Chương 9. Thầy cho tôi đôi mắt

Chương 9. Thầy cho tôi đôi mắt

Price:

Read more

Osho - Mưa rào không mây
Giảng về bài thơ của người đàn bà chứng ngộ, Sahajo
Chương 9. Thầy cho tôi đôi mắt

Thông thường, bạn nghĩ rằng người phi tôn giáo hoài nghi và người tôn giáo tin cậy - nhưng người tôn giáo cũng hoài nghi và người phi tôn giáo cũng tin cậy nữa. Người tôn giáo tin cậy vào Thượng đế và hoài nghi sansara, thế giới trần tục thông thường; người phi tôn giáo tin cậy sansara và hoài nghi Thượng đế. Khối lượng hoài nghi và tin cậy là như nhau trong cả hai loại người này, chỉ có khác biệt về chiều hướng. Nếu tin cậy đi sai hướng, thế thì con người sẽ đi lạc lối. Và ngay cả hoài nghi đi đúng hướng, con người sẽ kinh nghiệm chân lí. Bạn sẽ không kinh nghiệm chân lí chỉ qua tin cậy thôi, mà bạn cũng sẽ không đi lạc lối qua hoài nghi - điều đó tất cả đều phụ thuộc vào chiều hướng. Mọi người tôn giáo đều hoài nghi về thực tại của thế giới, và mọi người phi tôn giáo tin cậy vào thực tại này. Cho nên đừng nghĩ rằng bạn có thể biết chỉ qua tin cậy, bằng không ngay cả người vô thần chắc đã biết. Và đừng nghĩ rằng bạn sẽ đi lạc lối bởi việc hoài nghi, bằng không ngay cả người hữu thần sẽ đi lạc lối.
Hoài nghi không cản trở mà tin cậy cũng không đưa bạn tới điều tối thượng. Ngay cả hoài nghi, nhưng theo hướng đúng, sẽ giúp bạn đạt tới, và ngay cả tin cậy, nếu hướng sai, sẽ giúp bạn đi lạc lối. Chung cuộc, chính hướng đi mới là quan trọng.
Người vô thần và hữu thần là cùng kiểu: người vô thần đang đứng trên đầu mình còn người hữu thần đang đứng trên chân mình. Người vô thần đang đứng lộn ngược - anh ta tin cậy ở chỗ cần hoài nghi và anh ta hoài nghi ở chỗ cần tin cậy. Đó là lí do tại sao bất kì người vô thần nào cũng có thể trở thành hữu thần và bất kì người hữu thần nào cũng có thể trở thành người vô thần trong một khoảnh khắc. Phải mất bao lâu bạn mới chuyển từ đứng trên đầu sang đứng trên chân? Đi từ kiểu nọ sang kiểu kia khó thế nào?
Một tối, có sự cố nhỏ trong đại dương. Mặt trời đã lặn và mới chỉ khoảnh khắc trước đấy thôi, một con cá đã rất sung sướng và vui vẻ nhảy múa trong tia sáng mặt trời trong cái bao la vô hạn của đại dương. Nó nhảy múa, nó bơi lội, không có nỗi buồn, không đau đớn ở đâu cả. Con cá tự nhiên và hồn nhiên thế. Không có lấy một thoáng hoài nghi nào trong tâm trí nó. Nhưng một khoảnh khắc sau đó nó đã gặp một con cá vô thần làm rối loạn mọi thứ.
Mọi con cá khác đều tránh con cá vô thần này, nhưng con cá này mới và nó không biết hơn. Khi con cá vô thần tới gần nó, nó lắng nghe con cá này nói chỉ vì phép lịch sự. Con cá vô thần nói với nó, “Mày đang nhảy múa gì thế? Sao mày sung sướng thế? Sao mày mở hội thế? Dường như mày là một kẻ tin tưởng mù quáng, giống như những con cá thông thường khác kia. Không có niềm vui, niềm vui là ảo tưởng! Và đại dương này mà mày nghĩ rằng mày đang trong nó - nơi mày đang nhảy múa và bơi lội, nhảy nhót và thích thú - không có những thứ như vậy đâu. Mày đã bao giờ thấy đại dương chưa?”
Con cá trẻ trở nên sợ hãi. Nó đã nghe nói về đại dương này nhưng nó chưa bao giờ thấy đại dương cả. Khi ai đó được sinh ra trong đại dương, khi ai đó được lớn lên trong đại dương và chưa bao giờ đi ra ngoài đại dương, thế thì không có cách nào để thấy đại dương cả. Để thấy, khoảng cách nào đó là cần, phân cách nào đó, khe hở nào đó là cần. Con cá này đã nghe nói rằng có đại dương, nhưng nó chưa bao giờ thấy điều đó. Mắt nó cũng đã được tạo ra từ đại dương này, nó được bao bọc bởi đại dương. Cá có thể thấy đại dương chỉ khi có một khoảng cách giữa đại dương và cá. Thậm chí đã không có khoảng cách đó.
Con cá này đã nghe nói về đại dương. Con cá vô thần bắt đầu cười và nói, “Hệt như con người tin tưởng mù quáng vào Thượng đế, cá tin rằng có đại dương. Nhưng không có Thượng đế và không có đại dương. Nhìn này, mở mắt mày ra mà nhìn! Mày vẫn còn trẻ - cái gì làm mày sợ thế? Tất cả xung quanh, trống rỗng lớn bao quanh chúng ta. Không cái gì là thực ngoại trừ cái chết.”
Con cá trẻ nhìn quanh. Chắc chắn có trống rỗng tất cả xung quanh. Mặt trời đã lặn. Tất cả xung quanh đều là mầu xanh của đại dương - nó dường như giống bầu trời trống rỗng. Và ở một khoảng xa, trong tầm mắt còn nhìn thấy được, mầu xanh đại dương thẫm vào trong bóng tối. Mọi nơi đêm tối đang buông xuống.
Trong tâm trí nó nữa câu hỏi phát sinh, “Đại dương đâu rồi?”
Nó nhìn xuống trong cái trống rỗng không thể hiểu được. Nó trở nên sợ hãi, toàn bộ thân thể nó run rẩy, mọi tế bào thân thể nó lo nghĩ. Nếu nó ngã vào trong cái trống rỗng này thế thì ai cứu nó ra được? Nó hoàn toàn quên mất rằng cho đến lúc đó nó đã từng bơi lội trong cái trống rỗng này và nó không bao giờ bị ngã cả. Nó hoàn toàn quên mất rằng mới khoảnh khắc trước đó thôi nó đã từng sung sướng, vui vẻ và rằng cái trống rỗng này chưa hề khuấy đảo nó. Nhưng ngày hôm đó, khi nó nhìn cẩn thận khắp xung quanh, nó trở nên hoảng sợ, và giống như người bị tê liệt nó không thể nào bơi được nữa cho dù nó muốn bơi. Nó mất hết khí lực, nó trở nên rất sợ hãi. Tất cả xung quanh đều tĩnh lặng. Đêm ngày một tối hơn. Mọi nơi đều có cái trống rỗng; nếu nó ngã vào trong đó, thế thì điều gì sẽ xảy ra? Nó cần một chỗ dựa nào đó. Nó nhìn xung quanh và nói, “Mình phải làm gì đây? Mình có thể bám vào cái gì? Không có ai cả.” Cho nên nó nghĩ rằng nó sẽ dựa vào bản thân mình bằng việc bám lấy đuôi mình. Nó bơi vòng và uốn mình, và nó cố gắng vất vả để bắt lấy đuôi mình mà không được - nó không phải là nhà hathayogi - nó trở nên thậm chí còn hoảng sợ hơn.
Câu chuyện là ở chỗ đại dương vẫn im lặng quan sát mọi việc. Nó cười to và nói, “Ngốc ơi là ngốc, cháu không thể thấy được đại dương sao? Cháu là một phần của đại dương này.” Nó cảm thấy thương hại cho con cá này bị mắc vào rắc rối này. Mới khoảnh khắc trước đây thôi đã có niềm vui của sự tin cậy. Còn bây giờ, trong một khoảnh khắc, làn khói hoài nghi, đám mây hoài nghi đã tụ tập và bầu trời bị che phủ, che khuất. Cuối cùng đại dương không thể nào còn im lặng được nữa và nó nói, “Nghe đây, ngốc ạ, trước đây cháu đã bao giờ ngã xuống đâu - ai đỡ cho cháu vậy? Tại sao hôm nay cháu bỗng nhiên ngã?”
Ý tưởng về việc ngã này là một phần cố hữu của hoài nghi. Tin cậy cứu bạn, những bàn tay vô hình đỡ bạn khắp xung quanh. Khi hoài nghi nảy sinh, tất cả những bàn tay nâng đỡ này dường như là biến mất và vực thẳm vô hạn dường như mở ra.
Con cá này trở nên sợ hãi. Nó nói, “Ông là ai vậy? Không có đại dương, đấy chỉ là niềm tin mù quáng của cá thôi.”
Đại dương cười khanh khách. Nó nói, “Chỉ có đại dương thôi... cá tới rồi đi. Kẻ tin, kẻ không tin, kẻ tin mù quáng, họ tới rồi họ đi, nhưng đại dương bao giờ cũng còn lại. Cái nhất thời có ý tưởng rằng nó tồn tại, và nó hoài nghi cái vĩnh hằng! Nếu cháu muốn hoài nghi điều gì đó, thế thì hoài nghi bản thân mình đi. Đã có thời cháu không có đây và rồi một ngày nào đó cháu sẽ không còn ở đây nữa. Đại dương bao giờ cũng ở đây và bao giờ cũng sẽ ở đây. Hoài nghi cái nhất thời và tin vào cái vĩnh hằng đi.”
Vô thần là tin cậy vào cái ngắn ngủi và không tin vào cái vĩnh hằng.
Con người ở trong cùng tình huống như con cá kia. Và điều đó thậm chí còn nhiều hơn nữa trong thế kỉ này, bởi vì biết bao nhiêu người đã nuôi dưỡng hoài nghi của bạn còn bạn chưa bao giờ gặp một người nuôi dưỡng cho sự tin cậy của bạn. Và người mà bạn nghĩ là đem cho bạn sự tin cậy, bản thân họ không có tin cậy. Cho nên có những người đem cho bạn hoài nghi trực tiếp và có những người đem cho bạn hoài nghi gián tiếp.
Người vô thần đã trao cho bạn hoài nghi, nhưng ngay cả cái gọi là những người hữu thần đang ngồi trong đền đài, trong chùa chiền, trong gurudwaras, trong nhà thờ - quan sát họ, tin cậy của bạn không tăng lên. Ví dụ của họ đã cho bạn chỉ là hoài nghi. Hành vi của họ không tạo ra âm nhạc của tin cậy trong bạn. Hương thơm của tin cậy không thể tìm thấy được theo cách hiện hữu của họ, bạn chỉ thấy bốc mùi của hoài nghi. Bạn không thể nào cảm thấy rằng họ đã kinh nghiệm tin cậy. Điệu vũ của tin cậy không thể tìm thấy được trong họ - cả trong các kiếp sống của họ lẫn cách hiện hữu của họ, không có ánh sáng trong mắt họ lẫn trong cách họ bước đi - không ở đâu cả. Họ có thể láu lỉnh hơn bạn, họ có thể linh hoạt trong logic hơn bạn, có thể họ có nói giỏi về logic, có thể họ có trí tuệ hơn bạn để hỗ trợ cho niềm tin của họ vào Thượng đế - nhưng từ cái chạm của họ người ta không cảm thấy rằng họ đã biết Thượng đế.
Vô thần là vô thần, nhưng đền chùa và tu viện và nhà thờ cũng hoà cùng điệu với người vô thần. Tiếng nói của người vô thần ẩn kín dường như thậm chí đến từ đó. Con người bị bao quanh bởi chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa vật chất. Cái gì có thể được làm?
Có lẽ bạn đã được bảo đi bảo lại mãi: chấm dứt hoài nghi đi, tin cậy nữa vào. Tôi không nói điều này với bạn. Tôi bảo bạn rằng hoài nghi cũng đẹp, chỉ cần cho nó đúng hướng. Hoài nghi cái nhất thời đi. Sử dụng hoài nghi đi, nó là thuật giả kim rất quí báu. Bất kì điều gì Thượng đế đã trao cho bạn đều có nghĩa. Hoài nghi cũng là có nghĩa, chối bỏ cũng có mục đích; nói không có giá trị riêng của nó.
Nhưng chối bỏ chỉ cái đáng chối bỏ. Tôi không bảo bạn rằng bạn nên khử bỏ hoài nghi bởi vì thế thì bạn sẽ trở thành què quặt. Bạn sẽ loại bỏ đi một nửa linh hồn bạn. Thế thì bạn sẽ chỉ có một cánh và bạn sẽ không thể nào bay được. Bạn không thể đi bất kì đâu chỉ với một cánh. Cho nên tôi bảo dùng hoài nghi và cũng dùng cả tin cậy nữa. Chúng là hai chân của bạn, vâng - nhưng dùng chúng theo hướng đúng. Chỉ khác biệt về chiều hướng, chỉ việc thu xếp phải được thay đổi. Ngay cả một chút thay đổi sẽ tạo ra khác biệt lớn.
