiếc gậy vẫn như cũ, nhưng vận hành của tâm trí bạn và vận hành của tia sáng tạo ra hiện tượng này, ảo tưởng, rằng nó đã trở thành cong. Cho dù bây giờ bạn biết, dầu vậy nó sẽ là cong. Tri thức của bạn sẽ không ích gì. Bạn biết rõ, hoàn toàn rõ, nó không cong, nhưng nó trông có vẻ bị cong - bởi vì vận hành của mắt và tia sáng là tới mức ảo tưởng được tạo ra. Thế rồi đưa cả tá bạn bè bạn đi cùng bạn: tất cả các bạn sẽ thấy nó cong. Đó là ảo tưởng chung. Thế giới là giấc mơ chung.
Người thấy và cái được thấy tới cùng nhau cho nên bản tính thực của từng cái có thể được nhận ra.
Nguyên nhân của sự thống nhất này là dốt nát.
Được thống nhất với thế giới này, cái giống như mơ, được thống nhất với thân thể, với tâm trí - cái không phải là bạn - là điều cần thiết. Qua thống nhất này bạn sẽ được chuẩn bị cho việc thống nhất lớn hơn. Qua thống nhất này bạn sẽ đi tới nhận ra rằng thống nhất này là giả. Cái ngày bạn nhận ra rằng thống nhất này là giả, thống nhất chung cuộc sẽ xảy ra.
Khi bạn được li dị khỏi thế giới, bạn được kết hôn với điều thiêng liêng. Khi bạn được kết hôn với thế giới, bạn vẫn còn trong li dị khỏi Thượng đế. Đó là lí do tại sao mọi nhà huyền môn - Meera, Chaitanya, Kabir; ở phương Tây, Theresa - tất cả họ đều nói dưới dạng hôn nhân, dưới dạng cô dâu và chú rể. Và tất cả họ đều đang chờ đợi qua đêm tân hôn cuối cùng.
Cách nói bóng gió bao giờ cũng được dùng. Các nhà tâm lí thậm chí đã trở nên nghi ngờ về nó, về tại sao nhà huyền môn dùng cách nói bóng gió về yêu, kết hôn, ôm choàng, hôn. Ở Ấn Độ ngay cả giao hợp dục đã được dùng như cách nói bóng gió: khi hôn nhân cuối cùng xảy ra có cao trào tối thượng, cực thích toàn bộ của cá nhân với toàn thể, của con sóng với đại dương.
Tại sao những người này dùng lời nóng bóng về dục. Các nhà tâm lí ngờ rằng phải có kìm nén nào đó về dục. Họ sai. Không có kìm nén về dục, nhưng dục là hiện tượng nền tảng thế, làm sao tôn giáo có thể né tránh nó được? Nó phải được dùng. Và dục là hiện tượng duy nhất, sâu nhất, nơi bạn làm mất bản thân bạn hoàn toàn thế. Và trong Thượng đế hay trong cái toàn bộ người ta làm mất bản thân người ta một cách toàn bộ - trở thành vô ngã. Trong dục chỉ một thoáng nhìn về nó tới với bạn. Điều tốt là dùng cách nói bóng gió về hôn nhân, về cô dâu và chú rể.
Vẫn còn trong kết hôn với thế giới và bạn vẫn còn bị li dị khỏi điều thiêng liêng. Đi qua kinh nghiệm trần gian đi - được làm giầu, được giải thoát - đột nhiên bạn trở nên nhận biết rằng kết hôn này là ảo tưởng, mơ. Bây giờ, đám cưới thực sẵn sàng cho bạn. Chú rể đang đợi bạn.

0 Đánh giá

Ads Belove Post