Lời kinh của Sahajo cũng nói điều này:
Sahajo nói: Trong giấc mơ, trong một khoảnh khắc
Năm mươi năm có thể trôi qua
Khi mở mắt ra đấy tất cả là ảo tưởng;
Việc sống trong thân thể cũng vậy.
Đây là cách dùng đúng của hoài nghi. Bạn cần hoài nghi, không tôn thờ bất kì Thượng đế nào. Bạn sẽ không thể nào tìm thấy một đối tượng hoài nghi nào tốt hơn là cái thế giới đang bao quanh bạn. Trước hết hoài nghi điều đó.
... Trong giấc mơ, trong một khoảnh khắc
Năm mươi năm có thể trôi qua
Bạn đã bao giờ để ý chưa? - bạn ngủ lơ mơ chốc lát khi bạn làm việc trong văn phòng, hay bạn đang đọc báo buổi sáng và mắt bạn nhắm một thoáng chốc và bạn lơ mơ ngủ, nhưng trước khi rơi vào giấc ngủ bạn thấy chiếc đồng hồ trên tường. Khi bạn thức dậy khỏi giấc ngủ trưa bạn thấy rằng chỉ mới một phút trôi qua, nhưng trong giấc ngủ trưa chốc lát này bạn đã có một giấc mơ dài. Bạn đã có một giấc mơ dài đến mức nếu như nó xảy ra trong thực tế nó chắc chiếm khoảng năm mươi năm. Trong giấc mơ ấy bạn còn nhỏ... và bạn trở nên già... bạn xây dựng gia đình và thế rồi có con cái và âm nhạc đang chơi cùng buổi lễ đám cưới... và bạn tỉnh dậy với âm thanh của âm nhạc. Bạn thấy rằng chỉ một khoảnh khắc mới trôi qua trên đồng hồ. Bạn đã có giấc mơ dài thế trong một khoảnh khắc nhỏ thế.
Các nhà khoa học cũng đồng ý rằng thời gian là tương đối và rằng kinh nghiệm của bạn về thời gian thay đổi hàng ngày. Khi bạn hạnh phúc thế thì thời gian trôi qua nhanh chóng. Khi bạn buồn, thời gian trôi rất chậm. Khi bạn hạnh phúc bạn không nhận biết rằng hàng giờ đã trôi qua - nó dường như chỉ là khoảnh khắc. Khi bạn bất hạnh, khi cuộc sống là gánh nặng và bạn buồn, khoảnh khắc như hàng giờ. Thời gian không trôi đi chút nào... đêm dường như là vô tận.
Thời gian phụ thuộc vào tâm trí bạn. Bạn càng nhiều vô ý thức, bạn càng ôm giữ giấc mơ trong tâm trí mình - theo cùng một tỉ lệ. Bạn càng có ý thức, theo cùng tỉ lệ, giấc mơ càng ít sở hữu bạn. Nếu vô ý thức là sâu sắc, thế thì trong một khoảnh khắc bạn có thể mơ về nhiều năm. Nếu nhận biết là sâu sắc, toàn bộ, thế thì thời gian biến mất. Thế thì không có vấn đề về năm tháng; thời gian biến mất! Hỏi Mahavira, Phật, Jesus - họ nói rằng khi samadhi được kinh nghiệm, thời gian biến mất. Trong trạng thái mãn nguyện toàn bộ, không có thời gian. Có thời gian trong trạng thái vô ý thức sâu sắc - thời gian vô hạn. Và bạn ở đâu đó ở giữa - lúc vô ý thức, lúc nhận biết; lúc hạnh phúc, lúc bất hạnh. Thời gian dường như vô tận khi bạn buồn.
Người Ki tô giáo nói rằng địa ngục là vĩnh viễn; một khi bạn rơi xuống đó thế thì bạn không bao giờ thoát ra khỏi đó được. Bertrand Russell đã nêu ra một luận cứ rất khoa học. Ông ấy đã viết một cuốn sách chống Ki tô giáo, Tại sao tôi không là người Ki tô giáo, và ông ấy đã đưa ra nhiều luận cứ trong đó. Một trong chúng là - và luận cứ này dường như rất có ý nghĩa - khi Russell nói, “Trong đời tôi, dù tôi đã phạm phải tội lỗi gì và dù tôi mới chỉ tưởng tượng phạm bất kì tội lỗi gì, thậm chí nếu có bị trừng phạt bởi những tội lỗi tưởng tượng đó nữa, thế thì ngay cả đến quan toà nghiêm khắc nhất cũng chỉ có thể phạt tôi không quá năm năm.” Và người Ki tô giáo tin rằng chỉ có một cuộc sống cho nên không có mấy phức tạp. Nhưng Ki tô giáo dường như ngớ ngẩn. Với những tội lỗi nhỏ bé này tôi sẽ bị tống vào địa ngục vĩnh viễn sao? Tôi không thể nào hiểu được điều này. Sự trừng phạt này dường như quá mức cần thiết. Dường như là Ki tô giáo chỉ đợi để sập bẫy bạn. Dẫu sao chúng ta đã phạm phải tội lỗi gì?”
Nếu bạn nghĩ về điều đó, luận cứ của Russell có vẻ đúng với bạn. Bạn có thể đánh cắp một số tiền, bạn có thể rạch túi của ai đó, bạn có thể không nói cho ai đó rằng bạn nhặt được tiền rơi trên đất và giữ nó để dùng cho mình, bạn có thể đã nhìn vào vợ ai đó bằng con mắt thèm khát, bạn có thể đã nhìn nhà của ai đó bằng ghen tị, bạn có thể đã xúc phạm ai đó, bạn có thể đã đánh nhau với ai đó - đấy là tội lỗi của bạn. Chúng là những tội lỗi rất nhỏ bé, chỉ đáng một xu, và với những tội lỗi này bạn phải chịu đoạ địa ngục vĩnh viễn! Không người Ki tô giáo nào có thể trả lời cho Russell được bởi vì đấy là một luận cứ rất rõ ràng. Russell nói rằng dù bạn có thể phạm phải bao nhiêu tội lỗi đi chăng nữa, vẫn phải có một giới hạn cho sự trừng phạt. Trừng phạt vĩnh viễn vì những tội lỗi giới hạn này sao?
Nhưng tôi có một số lí do khác nữa. Russell từ đó đã chết rồi. Nếu ông ấy mà còn sống, tôi sẽ nói với ông ấy rằng bạn đã không hiểu vấn đề chút nào. Bạn đã bỏ lỡ quan điểm của Jesus. khi Jesus nói, “Địa ngục là vĩnh viễn,” ông ấy đang nói rằng có nhiều khổ đến mức một khoảnh khắc sẽ dường như là vĩnh viễn. Thời gian dường như bị kéo dài ra bởi sự mãnh liệt của khổ. ‘Vĩnh viễn’ không có nghĩa vĩnh viễn theo từ ngữ, đấy chỉ là biểu tượng. Nỗi đau mãnh liệt đến mức đêm dường như không trôi qua, nó dường như là vĩnh viễn. Từ ‘vĩnh viễn’ được dùng để chỉ ra chiều sâu của đau khổ. Tại đây, từ ‘vĩnh viễn’ không liên quan gì tới chiều dài thời gian. Nghĩa của từ ‘vĩnh viễn’ có liên hệ tới chiều sâu của đau khổ trong thời gian. Nếu bạn trong địa ngục dù chỉ một khoảnh khắc thế thì điều ấy sẽ dường như là khoảnh khắc này không bao giờ đi tới chấm dứt. Đây là toàn thể nghĩa của nó. Những khoảnh khắc đau đớn trở thành vĩnh viễn. Những khoảnh khắc hạnh phúc trôi qua trong thoáng chốc. Trong khoảnh khắc của phúc lạc, không có thời gian. Đó là lí do tại sao những người đã biết tới phúc lạc đều nói rằng nó là vô thời gian, nó ở bên ngoài thời gian; thời gian chấm dứt ở đó.
Ai đó đã yêu cầu Jesus nói điều gì đó về vương quốc của Thượng đế - mà hoàn toàn khác với vương quốc của thế gian này - cho nên điều Jesus nói là, “Sẽ không còn thời gian nữa”... trong vương quốc của Thượng đế sẽ không có thời gian, đây sẽ là một trong những khác biệt cơ bản giữa vương quốc của trái đất và vương quốc của Thượng đế. Thời gian sẽ trôi qua theo cùng tỉ lệ với nỗi đau của bạn. Thời gian sẽ dãn ra với nỗi đau của bạn và thời gian co với niềm vui của bạn. Trong nỗi đau tuyệt đối, thời gian trở thành vĩnh viễn. Trong niềm vui tuyệt đối nó trở thành không tồn tại.
Sahajo nói: Trong giấc mơ, trong một khoảnh khắc
Năm mươi năm có thể trôi qua
Trong một khoảnh khắc của việc mơ, năm mươi năm có thể trôi qua. Nhưng bạn đã bao giờ nghĩ rằng điều bạn gọi năm mươi năm cuộc đời đó, ai mà biết được, có thể trong một giấc mơ đấy chỉ là một khoảnh khắc? Điều này cho chiều hướng đúng đắn cho hoài nghi.
Có một câu chuyện cổ ở Trung quốc. Con trai của một hoàng đế sắp chết. Anh ta là con trai duy nhất của ông ấy. Lúc đó là gần tới khoảnh khắc cuối cùng của anh ta; các ngự y nói, “Bây giờ anh ấy không thể sống được.” Cho nên hoàng đế đã ngồi gần anh ta liền ba ngày không ngủ. Con trai ông ấy đang thở hơi cuối cùng, hơi thở có thể dừng vào bất kì lúc nào. Anh ta là đứa con yêu dấu nhất của ông ấy, đứa con duy nhất của ông ấy; mọi hi vọng của ông ấy và mọi mơ ước của ông ấy đều dồn vào anh ta. Anh ta là tương lai của ông ấy. Hoàng đế già đang khóc lóc nhưng không cái gì có thể được làm, mọi thứ đã được làm cả rồi. Không thuốc thang nào có tác dụng, không ngự y nào có thể làm được gì. Bệnh này vô phương cứu chữa. Cái chết của anh ta là chắc chắn.
Hoàng đế đang ngồi với anh ta, và đã sang ngày thứ tư - ông ấy đã không ngủ ba ngày rồi - ông ấy ngủ lơ mơ. Ông ấy mơ rằng ông ấy có những cung điện to lớn và vương quốc của ông ấy trải khắp cả thế giới... một mình ông ấy cai trị cả thế giới... ông ấy có mười hai con trai khôi ngô tuấn tú, tráng kiện, trẻ trung, sức khoẻ và trí thông minh của họ là vô song... các bậc trong cung điện đều được nạm ngọc và kim cương, ông ấy có kho báu vô giá ... ông ấy rất hạnh phúc... không có nỗi buồn nào hết cả... Trong khi đang mơ về tất cả những điều này, vợ ông ấy khóc to lên rằng con trai đã chết. Tác động của giấc mơ vẫn còn đó... cung điện mờ đi, cung điện vàng chói sáng dưới ánh mặt trời, mười hai đứa con, cái đẹp của chúng, mạnh khoẻ của chúng, trí thông minh của chúng, thoáng nhìn mờ nhạt cuối cùng về niềm vui mà giấc mơ đã tạo ra vẫn còn có đó. Và ở đây, con ông ấy vừa mới chết. Mọi người đang khóc lóc.
Nhà vua bối rối. Ông ấy không thể nào nghĩ được. Trong một chốc, ông ấy ngơ ngác. Vợ ông ấy tự hỏi liệu ông ấy có phát điên hay không bởi vì không có nước mắt trong mắt ông ấy, không tiếng kêu khóc bật ra trên môi, không một lời buồn rầu, không một tiếng thở dài than tiếc. Vợ ông ấy trở nên sợ hãi. Bày ấy lay chồng và hỏi ông ấy, “Điều gì xảy ra cho bệ hạ vậy?” Bà ấy biết rằng nỗi đau về cái chết của con trai chắc là nặng nề lên ông ấy. Bà ấy nghĩ, “Ông ấy chắc phát điên mất! Ông ấy có mất trí không? Sao ông ấy im lìm thế này?” Bà ấy nói, “Nói điều gì đó đi!”
Hoàng đế bắt đầu cười. Ông ấy nói, “Ta đang gặp khó xử lớn - ta phải than khóc ai đây? Vừa mới đây ta có mười hai con trai, cung điện vàng, mọi điều giải trí, và tất cả đã biến mất trong một khoảnh khắc. Ta phải than khóc cho chúng, hay ta phải than khóc cho đứa con vừa mới chết này? Bởi vì khi ta ở với mười hai đứa kia ta đã quên đứa này. Ta không biết chút nào rằng ta có đứa con ở đây. Bây giờ ta ở với đứa này, và ta đã quên mười hai đứa kia. Vậy cái nào là thực?”
Sahajo nói: Trong giấc mơ, trong một khoảnh khắc
Năm mươi năm có thể trôi qua
Trong một khoảnh khắc mơ, năm mươi năm có thể trôi qua. Năm mươi năm cuộc đời bạn cũng không nhiều gì hơn một khoảnh khắc của mơ. Bao nhiêu người đã sống cuộc sống này? Vô hạn người đã sống trên trái đất này. Họ cũng đã mơ theo cùng cách như bạn đã mơ. Họ cũng có cùng tham vọng như bạn có. Họ cũng đã chạy theo quyền lực và danh vọng như bạn chạy. Họ đã đánh nhau, họ đã chết. Họ đã kinh nghiệm vui thú và đau đớn, họ đã làm bạn và thù, họ cũng phân biệt giữa cái gì là của họ và cái gì là của người khác. Tất cả những cái đó đã biến mất. Các nhà khoa học nói rằng ở chính chỗ mà bạn đang ngồi ấy, diện tích một người có thể đứng, có ít nhất mười xác người đã được chôn vùi dưới bạn. Trong đất đó, mười người đã biến thành cát bụi. Nếu không phải hôm nay, thế thì ngày mai, bạn cũng sẽ biến mất thành cùng cát bụi đó. Đến cùng chỉ cát bụi còn lại. Tất cả mơ mộng đều tan biến. Cát bụi trở về với cát bụi. Giữa hai cát bụi này là thế giới của mơ mộng. Nếu bạn muốn hoài nghi, hoài nghi điều này đi! Và điều đáng ngạc nhiên là mọi người không hoài nghi về thế giới này, vậy mà họ hoài nghi về điều vĩnh hằng.
Mọi người tới tôi và nói, “Chúng tôi không phải là những kẻ tin tưởng mù quáng. Chúng tôi là những người có giáo dục tốt, những trí thức. Chúng tôi đã nghiên cứu logic và chúng tôi không thể nào tin vào sự tồn tại của Thượng đế được.”
Tôi bảo họ, “Quên Thượng đế đi. Nếu bạn là người thực sự có giáo dục tốt, nếu bạn đã học logic và bạn là trí thức, thế thì ý tưởng của bạn về thế giới này là gì?”
Họ nói, “Thế giới này là thực.”
Đây là loại logic nào vậy? Đây là mù quáng tuyệt đối.
Nếu bạn đã học về hoài nghi, thế thì hoài nghi và nhìn vào cuộc sống của bạn và bạn sẽ thấy rằng không có khác biệt giữa mơ và cuộc sống này. Bạn gọi cái gì là mơ? Khi nó có đó, nó dường như là thực. Khi bạn thấy giấc mơ vào ban đêm, bạn có cảm thấy nó là giả không? Nó là giả khi bạn tỉnh dậy bởi vì thế thì bạn mới đi tới biết rằng nó là mơ. Tất cả những người đã thức tỉnh trên trái đất này, phát biểu của họ là một - rằng thế giới này là giấc mơ. Dù cho đấy là Phật người đã thức tỉnh, hay Sahajo người đã thức tỉnh, hay Kabir, hay Farid, sau khi thức tỉnh, thế giới này trở thành giấc mơ. Sau khi thức tỉnh người ta hiểu ra rằng việc chạy theo tiền bạc hoặc quyền lực là ảo tưởng của tâm trí.
Sahajo nói: Trong giấc mơ, trong một khoảnh khắc
Năm mươi năm có thể trôi qua
Khi mở mắt ra đấy tất cả là ảo tưởng;
Việc sống trong thân thể cũng vậy.
Và khi mắt bạn mở ra, thế thì bạn sẽ biết rằng nó tất cả là giả tạm. Việc sống trong thân thể cũng vậy - đây là cách thức sống trong thân thể này. Sống trong thân thể này dường như thực chỉ chừng nào mà mắt bạn còn nhắm. Khi mắt bạn mở ra, thế thì bạn sẽ hiểu bạn đã mang mơ mộng và ảo tưởng gì, loại ảo tưởng nào của tâm trí mà bạn đã coi là thật. Chúng tất cả đều là các con sóng ý nghĩ, chỉ là những rung động của ý nghĩ - chúng đã tới, rồi đi. Bây giờ, thậm chí không một dấu vết nào của chúng được bỏ lại, dường như ai đó đã viết lên nước, một chữ kí trên nước - nó thậm chí còn chưa kết thúc và nó đã tan biến rồi.
Khi mở mắt ra đấy tất cả là ảo tưởng;
Việc sống trong thân thể cũng vậy.
Nếu thân thể này dường như là thực đối với bạn, thế thì thế giới này sẽ dường như là thực với bạn. Cả hai thực tại này đi đôi với nhau. Nếu bạn hoài nghi thế giới này thế thì bạn sẽ hoài nghi thực tại của thân thể bởi vì thân thể bạn là một phần của thế giới. Nếu bạn hoài nghi thực tại của thân thể bạn, thế thì bạn sẽ hoài nghi thế giới, bởi vì thế giới này là sự mở rộng của thân thể bạn. Đã có thời thân thể này không có ở đây, ngần này là chắc chắn. Rồi một ngày nào đó thân thể này sẽ không có ở đây nữa, điều này cũng chắc chắn. Chỉ một con sóng ở giữa hai cái trống rỗng, một con sóng nhỏ và bạn tin con sóng này là thực. Bạn chưa bao giờ hoài nghi về nó cả. Và sự tồn tại cái ẩn đằng sau tất cả những con sóng này - gọi nó là Thượng đế, gọi nó là linh hồn, gọi nó là giải thoát - bạn hoài nghi nó.
Không, tôi không coi người vô thần là rất logic. Một người rất logic chắc chắn sẽ trở thành hữu thần. Người vô thần vẫn còn học ABC. Khi anh ta đi sâu hơn vào logic, khi hoài nghi trở thành mãnh liệt và có sắc bén cho nó, thế thì anh ta sẽ thấy điều Sahajo đang nói: Khi mở mắt ra đấy tất cả là ảo tưởng; việc sống trong thân thể cũng vậy.
Thế giới giống như ngôi sao mai cuối cùng.
Sahajo nói: Nó đang tan biến đi nhanh chóng...
Biểu tượng này là rất đẹp: Thế giới giống như ngôi sao mai cuối cùng - thế giới này là ngôi sao cuối cùng lúc bình minh. Trong buổi sáng, bạn đã bao giờ thấy khi mọi ngôi sao đã biến đi và chỉ ngôi sao cuối cùng còn lại không? Nó sắp biến đi nốt; nó có đó chỉ một khoảnh khắc thôi và thế rồi bạn sẽ cố gắng để thấy nơi nó đã biến mất. Nó có đó chỉ khoảnh khắc trước, còn bây giờ nó không còn nữa.
Thế giới giống như ngôi sao mai cuối cùng. Sahajo nói: Nó đang tan biến đi nhanh chóng. Thế giới này giống hệt như ngôi sao cuối cùng sắp biến mất vào buổi sáng. Nó không ở đó lâu nữa; nó đang trên bờ của việc biến mất. Chỉ một khoảnh khắc của nhận biết về nó và thế rồi nó mất đi. Theo cùng cách này, bạn khó mà đạt tới và bạn bị mất đi. Bạn thậm chí không thể trụ ở đây trước khi cái chết bắt giữ bạn.
Thế giới giống như ngôi sao mai cuối cùng.
Sahajo nói: Nó đang tan biến đi nhanh chóng
Giống như viên ngọc sương,
Giống như nước đựng trong lòng tay ông.
Ngay cả ngọc trai cũng mờ nhạt trước giọt sương sớm trên nhành cỏ. Buổi sáng mặt trời lên và những giọt sương long lanh trên nhành cỏ đánh bại những viên ngọc thực... giống như viên ngọc sương. Nó trông giống như viên ngọc, nhưng chỉ về dáng vẻ thôi; thực tế, nó là một giọt sương. Nó có thể sống sót được bao lâu? Một cơn gió thoảng nhẹ qua và giọt sương sẽ tan biến trong cát bụi. Chỉ một tia mặt trời và giọt sương sẽ bay hơi... Giống như viên ngọc sương, Giống như nước đựng trong lòng tay ông.
Hay nó giống như khi bạn cố gắng giữ nước trong bàn tay bạn: bàn tay tràn đầy nước nhưng không mấy chốc nước bắt đầu lọt qua kẽ ngón tay bạn. Thậm chí không đến một khoảnh khắc trôi qua và tay bạn trống rỗng. Khi bạn cảm thấy rằng mọi thứ được đạt tới, tay bạn đã bắt đầu trở thành trống rỗng.
Nhìn sâu vào cái nhất thời này đi - đó là bước đầu tiên hướng tới nhìn vào cái vĩnh hằng. Người đã nhận ra cái nhất thời đã tìm ra tiêu chí để nhận ra cái vĩnh hằng. Người đã không nhận ra cái nhất thời sẽ không bao giờ có thể nhận ra cái vĩnh hằng.
Bạn phải học việc nhận ra cái nhất thời. Nhìn sâu vào mọi cái tới và đi, cái tồn tại và biến mất, cái biểu hiện và tan biến. Đoá hoa nở vào buổi sáng và tàn đi vào buổi tối. Nhìn cẩn thận vào cái nhất thời này: bây giờ có cái đẹp, ngày mai nó sẽ không có đó. Tuổi thanh niên vừa mới có đó và nó qua rồi. Dần dần, dần dần một điều sẽ trở nên rõ ràng với những người nhìn cẩn thận vào cái nhất thời - rằng thật điên khùng mà đi tìm chân lí ở đó. Làm sao có thể có chân lí trong cái mà không kéo dài được? Định nghĩa về chân lí là cái bao giờ cũng có đó. Định nghĩa về chân lí là luồng chảy thường hằng, không phá huỷ được. Không cái gì có thể xảy ra cho nó. Nó bao giờ cũng là như nó luôn thế, không thay đổi. Không thể có sự ngắt quãng trong tính thường hằng của nó. Nhưng để biết điều này, trước hết bạn phải nhìn sâu vào vào cái nhất thời. Bằng việc nhận ra cái nhất thời, dần dần, dần dần việc nhận ra cái vĩnh hằng sẽ bắt đầu nảy sinh. Thấy cái vô tích sự, dần dần, dần dần bạn sẽ bắt đầu có thoáng nhìn về ý nghĩa. Thấy cái sai, bạn sẽ nhận ra cái đúng. Không có cách khác.
Và nhớ một điều nữa, bởi vì nó thường hay bị hiểu lầm. Khi tôi nói rằng thế giới này là nhất thời, đừng có quá nhanh nhẩu đồng ý với điều đó. Hay khi Sahajo nói: “Trong giấc mơ, trong một khoảnh khắc, năm mươi năm có thể trôi qua. Khi mở mắt ra đấy tất cả là giả tạm; việc sống trong thân thể cũng vậy.” Đừng ngay lập tức đồng ý bởi vì người đồng ý với điều đó ngay lập tức sẽ không có kinh nghiệm của riêng người đó. Khi nó là kinh nghiệm riêng của bạn, chỉ thế thì nó sẽ đưa bạn hướng tới chân lí. Không cái gì có thể xảy ra bằng kinh nghiệm vay mượn.
Theo một cách nào đó, bạn phải đã nghe nói rằng thế giới này là nhất thời, nhưng điều đó không giúp cho bạn biết cái gì về tính vĩnh hằng của chân lí. Bạn đã không thấy cái nhất thời, bạn mới chỉ nghe thấy nó. Bạn đã không nhận ra nó, bạn đã tin nó. Ai đó khác đã nói về nó, nó là vay mượn, cũ rích. Kinh sách nói điều đó, các hiền nhân nói điều đó, nhưng nó đã không tới qua kinh nghiệm riêng của bạn. Nó không phải là kinh nghiệm trưởng thành. Bạn đã không biết nó bởi việc tự mình trải qua kinh nghiệm, bạn đã giả định nó. Không ai biết chân lí qua giả định. Việc biết là kinh nghiệm. Với niềm tin, nhiều nhất dốt nát của bạn sẽ được che phủ; nó sẽ không biến mất.
Thế giới giống như ngôi sao mai cuối cùng.
Sahajo nói: Nó đang tan biến đi nhanh chóng
Giống như viên ngọc sương,
Giống như nước đựng trong lòng tay ông.
Từ lâu đài bằng khói
Tâm trí tạo ra vương quốc của nó:
Nó tất cả đều là bóng ma.
Sahajo nói: Nó không bao giờ có thể thực.
Nó toàn là trò chơi của tâm trí - Từ lâu đài bằng khói - dường như ai đó làm ra lâu đài bằng khói. Đôi khi bạn có thể thấy mây trên trời tạo thành nhiều hình mẫu và hình dạng. Chúng có thể lấy biết bao nhiêu hình thù. Đôi khi dường như là một phần đám mây trở thành con voi, nhưng tiếp tục quan sát cẩn thận: bạn khó mà thấy nó trước khi con voi đã tan tác. Con voi đám mây tồn tại được bao lâu? Đôi khi dường như là một lâu đài đã được hình thành trong mây, một lâu đài lớn, nhưng ngay khi bạn nhìn vào nó lâu đài đang tan biến đi.
Từ lâu đài bằng khói tâm trí tạo ra vương quốc của nó. Mọi vương quốc này của tâm trí đều là mơ; chúng là tưởng tượng và khao khát, ham muốn của tâm trí - chúng tất cả đều là lâu đài khói.
Sahajo đã dùng những biểu tượng rất tươi tắn, duy nhất. Chúng là những biểu tượng trinh nguyên. Chúng không phải là những biểu tượng đã quen dùng. Cô ấy phải đã lựa chọn chúng từ hiểu biết riêng của mình. Cô ấy không phải là nhà thơ, cô ấy là nhà huyền môn. Cô ấy không trích dẫn thơ, bản thân cô ấy là thơ ca. Cô ấy không liên quan gì tới lời; điều cô ấy đã biết trong im lặng và trống rỗng nổi lên hướng về bạn dựa trên sự hỗ trợ của lời. Bản thân lời giống như thuyền giấy: trong chúng cô ấy đã gửi cho bạn kinh nghiệm về cái trống rỗng. Lời là sứ giả, chúng là nhân viên bưu điện. Không phải là vấn đề tô điểm cho chúng, các biểu tượng này là các biểu tượng trinh nguyên.
Từ lâu đài bằng khói... người đã thấy những ảo tưởng này của tâm trí đã thấy rằng chúng là khói cả. Biết bao nhiêu trò chơi tâm trí đã dựng lên! Làm sao nó giả định cái không có đó, làm sao nó quên cái đang có đó. Và nó đã bị thất bại mọi lần mà nó vẫn không tỉnh dậy. Bất kì cái gì bạn đã từng ham muốn bạn đều không đạt được nó, nhưng dầu vậy bạn vẫn không thể thức dậy. Điều ấy thật đáng ngạc nhiên. Bạn vừa mới bắt đầu thức dậy và tâm trí liền tạo ra một lâu đài mới. Nó nói, “Cái cũ đã chứng tỏ là sai rồi, không nghĩ về nó nữa. Chính là tại người khác đã không cho nó xảy ra; mình có nhiều kẻ thù. Tình huống không thuận lợi. Vận may chưa tới với mình. Mình chưa làm đủ nỗ lực - đó là lí do tại sao mình không thu được điều mình muốn.”
Tâm trí chưa bao giờ nói với bạn rằng chính bản chất của ham muốn là thất bại. Tâm trí nêu cho bạn lí do và bảo bạn rằng bạn thất bại bởi vì các lí do đó: “Nếu mình đã cố gắng toàn bộ, thế thì mình chắc đã thành công. Nhưng mình đã không làm nỗ lực này, mình đã không ráng sức cho đủ, kẻ cạnh tranh mình tinh ranh hơn, láu lỉnh hơn. Mình là người đơn giản: mình cũng phải tinh ranh lên.” Tâm trí sẽ tìm ra cả nghìn lẻ một cớ cho thất bại của bạn. Nhưng nó không để cho bạn thấy một điều - rằng bản chất của ham muốn là thất bại, rằng ham muốn chưa bao giờ được hoàn thành. Nó cho bạn cái cớ. Nó nói, “Đừng phạm phải cùng lỗi lần này lần sau. Lần sau, khi mình tranh đua, thế thì tự chuẩn bị tốt hơn.”
Nhưng không ai thành công cả. Alexanders và Napoleon cũng đã rời bỏ thế giới này với bàn tay trắng. Người giầu cũng chết nghèo. Người ngồi trên ngai vàng cao xa và ở vị trí cao xa cũng là kẻ ăn mày ở bên trong. Mọi người trở thành các học giả lớn, họ biết nhiều, vậy mà bóng tối bên trong họ không biến mất. Điều đó giống như câu ngạn ngữ: Bóng tối dưới cây đèn.
Từ lâu đài bằng khói
Tâm trí tạo ra vương quốc của nó:
Nó tất cả đều là bóng ma.
Sahajo nói: Nó không bao giờ có thể thực.
Hệt như ai đó thấy trăng trong hồ, trăng là thực, nhưng trăng trong hồ không thực. Hay khi bạn thấy phản xạ của chính mình trong gương - phản xạ trong gương có thể trông đẹp vô cùng, dầu vậy nó không thật. Nó tất cả đều là bóng ma... và như cái bóng... Nó không bao giờ có thể thực. Chân lí không bao giờ là cái bóng cả - thế giới là cái bóng của chân lí. Bất kì khi nào bạn tìm thấy cái gì đó mà không thực nhưng có vẻ như là thực, điều đó có nghĩa là nó chỉ là cái bóng. Bạn đang chạy và cái bóng của bạn đang chạy theo bạn. Nếu tôi cố bắt lấy bóng của bạn thế thì tôi sẽ không thể nào bắt được bạn, mặc dầu điều ngược đúng: nếu tôi bắt lấy bạn, thế thì cái bóng của bạn cũng sẽ bị bắt.
Tôi đã nghe: Một đứa nhỏ đang chơi trong sân. Nó đang cố gắng bắt lấy bóng của nó. Lúc đó có thể là buổi sáng có mặt trời trong ngày đông - nó bò và cố bắt lấy bóng của nó. Một fakir đang đứng trước cửa xin ăn và ông ta bắt đầu quan sát. Đứa trẻ đang cố bắt lấy cái bóng của nó nhưng nó không thể nào làm được, bởi vì bất kì khi nào nó di chuyển cái bóng cũng di chuyển theo. Thế rồi nó di chuyển với quyết tâm nhiều hơn, nhưng cái bóng cũng vẫn di chuyển theo. Đứa trẻ bắt đầu khóc, nước mắt lã chã rơi từ mắt nó. Nó cảm thấy thất bại. Mẹ nó cố gắng an ủi nó, rằng không thể nào bắt được cái bóng. Nhưng làm sao đứa trẻ hiểu nổi về cái bóng hay ảo tưởng? Đứa trẻ nói, “Con muốn bắt nó cơ! Nếu con không bắt được nó thế thì mẹ bắt nó cho con đi, nhưng con muốn nó.” Đứa trẻ này không sẵn sàng chịu thất bại.
Ông fakir quan sát tất cả những điều này, đứng ở cửa. Ông ta đi vào và bảo bà mẹ đợi đấy. Ông ta nắm tay đứa trẻ và đặt tay nó lên đầu nó và nói, “Thấy chưa?” Ngay khi tay nó đặt lên đầu đưa trẻ thấy rằng điều đó cũng trong cái bóng. Đứa trẻ bắt đầu cười khanh khách thích chí bởi vì nó đã bắt được cái bóng của mình.
Không có cách khác để bắt được cái bóng. Nếu bạn muốn bắt cái bóng, nó chỉ có thể bị bắt ở bên trong bản thân cái bóng. Các chính khách lớn, những người giầu có, những người được kính trọng - những người nghĩ rằng họ đã bắt giữ được cái gì đó trên thế giới tất cả đều đơn giản đặt tay họ lên đầu họ. Họ dường như đã bắt được cái bóng. Những người ở Delhi, ở London, ở Washington đều là những người đang ngồi đó với tay để lên đầu và cái bóng dường như đã bị bắt. Những người đã không thể bắt được nó đang kêu khóc - bởi vì họ đã cố gắng bắt bóng một cách trực tiếp. Nhưng cả hai đều hành động như người ngốc. Việc khóc lóc của đứa trẻ này là ngốc nghếch. Thế rồi nó cười to, nó hạnh phúc rằng nó đã bắt được cái bóng, nó đã thắng - điều đó nữa cũng ngốc tương đương. Nhưng cái ngốc thứ hai này còn nguy hiểm hơn cái ngốc thứ nhất, bởi vì trong cái ngốc thứ nhất vẫn còn một loại thực tế, nhưng trong cái ngốc thứ hai không có gì.
Nó tất cả đều là bóng ma, Sahajo nói: Nó không bao giờ có thể thực. Cái bóng cũng có một loại tồn tại của riêng nó. Sau rốt, nó có đó. Nhưng nó là cái bóng, không phải là thực tại - đừng trở nên bị dính líu với cố gắng bắt nó.
Tôi đã nghe rằng trong ngày nhịn ăn lễ Ramadan, Mulla Nasruddin đã đi dọc theo một con đường yên tĩnh. Người Mô ha mét giáo lo âu chờ đợi mặt trăng tới; khi họ thấy mặt trăng việc nhịn ăn sẽ kết thúc. Anh ta dừng gần một chiếc giếng để uống nước và thả gầu xuống giếng, bởi vì anh ta nghĩ rằng mặt trăng ở trong giếng. Anh ta nói, “Lạy trời! Đây mới là vấn đề! Mọi người cứ nhìn lên trời, còn mặt trăng bị mắc kẹt ở đây trong cái giếng này. Nếu không ai kéo nó lên thế thì cả triệu người sẽ chết đói.” Cho nên anh ta quên mất ý tưởng về việc uống nước và anh ta cố gắng kéo mặt trăng lên khỏi giếng bằng chiếc gầu. Đấy là một công việc rất khó bởi vì ngay khi nước bị khuấy động mặt trăng bắt đầu tan vỡ.
Cũng hệt điều đó xảy ra cho thế giới này: nếu bạn cố gắng bắt giữ mọi thứ, chúng bắt đầu tán loạn. Nếu bạn cố gắng giữ chúng trong nắm tay bạn, chúng tỏ ra giống như thuỷ ngân, chúng tuột khỏi tay bạn.
Anh ta cố gắng vất vả, anh ta thử hết cách này đến cách khác, đưa chiếc gầu rất cẩn thận. Cuối cùng, một khoảnh khắc tới khi cái bóng của mặt trăng xuất hiện trong nước của chiếc gầu của anh ta. Anh ta nói, “Bây giờ mình đã làm được rồi, mình đã làm một hành động đức hạnh. Bây giờ mình sẽ kéo nó ra.”
Anh ta cố gắng vất vả để kéo nó lên nhưng trong cái chao đảo của việc cố gắng kéo mặt trăng lên, sợi dây thừng mắc vào một tảng đá dưới giếng. Anh ta kéo thật mạnh, mà nó không chịu lên. Anh ta nghĩ, “Có vẻ như nó nặng quá. Mình không thể nào làm một mình được, nhưng dường như không có ai ở xung quanh đây cả. Mình phải làm việc này một mình, mình phải dùng thêm sức mạnh.” Anh ta kéo mạnh hơn. Khi anh ta kéo mạnh hơn chiếc dây đứt tung - như thường xảy ra. Khi dây đứt anh ta ngã nhào lên tảng đá lát gần giếng. Đầu anh ta đập mạnh vào đá và khi anh ta mở mắt ra... anh ta thấy mặt trăng trên trời. Anh ta nói với mặt trăng, “Được rồi. Cho dù ta có bị thương, ít nhất mi cũng được tự do và mạng sống của hàng triệu người đã được cứu.”
Nhưng có rất ít người được may mắn như thế này - để cho dây thừng bị mắc vào đá, bị ngã đập đầu xuống đất và mắt mở ra hướng lên trời nơi họ sẽ thấy mặt trăng thực.
Chỉ khi bạn hoàn toàn thất bại trong cuộc sống bạn sẽ quay và bắt đầu nhìn tới điều thiêng liêng. Khi cuộc sống là thất bại hoàn toàn và bạn ngã sóng xoài trên đất, chỉ thế thì mắt bạn mới hướng lên trời. Bằng không bạn sẽ tiếp tục bắt giữ mặt trăng trong giếng. Khi bạn không thể bắt được nó, bạn nghĩ rằng mọi điều bạn cần là thêm một chút ít kĩ năng nữa.
Nhưng phản xạ của mặt trăng là không thực, vậy mà chúng dường như là thực. Đó là lí do tại sao các nhà tiên tri đã gọi thế giới này là maya, ảo tưởng. Điều thiêng liêng là thực tại còn thế giới này là phản xạ của nó. Phản xạ này của chân lí được gọi là maya, ảo tưởng.
Từ lâu đài bằng khói
Tâm trí tạo ra vương quốc của nó:
Nó tất cả đều là bóng ma.
Sahajo nói: Nó không bao giờ có thể thực.
Thượng đế là một, có hay không thuộc tính -
Tôi đã nghĩ, đã hiểu và đã thấy.
Thầy tôi đã cho tôi đôi mắt,
Và bằng việc thấy tôi được thuyết phục.
Thượng đế là một, có hay không thuộc tính - Tôi đã nghĩ, đã hiểu và đã thấy. Nhưng chừng nào bước đầu tiên của cuộc hành trình hướng tới điều thiêng liêng còn chưa được thực hiện, Thượng đế vẫn chỉ là một từ. Chừng nào mà thế giới này còn chưa trở thành vô tích sự, điều thiêng liêng không thể trở thành có ý nghĩa được.
Hai ngày trước đây một người bạn đã ở cùng tôi, người này đem theo cả đứa con tới. Anh ta nói, “Con tôi rất thông minh. Và điều tốt là nó đã nhận tính chất sannyas, nhưng cả hai điều này cần phải được chăm nom tới - thế giới và tính chất sannyas. Nó nên thành công trong thế giới này và cũng thành công trong thế giới kia.” Trên bề mặt điều ấy dường như là hoàn toàn đúng, rằng bạn nên thành công trong thế giới này và cũng thành công trong thế giới kia - nhưng chừng nào bạn vẫn thấy thành công trong thế giới này là thành công, bạn sẽ không tìm kiếm thành công trong thế giới kia.
Tôi đồng ý rằng không cần phải thoát li khỏi thế giới. Bạn có thể là một sannyasin trong khi vẫn sống toàn bộ trong thế giới. Nhưng khi bạn sống trong thế giới bạn phải nhận biết về một điều: rằng thành công trong thế giới này là không thành công. Nó là mặt trăng trong giếng - sự phản xạ. Người ta phải sống trong thế giới này và là một sannyassin, không có cách nào khác. Bạn còn có thể sống ở đâu được nữa? Thế giới này là ở mọi nơi. Mọi nơi đều là sự bành trướng của thế giới này. Bạn sẽ trốn thoát đi đâu? Không có chỗ nào để trốn thoát đi cả. Nhưng vâng, có chỗ để thức dậy.
Thức dậy có nghĩa là bạn có thể thấy rằng đuổi theo mọi thứ của thế giới này là không có mặt trăng thực. Nếu bạn phải ở trong thế giới, thế thì ở trong nó đi. Nếu đám đông đang đi đằng kia thế thì ở cùng với đám đông đi, không có gì sai trong đó cả. Bởi vì phỏng có ích gì trong việc đảo lộn đám đông một cách không cần thiết? Với họ, họ nghĩ rằng thành công là có thể trong thế giới. Đây là điều mà vị fakir kia đã làm bằng cách đặt tay đứa trẻ lên đầu nó. Nó là một đứa trẻ - làm cho nó khóc một cách không cần thiết phỏng có ích gì? Nó sung sướng cố bắt lấy cái bóng nó. Cho nên vị fakir giở thủ đoạn: ông ta đặt tay đứa trẻ lên đầu nó và cái bóng bị bắt.
Nhưng bạn phải thức dậy với chân lí rằng thành công trong thế giới này không phải là thành công chút nào. Tất cả cái gọi là thành công này đều là nỗ lực phí hoài. Tất cả cái gọi là thành công này đều là việc phung phí thời gian. Tất cả những thành công này có nghĩa là bạn bán bản thân bạn để mua về rác rưởi. Rồi một ngày nào đó bạn sẽ thấy rằng bạn đã mua và cứ mua cả chợ về nhà bạn, nhưng bạn đã mất hút đâu đó trong chợ. Mọi thứ khác đã được cứu chỉ trừ bạn.
Thượng đế là một, có hay không thuộc tính -
Tôi đã nghĩ, đã hiểu và đã thấy.
Nếu những cái nhất thời của thế giới này trở nên rõ ràng với bạn thế thì mắt bạn hướng về Thượng đế và mở ra. Và mắt này có thể thấy rằng có hay không có thuộc tính, Thượng đế là một. Bạn có thể thấy rằng có hay không có thuộc tính, Thượng đế là một. Thượng đế của người Hindu, người Mô ha mét giáo, người Ki tô giáo đều được thấy như là một. Những người thấy các thượng đế khác nhau, biết rằng mắt của họ vẫn còn chưa nhìn về điều thiêng liêng đâu - vì Thượng đế là một. Mặt trăng là một, giếng có hàng nghìn chiếc. Và trong hàng nghìn chiếc giếng có hàng nghìn loại phản xạ. Một giếng là giếng Mô ha mét giáo, sự phản xạ trong nó mang tính Mô ha mét giáo. Một giếng là giếng Hindu, sự phản xạ trong nó mang tính Hindu. Trong một giếng có nước bẩn, trong một giếng có nước sạch, cho nên cũng có những khác biệt trong phản xạ. Một giếng được xây dựng bằng đá cẩm thạch, một giếng là bùn bình thường và không có đá trong nó. Những sự khác biệt này có thể tạo ra thay đổi trong việc phản xạ. Nhưng cái được phản xạ bao giờ cũng là một. Việc phản xạ có thể có nhiều, nhưng chân lí là một.
Thượng đế là một, có hay không thuộc tính. Bạn có thể gọi nó là sagun, có thuộc tính, bởi vì tất cả đều là thuộc tính của nó; bạn có thể gọi nó là nirgun, không thuộc tính, bởi vì cái có mọi thuộc tính thì không có thuộc tính nào. Cái một mà có mọi thuộc tính là ở ngoài các thuộc tính. Bạn có thể nói rằng tay ngài tràn đầy, bạn có thể nói rằng tay ngài trống rỗng - bởi vì tràn đầy và trống rỗng là hai tên cho cùng một trạng thái. Nếu bạn muốn, thấy ngài trong mọi mầu lục, nhận ra ngài trong mọi đoá hoa, thấy ngài trong mọi vì sao. Và nếu bạn muốn, tìm sự tồn tại vô dạng ẩn kín đằng sau mọi mầu lục, sau các vì sao và mặt trăng, sau núi non. Nếu bạn muốn, tìm ngài trong biểu hiện của ngài hay trong cái tinh tuý của ngài. Nếu bạn thấy cái tinh tuý của ngài, ngài không có thuộc tính; nếu bạn thấy cách diễn đạt của ngài, ngài có thuộc tính. Nếu bạn thấy quần áo của ngài chúng rất đáng yêu, nhiều mầu sắc. Nếu bạn đi sâu hơn vào trong ngài mọi mầu sắc biến mất, có chân không tối thượng.
Thượng đế là một, có hay không thuộc tính - Tôi đã nghĩ, đã hiểu và đã thấy. Nhưng kinh nghiệm này đạt được bởi việc thấy. Nếu nó có thể tìm được bằng một mình việc nghĩ thế thì các nhà tư tưởng chắc đã tìm thấy nó rồi. Nó không đạt được qua một mình việc nghĩ. Nhiều người liên tục nghĩ về Thượng đế, nhưng việc nghĩ của họ chằng đem họ tới đâu cả bởi vì suy nghĩ chỉ là mạng nhện của tâm trí. Cái được tâm trí nắm chỉ là thế giới này. Nỗ lực để nắm bắt điều thiêng liêng bằng suy nghĩ cũng hệt như là ai đó cố gắng bắt giữ cái bóng và không thể nào bắt được nó.
Ý nghĩ bản thân nó là cái bóng. Làm sao bạn có thể bắt được chân lí bằng cái bóng? Tâm trí phải trống rỗng đi, không có ý nghĩ nữa - đây là nghĩa của thiền. Không ai đã bao giờ kinh nghiệm được điều tối thượng bằng suy nghĩ. Điều tối thượng được biết tới qua thiền. Thiền là trạng thái vô ý nghĩ. Khi mọi chuyển động của tâm trí bạn dừng lại và không ý nghĩ nào nảy sinh, khi hồ tuyệt đối im lặng, im lặng sâu lắng, thế thì bạn được nối với điều tối thượng.
Tôi đã nghĩ, đã hiểu và đã thấy. Sahajo đang dùng ba từ: thấy, hiểu và nghĩ. Người nào đó đang cố biết chân lí bằng suy nghĩ. Họ không thể biết nó được. Họ trở thành các triết gia, họ tạo ra triết học, họ thảo luận về những triết lí lớn. Nếu bạn nói với họ về suy nghĩ thế thì họ sẽ trải rộng cái lưới ý nghĩ to lớn ra, nhưng trong lưới ý nghĩ của họ con cá của điều thiêng liêng không bao giờ bị bắt. Dù cái lưới đó có lớn đến đâu, con cá không bao giờ bị bắt.
Thế rồi có một số người cố kinh nghiệm nó bằng việc hiểu. Việc hiểu tới với kinh nghiệm về cuộc sống. Cuộc sống có kinh nghiệm vô hạn và điều tinh tuý của mọi kinh nghiệm là hiểu biết. Thanh niên muốn tìm Thượng đế bằng suy nghĩ, người già muốn tìm Thượng đế bằng hiểu biết. Ông ta nói, “Chúng tôi đã thấy thế giới” - nhưng thế giới là cái bóng. Làm sao kinh nghiệm về cái bóng đưa bạn tới điều tối thượng được? Người ta phải tự do với suy nghĩ, người ta cũng phải tự do với hiểu biết. Ý nghĩ được nuôi dưỡng bằng giáo dục của bạn. Đó là lí do tại sao khi ai đó từ đại học tới, anh ta đầy những ý nghĩ lớn lao. Người già cười anh ta. Họ nói, “Đợt một chút đi. Nhìn thế giới, thế thì anh sẽ biết.”
Tôi đã nghe: Một người được bằng tiến sĩ về nông nghiệp tại Đại học Delhi. Xem như kì thi cuối cùng cho bằng cấp của mình, anh ta được phái tới một làng để làm một báo cáo đầy đủ về một nông trại để kiểm tra xem liệu tri thức của anh ta có tính thực tế hay không. Anh ta làm một báo cáo về mọi điều: bao nhiêu cây cối, qui mô mùa vụ, cánh đồng rộng bao nhiêu héc ta, qui mô mùa vụ theo số hec ta cánh đồng đã tạo ra, bao nhiêu hạt giống đã gieo, mùa màng được bán như thế nào. Anh ta làm mọi tính toán, nhưng anh ta không thể nào hiểu được một điều. Người nông dân cười vào cách anh ta làm việc và không giúp anh ta chút gì. Ông ta nói, “Anh là người có thông tin tốt đấy.”
Thế rồi nhìn vào một cây anh chàng sinh viên nói, “Cái cây này đang ở trong trạng thái mà tôi cho rằng nó sẽ không cho táo năm nay.”
Người nông dân đáp, “Tôi cũng chắc chắn rằng nó sẽ không cho táo bởi vì đây không phải là cây táo.” Theo cách này người nông dân cười vào cái thống kê của anh chàng này.
Có một con dê trong một cái lều, một con dê già với râu dài. Chàng thanh niên chưa hề bước chân ra khỏi cổng trường đại học. Anh ta đã học nông nghiệp qua sách vở, anh ta đã dành cả đời trong thư viện đại học cho nên anh ta không thể nào nhận ra con vật này. Mà nó còn có râu nữa! Anh ta hỏi, “Ai đây thế này?”
Ông nông dân già nói, “Anh nói cho tôi nó là ai đi. Anh là người thông thái. Tôi chỉ là một nông dân nghèo, làm sao tôi biết được?”
Chàng sinh viên gửi một bức điện về trường đại học và trong đó anh ta viết một mô tả về con dê này: nó già, nó có râu; xin nói cho tôi biết nó là ai.
Thông tin tới, “Cậu ngốc, nó là ông nông dân! Cậu thậm chí không có khả năng nhận ra ông ta.”
Nó già, nó có râu... vậy người giáo vụ cứ nghĩ rằng đấy phải là người nông dân. Ông ta nghĩ rằng cậu sinh viên này thậm chí không có khả năng nhận ra được người nông dân - thế thì quá lắm!
Một cuộc sống được sống qua sách vở, một cuộc sống là từ kinh nghiệm về việc sống. Từ sách vở bạn có thể thu được ý tưởng, không phải là hiểu biết. Hiểu biết thu được bằng những kinh nghiệm tốt và xấu về cuộc sống. Đó là sự khác biệt giữa tri thức và trí huệ, giữa suy nghĩ và hiểu biết. Nhưng Sahajo nói rằng nếu điều tối thượng có thể được biết tới qua một mình hiểu biết thôi, thế thì mọi người già chắc đã biết nó rồi. Nếu điều tối thượng có thể được biết tới bằng suy nghĩ, thế thì mọi nhà tư tưởng chắc đã biết nó rồi. Nhưng người già dường như không đạt được tới nó, những nhà tư tưởng dường như không đạt được tới nó, người trẻ dường như không đạt được tới nó. Thế thì điều thứ ba được cần tới.
“Tôi đã thấy, bằng suy nghĩ và hiểu biết.” Suy nghĩ đã được dùng, hiểu biết đã được dùng, nhưng cả hai đều phục vụ chủ định của chúng cho việc thấy này.
Tôi đã nghĩ, đã hiểu và đã thấy.
Thầy tôi đã cho tôi đôi mắt,
Và bằng việc thấy tôi được thuyết phục.
Thầy không cho bạn ý nghĩ. Hay nếu thầy cho ý nghĩ, thầy cho chúng để giúp bạn mở mắt nhắm của bạn ra. Thầy cũng không cho bạn hiểu biết - nhưng nếu thầy cho hiểu biết, thầy cho nó để hỗ trợ bạn để cho bạn có thể mở mắt mình ra. Điểm thực chất là mở mắt bạn.
Con mắt thấy thế giới là khác con mắt thấy điều thiêng liêng. Cho nên dù bạn có thể trở nên nói giỏi trong hiểu và biết thế giới, bạn sẽ không có khả năng biết Thượng đế với cùng con mắt này. Nó là chiều hướng khác. Và cái gì đó có thể xảy ra chỉ nếu mắt bạn mở.
Làm sao bạn có thể mở được mắt bạn? Giúp đỡ mà thế giới có thể cho chỉ là giúp đỡ phủ định. Nếu bạn không thành công trong thế giới này, bạn có thể biết tới thống khổ, bạn có thể biết tới khổ, và qua khổ, đau đớn và sai lầm này mà khao khát có thể nảy sinh trong tâm trí bạn để tìm kiếm cái ở bên ngoài thế giới này. Chỉ giúp đỡ ngần này có thể được nhận được từ thế giới.
Bằng suy nghĩ bạn có thể hoài nghi về thế giới, nhưng bạn sẽ không tìm thấy tin cậy vào điều thiêng liêng. Nhưng nếu bạn hoài nghi thế giới, thế thì sẽ dễ dàng để đi tới tin cậy trong điều thiêng liêng, nó sẽ là tự nhiên. Ít nhất bạn tự do với điều không thực chất cho nên có một không gian cho nghĩa. Giống như ai đó muốn tạo ra vườn: trước hết anh ta nhổ cỏ và cỏ dại, nhổ bật gốc lên. Thế rồi anh ta đào xới sâu xuống đất và vứt bỏ những rễ vô giá trị. Theo cách này cái vườn vẫn chưa được tạo ra đâu, nhưng bây giờ có thể làm ra cái vườn. Nếu bạn để cho cỏ dại còn đó và thế rồi cố gắng làm vườn, nó sẽ bị phá huỷ bởi vì cỏ dại mọc nhanh hơn. Cái sai bao giờ cũng che lấp cái đúng. Nếu bạn bỏ lại cỏ và cỏ dại và bạn gieo hạt hoa nào đó, thế thì bạn sẽ không bao giờ có thể biết được liệu hạt mầm hoa đã được gieo chưa.
Một người mua ngôi nhà ngay cạnh nhà của Mulla Nasruddin. Vườn của Nasruddin rất đẹp, cho nên người này nghĩ anh ta cũng thích làm vườn. Anh ta nói với Nasruddin, “Tôi đã gieo một vài hạt giống và bây giờ hạt giống đã mọc lên, nhưng cỏ cũng mọc theo. Làm sao tôi có thể nhận ra được cái nào là cái nào, cái nào là cỏ và cái nào là hoa mọc ra?”
Nasruddin nói, “Rất đơn giản - nhổ hết cả hai loại đi. Bất kì cái gì mọc ra là cỏ, còn bất kì cái gì không mọc ra nữa, biết rằng đấy là thật, nó là hạt mầm. Người ta không cần gieo cỏ, nó mọc theo cách riêng của nó. Cho nên nhổ bật rễ cả hai lên, thế thì ông biết chắc chắn cái nào là cái nào.”
Nếu bạn muốn làm vườn thế thì việc chuẩn bị là phủ định: bạn phải nhổ hết cỏ lên, đào hết rễ và làm sạch đất. Nhưng vườn vẫn chưa sẵn đấy, đây mới chỉ là việc bắt đầu làm vườn. Bạn sẽ phải gieo hạt giống.
Suy nghĩ và hiểu biết có thể làm chừng này thôi - chúng có thể tạo ra hoài nghi về thế giới, có vậy thôi. Nhưng cho dù chừng này xảy ra, điều đó là may mắn rồi. Bởi vì chín mươi chín trong số một trăm người, ngay cả ngần này cũng không xảy ra. Thậm chí đôi khi dường như là hiểu biết dẫn người ta đi lạc lối. Không chỉ người trẻ, mà ngay cả người già cũng trở nên bị mắc vào trong thế giới. Trong người trẻ còn có chút ít cảm giác để nhận tính chất sannyas, trong người già thậm chí điều đó không còn lại. Với người già cái chết đang tới gần và với một lực lớn như thế ông ta nghĩ: “Vài ngày còn lại, mình phải tận hưởng chúng. Chỉ vài ngày còn lại... bây giờ sao phải bận tâm về Thượng đế và những điều như vậy làm gì? Mình sẽ nhìn vào điều đó lúc khác... cuộc đời mình đã trôi qua, cho nên với những ngày ít ỏi này mình phải tận hưởng cuộc sống thêm chút nữa.” Không có giới hạn nào cho cái ngu ngốc của cái gọi là những người khôn ngoan. Đôi khi thanh niên dám và đi trên con đường của tính chất sannyas; người già không thể thu được dũng cảm.
Đó là lí do tại sao bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng mọi sannyasin vĩ đại của thế giới đều trẻ tuổi khi họ rời bỏ gia đình mình. Phật và Mahavira đều trẻ - bạn đã bao giờ thấy một ông già trở thành sannyasin theo cùng cách như Phật và Mahavira đã làm chưa? Bạn sẽ không thể nào tìm ra được một cái tên. Người già trở thành có kinh nghiệm trong thế giới này đến mức kinh nghiệm của họ nhấn chìm họ.
Cho nên bạn không thể đạt được bằng suy nghĩ hay kinh nghiệm một mình. Cả việc suy nghĩ và kinh nghiệm về thế giới này đều vô dụng. Vậy mà điều này có thể xảy ra: bằng cách dùng cả hai, bạn có thể đi tới biết rằng có một con mắt bên trong bạn mà vẫn còn nhắm, rằng có con mắt thứ ba vẫn còn nhắm. Nếu nó mở ra, thế thì có lẽ bạn có thể có thoáng nhìn về điều thiêng liêng, có lẽ bạn có thể có thoáng nhìn về chân lí.
Thầy tôi đã cho tôi đôi mắt. Thầy không cho bạn ý nghĩ. Thầy cũng không cho bạn hiểu biết. Thầy cho bạn năng lực để thấy, thầy cho bạn đôi mắt. Làm sao thầy làm được việc này? Điều này có chút ít tinh tế và tế nhị.
Làm sao thầy cho bạn đôi mắt? Trước hết thầy cho bạn cơ hội để thấy qua mắt thầy. Cũng hệt như nếu ai đó nâng một đứa nhỏ trên vai mình và nói, “Thấy không?” Đứa trẻ có thể thấy xa bằng việc ngồi trên vai ai đó, và khi đứa trẻ đang đứng trên mặt đất, nó không thể trông thấy gì. Khi nó ngồi trên vai ai đó nó có thể thấy xa. Thầy trước hết nâng bạn lên trên vai thầy và cho bạn vài cơ hội để thấy qua mắt thầy. Thầy để mắt thầy trước bạn và nói, “Nhìn qua mắt ta một chút.”
Chẳng hạn, như tôi nói với bạn, tôi không nói để làm cho bạn nghĩ. Điều gì có thể xảy ra bởi việc làm cho bạn nghĩ? - bạn đã có quá nhiều ý nghĩ rồi. Trong khi tôi nói với bạn là tôi đang cho bạn một cơ hội để thấy qua mắt tôi. Đây cũng là một cách nhìn, người ta có thể thấy theo cách này. Nếu bạn có thoáng nhìn qua mắt tôi, thế thì nó sẽ tạo ra khao khát trong mắt bạn. Nếu một khi bạn có thể thấy qua mắt ai đó thế thì... Mắt người khác không phải là mắt của riêng bạn, nhưng việc nhận ra có thể xảy ra qua mắt người khác cũng có thể là sự bắt đầu việc mở mắt riêng của bạn.
Hiểu điều đó theo cách này: nó giống như tia chớp trong đêm tối. Có một tia chớp loé và trong khoảnh khắc đó bạn thấy mọi thứ - con đường, cây cối, núi non. Thế rồi trời lại trở thành tối. Nhưng bây giờ bạn biết rằng con đường có đó. Bạn sẽ vẫn phải dò dẫm trong bóng tối, bạn sẽ vẫn phải tìm kiếm và nỗi sợ ngã vẫn sẽ có đó, nhưng bây giờ ít nhất bạn chắc chắn rằng có con đường. Bằng việc nhìn qua mắt của thầy, tin cậy nảy sinh rằng có con đường. Bằng việc sống gần thầy dần dần, dần dần hương thơm của thầy sẽ rót đầy mũi bạn và bạn sẽ bắt đầu cảm thấy rằng điều đã xảy ra cho thầy cũng có thể xảy ra cho bạn. Bất kì cái gì là có thể cho một người là có thể cho mọi người.
Ở gần Phật hay Mahavira hay Krishna, phúc lạc của cuộc sống của họ sẽ trở thành lây lan. Thậm chí đôi khi không có tri thức của bạn họ sẽ làm rung chuyển bạn, họ sẽ đánh thức bạn dậy. Và nếu bạn có thể mở mắt ra một chút, bạn sẽ bắt đầu có tin cậy. Một đứa trẻ nhỏ bước đi khi mẹ nó đưa tay ra giúp nó. Đứa nhỏ phải tập bước, nhưng bởi vì có sự giúp đỡ nó cảm thấy an tâm. Nó nghĩ, “Bây giờ mình sẽ không ngã, mẹ mình ở cạnh mình.” Nó sẽ vẫn ngã, nó sẽ ngã nhiều lần, nhưng mỗi lần nó đứng dậy sau khi ngã, cơ hội bị ngã của nó sẽ ít hơn. Và mẹ nó liên tục cam đoan với nó, “Bước đi con, đừng sợ. Con cũng có thể bước như mẹ bước.” Theo cùng cách đó, thầy đưa tay cho bạn. Thầy biết rằng khả năng còn đang ẩn kín trong bạn, chỉ một chút ít thực nghiệm là cần thiết. Có lẽ bạn đã trở nên sợ hãi. Trong nhiều, nhiều kiếp sống bạn đã không mở mắt để qua đó điều thiêng liêng được thấy. Có lẽ bạn đã quên mất nó. Có lẽ nếu ai đó nhắc bạn, bỗng nhiên... Bạn vẫn không thể nào nhớ được nó, nhưng ở gần ai đó, trong sự hiện diện của người ấy, đôi khi trung tâm bên trong bạn bị chạm vào. Việc liên tục chạm tới là cần thiết. Do đó satsang, hiện hữu trong sự hiện diện của thầy, là một quá trình liên tục.
Thầy tôi đã cho tôi đôi mắt,
Và bằng việc thấy tôi được thuyết phục.
Qua tâm trí chỉ hoài nghi có thể được biết tới. Ý nghĩ... ý nghĩ ... ý nghĩ... không cái gì là chắc chắn. Bạn sẽ thậm chí tìm thấy hoài nghi ẩn trong các ý nghĩ mà về chúng bạn là chắc chắn. Thường bạn nói, “Tôi chắc chắn, dứt khoát,” - điều bạn đang nói là ở chỗ bạn biết rằng bạn có hoài nghi về nó. Bạn sẵn sàng đánh nhau và giết người vì ý nghĩ của bạn. Điều đó nữa cũng là một chỉ dẫn rằng bạn không chắc chắn bên trong bạn.
Quyết tâm là vấn đề rất khác. Quyết tâm hiện hữu, nơi không có hoài nghi chút nào. Và hoài nghi chỉ biến mất khi ý nghĩ biến mất... Và bằng việc thấy tôi được thuyết phục... thế thì không có suy nghĩ, thế thì có việc thấy. Thế thì nó là darshan, việc thấy xảy ra. Thế thì bạn không nghĩ.
Chỉ người mù nghĩ rằng ánh sáng tồn tại. Người có mắt đơn giản thấy nó. Thầy tôi đã cho tôi đôi mắt, và bằng việc thấy tôi được thuyết phục. Và nơi có việc thấy có chắc chắn. Nơi có ý nghĩ, có lẫn lộn. Dòng suối không chắc chắn di chuyển đằng sau suy nghĩ. Việc thấy là cần thiết. Không ai có thể nghĩ về điều tối thượng. Bạn hoặc thấy điều tối thượng, hoặc bạn không thấy, không có vấn đề niềm tin. Đấy là vấn đề của darshan - của cảm nhận trực tiếp về điều tối thượng.
Sahajo nói: Điều thiêng liêng có nhiều chiều,
Nó là cái biểu hiện, nó là cái không biểu hiện;
Ngài là điều thấy được, ngài là điều không thấy được. Sahajo nói: Điều thiêng liêng có nhiều chiều... mọi chiều đều là của ngài vậy mà không chiều nào của ngài.
Trong bản tính của nó, nước và băng là một,
mặt trời và ánh mặt trời là một.
Đây là những phát biểu rất hay: Trong bản tính của nó, nước và băng là một. Có khác biệt nào giữa nước và băng không? Có khác biệt nào giữa nước và tuyết không? Không có khác biệt chút nào. Hay trong ... mặt trời và ánh mặt trời... có khác biệt gì giữa mặt trời và ánh mặt trời không? Theo cùng cách này, có khác biệt gì giữa điều thiêng liêng và sự sáng tạo của nó không? hay trong mặt trời và ánh mặt trời? Chỉ điều thiêng liêng tồn tại. Nó ở mọi nơi. Nó ở trong mặt trời, nó ở trong tia sáng mặt trời; tia sáng mặt trời là sự mở rộng của điều thiêng liêng. Vũ trụ bao la này mà bạn thấy chính là sự mở rộng của nó. Có tách biệt nào giữa đấng sáng tạo và sự sáng tạo không? Có tách biệt nào giữa vũ công và vũ điệu không? Có tách biệt nào giữa ca sĩ và bài ca không? Một đằng là biểu lộ, một đằng là không biểu lộ. Bài ca là biểu hiện bên ngoài, ca sĩ là ẩn kín; điệu vũ là biểu hiện bên ngoài, vũ công là ẩn kín. Sự sáng tạo là biểu lộ còn đấng sáng tạo là không biểu lộ - nhưng nó ẩn kín trong mọi nguyên tử!
Sahajo nói: Điều thiêng liêng có nhiều chiều,
Nó là cái biểu hiện, nó là cái không biểu hiện;
Trong bản tính của nó, nước và băng là một,
mặt trời và ánh mặt trời là một.
Nhờ ân huệ của thầy tôi, Charandas,
Mọi hoài nghi đã tan biến,
Mọi lời nói và biện luận đã tan biến,
Sahajo còn lại, tự nhiên
Nhờ ân huệ của thầy tôi, Charandas... Những người đã biết bao giờ cũng nói rằng họ đã không biết bởi nỗ lực của họ, nhưng qua ân huệ của thầy họ. Những người đã chứng ngộ đều hiểu nỗ lực của họ nhỏ bé làm sao - giọt nước đang cố gắng trở thành đại dương. Nếu như điều đó phải xảy ra chỉ bằng nỗ lực của bạn, thế thì nó sẽ không bao giờ xảy ra cả.
Hiểu một điều cho đúng: nếu bạn cố gắng để biết điều tối thượng chỉ bằng nỗ lực của bạn thế thì bạn sẽ không bao giờ biết nó. Cho dù bạn làm nỗ lực, bạn sẽ làm nỗ lực sai, bởi vì bạn sai. Cho dù bạn đi, bạn sẽ đi trên con đường sai. Bạn đầy những ham muốn sai, cho nên bất kì điều gì bạn làm cũng sẽ sai vì như bạn vậy bạn là sai. Làm sao điều đúng có thể xảy ra từ điều sai? Nếu điều đó là có thể rằng điều đúng có thể bắt nguồn từ điều sai, thế thì sẽ không cần phải tìm kiếm điều đúng nữa. Cho nên bất kì điều gì con người làm, anh ta sẽ không có khả năng biết tới chân lí chỉ qua việc làm của mình.
Vậy có hai cách thức. Điều đó có thể xảy ra nhờ ân huệ và phúc lành của điều thiêng liêng - nhưng bạn không biết điều thiêng liêng chút nào. Cho dù ân huệ tuôn trào xuống, bạn không biết cách dùng nó. Cho dù ngài thắp lên ngọn đèn trước bạn, bạn mù đến mức bạn sẽ bắt đầu đứng đó với đôi mắt nhắm. Nếu ngài có gõ cửa nhà bạn, thế thì bạn sẽ nói rằng đấy phải là tiếng gió thổi. Bạn sẽ không thể nào nhận ra ngài.
Ân huệ của Thượng đế đã tuôn trào lên bạn liên tục đấy, nhưng bạn không thể nhận ra điều đó, bạn không thể đón nhận nó. Bạn không thể thấy ngài theo cùng cách như cá không thể nào thấy được đại dương. Đây là lí do tại sao thầy trở thành có ý nghĩa đến thế trong việc tìm kiếm chân lí, bởi vì thầy là thấy được đối với bạn.
Theo một nghĩa nào đó, thầy là phép màu. Thầy là phép màu theo nghĩa rằng theo một cách nào đó thầy giống bạn, vậy mà thầy không giống bạn chút nào. Thượng đế hoàn toàn không giống bạn - không thể có chiếc cầu được. Ngài là không biểu lộ, bạn là biểu lộ. Ngài là vô hạn, bạn là hữu hạn. Ngài là vô ý nghĩ, bạn là ý nghĩ. Ngài là mọi nơi, bạn là đâu đó. Không thể có gặp gỡ được. Ngài bao la thế và bạn tí hon thế, làm sao có thể có kết nối được? Làm sao giọt nước có thể gặp được đại dương?
Với thầy phép mầu xảy ra. Thầy giống như bạn, và dầu vậy thầy không giống bạn. Từ phía này, thầy là giọt nước, và từ phía kia thầy là đại dương. Đó là lí do tại sao thầy là hiện tượng mầu nhiệm nhất trong thế giới này. Theo một nghĩa nào đó, thầy là một người, và đồng thời thầy không phải là một người. Từ phía này thầy có những bức tường giống như bạn, và từ phía kia cánh cửa của thầy mở ra - thầy là bầu trời rộng mở.
Có thể có mối quan hệ với thầy. Và với sự giúp đỡ của thầy, dần dần, dần dần có thể có kết nối với điều thiêng liêng. Đó là lí do tại sao Sahajo nói, Tôi có thể quên Thượng đế nhưng tôi không thể bỏ thầy tôi - bởi vì không có thầy chắc sẽ không có kết nối nào với Thượng đế. Nhờ ân huệ của thầy tôi, Charandas, mọi hoài nghi đã tan biến. Hoài nghi sẽ không ra đi bởi việc suy nghĩ của bạn, dù bạn có thể gắng đến đâu bằng suy nghĩ. Suy nghĩ của bạn giống như tự nâng bạn lên bằng dây giầy của bạn. Dù bạn có thể cố gắng đến đâu, bạn có thể nhảy lên một chút, nhưng bạn vẫn thấy rằng bạn đang đứng trên mặt đất. Bàn tay khác nào đó được cần để giúp bạn đứng lên. Và bạn cần một bàn tay giống như tay bạn và bạn có thể nhận ra được tay nào. Và dầu vậy, nó phải là bàn tay của điều tối thượng mà bạn có thể nhận ra một chút, nhưng không đầy đủ. Bạn có thể nhận ra một chút và một chút còn ở bên ngoài nhận biết của bạn.
Thầy là điều bí ẩn. Bạn hiểu thầy, và bạn không thể hiểu thầy. Đấy là lí do tại sao những người nghĩ rằng họ đã hiểu thầy đều sai lầm; và những người nghĩ rằng họ đã không hiểu thầy chút nào, họ cũng sai. Chỉ những người cảm thấy rằng họ hiểu một chút và một chút vẫn còn ở bên ngoài hiểu biết của họ mới có quan hệ với thầy. Cái một chút mà bạn có thể hiểu sẽ cho bạn tự tin. Cái một chút mà bạn không thể hiểu sẽ đưa bạn vượt ra ngoài bản thân bạn, siêu việt sẽ xảy ra qua nó.
Nhờ ân huệ của thầy tôi, Charandas, mọi hoài nghi đã tan biến... “Tôi đã nhận được cái nhìn, mắt tôi đã mở ra. Tôi đã nhận ra nó qua mắt của thầy tôi - thế giới đã tan biến, chân lí đã được lộ ra.” Thế thì sức nhìn riêng của bạn sẽ bắt đầu làm việc. Một khi nó bắt đầu xảy ra, một khi ai đó giới thiệu cho bạn, thế thì...
Mọi lời nói và biện luận đã tan biến...
Thế thì không hoài nghi nào còn lại, thế thì không cái gì để tranh luận cả. Không có hữu thần không có vô thần. Người ta không là người Hin du người ta không là người Mô ha mét giáo.
...Sahajo còn lại, tự nhiên
Và từ ngày đó, Sahajo trở thành tự nhiên. Trước đó mọi thứ nháo nhào, mọi thứ bị lẫn lộn. Bây giờ cô ấy đã trở nên thoải mái. Bây giờ không cái gì cần được làm. Bây giờ bất kì cái gì xảy ra đều là tôn thờ, đều là lời cầu nguyện. Kabir đã nói, “Bất kì cái gì tôi nói là nhân danh điều thiêng liêng. Khi tôi ăn, nó là tôn thờ điều thiêng liêng” - bây giờ duy nhất điều thiêng liêng là ở bên trong và bên ngoài. “Bất kì khi nào tôi bước đi là tôi đang xoay quanh điều thiêng liêng trong tôn kính” - bây giờ tôi không tới đền đài hay đền thờ để đi quanh Thượng đế nữa. Bây giờ khi tôi đơn giản bước quanh, nó là hành động đi quanh điều thiêng liêng trong tôn kính.
...mọi lời nói và biện luận đã tan biến,
Sahajo còn lại, tự nhiên
Sẽ là tốt nếu bạn hiểu từ ‘tự nhiên’, bởi vì là tự nhiên là đoá hoa cuối cùng của tôn giáo - sahaj samadhi, chứng ngộ tự nhiên. Bạn ở trong thế giới và ngay cả ở đó bạn không tự nhiên, bạn rất phức tạp. Bạn là một điều và bạn đang phơi bầy điều gì đó khác. Bạn là một điều và bạn đang nói thứ gì đó khác. Bạn vào đền đài nhưng ở đó bạn cũng không tự nhiên. Ở đó bạn nhỏ nước mắt giả, ở đó bạn cũng đeo mặt nạ. Ở đó nữa, khi bạn tôn thờ và cầu nguyện, không có cái đích thực trong đó, không tính tự nhiên trong đó.
Mọi nơi đều có đạo đức giả. Mọi nơi đều có giả dối. Mọi nơi bạn đều cố phơi ra điều gì đó mà bạn không phải cái đó. ‘Tự nhiên’ nghĩa là dù bạn là bất kì cái gì, bạn là vậy. Nếu bạn tốt, bạn tốt, nếu bạn tồi, bạn tồi. Nếu bạn đẹp, bạn đẹp, nếu bạn xấu, bạn xấu. Có hài hoà với bất kì cái gì bạn đang vậy bởi vì bạn đã đi tới biết rằng là tự nhiên tức là thành một với điều thiêng liêng. Bạn càng không tự nhiên bạn càng xa khỏi nó. Bạn càng cố là cái gì đó, bạn càng đi lạc lối khỏi bản thể đích thực của bạn. Lão Tử nói, “Không ai phi thường hơn người rất bình thường.” Họ bình thường đến mức họ không biết liệu họ là bình thường hay phi thường.
Ai đó hỏi Thiền sư, Bokoju, “Sau khi thầy trở nên chứng ngộ, việc thực hành tâm linh của thầy là gì?”
Bokoju nói, “Tôi chặt củi trong rừng, tôi kéo nước từ giếng. Khi tôi cảm thấy đói, tôi ăn. Khi tôi cảm thấy buồn ngủ, tôi ngủ - không gì nhiều hơn thế này.” Nhưng ngần này là đủ. Đây là tự nhiên.
Sẽ khó cho bạn, sẽ vất vả cho bạn để hiểu điều này. Bởi vì bản ngã của bạn, bạn đã tạo ra một mê cung vinh quang quanh cái gọi là hiền nhân của bạn. Chính bởi vì bản ngã của bạn. Phép màu phải xảy ra từ tay họ, bùa hộ mạng phải đi ra từ tay họ. Bạn không thể chấp nhận được hiền nhân của bạn mà trước hết không làm cho họ thành các nhà ảo thuật. Và nếu họ định trở thành thánh của bạn, thế thì họ sẽ phải đồng ý làm nhà ảo thuật. Đấy là một âm mưu lẫn nhau. Bạn nói, “Chừng nào mà ông còn chưa sẵn sàng là nhà ảo thuật chúng tôi sẽ không chấp nhận ông là thánh.” Và nếu ai đó muốn được tôn kính thế thì họ phải trở thành nhà ảo thuật - thế thì có hài hoà giữa bạn và họ. Bạn đã là giả, và bạn làm cho những người bạn muốn đó là guru của bạn phải đồng ý với các điều kiện của bạn. Bạn đã đạo đức giả và bạn cũng làm cho các guru của bạn thành đạo đức giả. Trong thế giới này, điều đáng ngạc nhiên nhất là ở chỗ hiếm khi đệ tử theo guru; phần lớn thời gian, guru theo đệ tử. Bạn ra các qui tắc về việc guru của bạn phải hành xử thế nào, ông ấy phải cư xử bản thân mình ra sao, khi nào ông ấy phải dậy, khi nào ông ấy phải ngủ, ông ấy phải ăn gì, ông ấy phải uống gì. Bạn ra lệnh cho điều đó.
Bản thân đệ tử quyết định hành vi của các sư Jaina.
Một thánh nhân, một sư Jaina, muốn gặp tôi. Ông ta viết một bức thư và nói, “Tôi có một khát khao được gặp thầy, nhưng đệ tử của tôi không cho phép điều đó.” Đệ tử bạn không cho phép bạn đến gặp tôi sao? Thế thì quá lắm! Bạn có phải là thầy không? và họ là đệ tử sao? Đệ tử không cho phép thầy đi. Cái gì có thể là lí do cho điều này? Tôi nói với ông ta, “Nhìn cho sâu vào. Đệ tử không thể cản được ông. Phải có lí do khác nào đó. Có điều kiện, và điều kiện họ đã đưa ra là: nếu thầy đồng ý với chúng tôi, thế thì chúng tôi sẽ đồng ý với thầy. Chừng nào thầy theo chúng tôi, chúng tôi là đệ tử của thầy. Ngày thầy dừng theo chúng tôi, vấn đề kể như là xong.” Và tôi nói, “Ông yếu đuối. Ông đã trở thành thầy một cách rẻ mạt thế. Ông muốn tới tôi để học thiền sao? Ông không có đến cả chút dũng cảm này cho việc tìm kiếm thiền sao? Đệ tử của ông nói không, bởi vì các đệ tử nghĩ, “Nếu thầy chúng ta mà đi học thiền ở đâu đó khác, thế thì chúng ta đang làm gì bởi việc chấp nhận ông ấy làm guru?” Cho nên trước các đệ tử, guru phải biểu lộ rằng mình là một thiền nhân, mình sẽ dạy cho họ thiền - và bản thân ông ấy không biết gì về thiền. Và sư này thậm chí không có dũng cảm hay chân thành trong cuộc đời mình để đi tìm thiền. Nếu điều đó là cần thiết, ông ấy phải vứt bỏ việc là thầy để đi tìm thiền. Ông dạy thế giới từ bỏ tiền bạc, của cải, và ông đang ôm giữ cái gì vậy?
Tôi bảo ông ấy, “Vứt nó đi! Thiền còn lớn hơn. Ông sẽ tìm tín đồ sau. Và vấn đề là gì nếu ông không tìm thấy tín đồ nào?” Lời đáp tới, “Thầy không biết rằng tôi đã trở thành sannyasin từ thủa thiếu thời. Tôi không được giáo dục và tôi không thể kiếm sống cho cuộc đời mình được.
Tôi đã không làm việc trong bốn mươi năm nay! Nếu tôi bỏ các tín đồ, thế thì tôi sẽ gặp khó khăn.”
Bây giờ điều này đã trở thành việc thu xếp để cung cấp thức ăn và chỗ ở của ông. Ông không phải là thầy mà họ cũng không phải là đệ tử của ông. Họ biết rằng bởi vì họ cho ông thức ăn, nên họ là thầy của ông. Và ông cũng biết điều đó. Họ đang cho ông thức ăn, cho nên ông có thể ngồi trên họ nhưng chỉ hình thức thôi. Ông đang bảo người khác từ bỏ thế giới, nhưng bản thân ông không thể thu được đủ dũng cảm để từ bỏ cái an toàn này! Ông có thể chấm dứt việc đào mương trên đường, nhưng ít nhất ông sẽ kiếm thức ăn cho ông. Nhiều người kiếm sống theo cách này. Nhưng ông không được dũng cảm đến thế.
Guru của bạn trở nên bất lực, không còn sức mạnh nào trong họ. Họ trở thành không tự lực thế. Bạn đang để họ trên bạn, nhưng họ chỉ là con rối với sợi dây trong tay bạn. Họ nhảy múa khi bạn làm cho họ nhảy múa, họ nói điều bạn làm cho họ nói.
Là tự nhiên nghĩa là bây giờ không có gì để khoe khoang với bất kì ai. Bạn hạnh phúc với bất kì cái gì bạn đang vậy. Và ngày bạn hạnh phúc với bản thể bạn và được hấp thu trong tự tính của bạn, vào ngày đó bạn sẽ được hấp thu vào trong điều thiêng liêng. Vào ngày đó, cá đã tìm thấy đại đương. Đại dương bao giờ cũng có đó, vấn đề chỉ là trở thành một với nó. Khi cá biết tới bản thân nó thế thì nó biết đại dương, bởi vì trong thực tế cá là đại dương.
Bạn càng tự nhiên, bạn càng trở thành siddha, người đã đạt tới. Là tự nhiên là hoàn thành. Nhưng bạn muốn tuyên dương việc đạt tới của bạn. Bạn muốn phép màu xảy ra.
Mọi người tới tôi và nói, “Nếu thầy làm phép màu nào đó, hàng triệu người sẽ tới thầy.” Tôi sẽ làm gì với cả triệu người này? Tôi không phải là nhà ảo thuật. Họ nói, “Không, chúng tôi đang nói điều này bởi vì hàng triệu người sẽ được lợi.” Hàng triệu người có thể được lợi hay không, nhưng trước hết nó sẽ là hại cho tôi. Và nếu tôi bị hại, thế thì làm sao họ có thể được lợi bởi tôi?
Điều tự nhiên là nếu bạn trở nên đơn giản, thế thì kẻ ngốc sẽ không bị gây ấn tượng bởi bạn. Chỉ những người mà bản thân họ đang hướng tới tính đơn giản mới quan tâm tới bạn. Kẻ ngốc có cách bị ấn tượng của họ. Nếu tâm trí ngu đần của họ được thoả mãn, thế thì họ bị ấn tượng.
Điều này đã xảy ra nhiều lần. Mọi ngày, khi tôi du hành trên đất nước này, tôi hay bắt gặp nhiều kẻ ngốc. Cho dù tôi từ chối điều gì đó họ vẫn không sẵn sàng chấp nhận lời từ chối của tôi. Một người ôm lấy chân tôi và nói, “Xin thầy cho tôi cốc nước từ tay thầy. Tôi chắc chắn rằng bệnh đau dạ dầy của tôi, mà tôi bị từ bẩy tám năm nay rồi, sẽ được chữa khỏi bằng nước có bàn tay thầy chạm vào.”
Tôi nói, “Trước hết, hiểu rằng chính tôi cũng đau dạ dầy! Tôi uống nước bằng tay tôi, mà bệnh đâu có khỏi. Làm sao bạn khỏi bệnh được? Nếu tôi cần giúp đỡ, tôi phải gọi bác sĩ. Cho nên bỏ ý tưởng này đi.”
Nhưng tôi càng từ chối, anh ta càng nghĩ rằng tôi không sẵn lòng ban ân huệ cho anh ta. Cho nên anh ta giữ chân tôi chặt hơn. Anh ta nói, “Cho dù tôi có chết, tôi sẽ không rời khỏi đây. Tôi chắc chắn đấy; thầy càng từ chối tôi, tôi càng bị thuyết phục rằng có cái gì đó.”
Tôi thấy rằng điều này làm việc theo chiều ngược - đức tin anh ta đang tăng lên! Và có nguy hiểm trong đức tin: nếu anh ta được chữa khỏi bằng việc uống nước này, thế thì điều đó là nguy hiểm. Và nếu anh ta không khỏi thế thì không có vấn đề gì, vấn đề sẽ qua - bạn giữ cái đau của bạn, tôi về nhà. Nhưng nếu anh ta mà khỏi, mà tôi sợ là như thế, thế thì điều đó sẽ là vấn đề thực sự. Tôi nghĩ tốt hơn cả là cho anh ta nước, nhưng điều đã xảy ra làm cho tôi sợ. Sau khi uống nước anh ta nói, “Lạy trời! Cơn đau đã biến mất.”
Bây giờ người này là một người ngốc. Cái đau của anh ta là giả. Tôi không nói rằng anh ta không đau, anh ta đã đau từ tám năm nay. Nhưng cái đau của anh ta là tưởng tượng. Hai năm sau, khi tôi tới thành phố đó, tôi được biết là anh ta đã làm phép màu. Anh ta đã giữ cẩn thận chiếc cốc mà tôi đã trao nước cho anh ta và anh ta bắt đầu đem nước cho những người khác từ chiếc cốc đó. Và anh ta bảo tôi, “Nhờ ân huệ của thầy mà nhiều người đã được lợi.”
Bây giờ đây là một tâm trí ngu ngốc. Trước hết nó tạo ra bệnh tật và qua cùng cái ngu ngốc đó nó cũng tạo ra cách chữa. Nó bắt đầu thấy những thứ tưởng tượng. Bản ngã là gốc rễ cho mọi bệnh tật. Mọi người tới tôi và nói, “Chúng tôi thấy hào quang quanh thầy.” Có thể bạn có vấn đề về mắt đấy. Bạn có thể mắc chứng ảo giác. Hay bạn có thể đã thấy nhiều bức ảnh các vị thánh trong lịch với vầng hào quang được vẽ quanh họ. Điều đó có thể đã ghi dấu vào tâm trí bạn có hơi nhiều chút ít, và bạn có thể đã phóng chiếu nó. Nhưng xin bỏ tôi ở ngoài tất cả những điều này. Thế thì bạn nói, “Nhưng làm sao chúng tôi có thể tin vào thầy được, bởi vì chúng tôi đã thấy nó bằng chính mắt mình.”
Mắt bạn mù. Đảm bảo gì có đó về điều bạn đang thấy? Nhưng nếu tôi phủ nhận nó, họ không sẵn sàng chấp nhận điều đó, bởi vì họ có thể cúi đầu dưới chân tôi chỉ khi họ có thể thấy hào quang của tôi. Đấy là một điều kiện cho bản ngã của họ. Nếu họ không thể thấy hào quang, thế thì phỏng có ích gì mà đi cúi đầu dưới chân tôi? Họ có thể trở thành đệ tử của tôi chỉ khi được chứng minh rằng tôi không phải là một thầy bình thường - rằng tro từ tay tôi, là bùa hộ mạng, đồng hồ chế tạo tại Thuỵ sĩ - chỉ thế thôi. Thế thì bản ngã của họ sẽ được thoả mãn.
Có một tầng lớp nào đó những kẻ ngốc, và đám đông những kẻ ngốc này áp đặt cái ngốc nghếch của họ thậm chí lên guru của họ. Tôi chỉ gọi người mà không cho phép cái loại áp đặt này xảy ra, là thầy. Chỉ thế thì người đó mới có thể có ích cho bạn, chỉ thế thì người đó mới có thể đưa bạn vượt ra ngoài hoài nghi. Mặc dầu vấn đề là dễ dàng và thoải mái cho thầy khi nói rằng bất kì cái gì bạn nói cũng đều đúng cả, bởi vì thế thì sẽ không có rắc rối cho ông ta và bạn sẽ không lâm vào rắc rối. Cả hai đều là đối tác trong giấc mơ giả. Thế giới của bạn đã là giả rồi, và bạn đã tạo ra guru giả từ tâm trí trần tục của bạn. Và từ những guru giả này bạn trông đợi nhận ra chân lí!
Tìm kiếm tính tự nhiên đi bởi vì điều thiêng liêng ẩn kín trong nó. Nó là tự nhiên toàn bộ. Nó là tự nhiên như cây cối, chim chóc, con vật, mặt trăng, các vì sao cùng núi non và thác đổ. Nếu bạn tìm thấy ai đó tự nhiên, đừng rời bỏ sự hiện diện của người đó. Đừng lo nghĩ về việc thấy hào quang của người đó và đừng trông đợi bất kì phép màu nào từ thầy.
Nhờ ân huệ của thầy tôi, Charandas,
Mọi hoài nghi đã tan biến,
Mọi lời nói và biện luận đã tan biến,
Sahajo còn lại, tự nhiên
Và thế thì bạn đã hướng tới việc là tự nhiên rồi.
Là tự nhiên đi. Duyên dáng đi. Nếu bạn trở thành tự nhiên, bạn sẽ trở thành thực. Hiểu rằng từ ‘tự nhiên’ là đồng nghĩa với từ ‘điều thiêng liêng’. Nếu cái không tự nhiên của bạn mất đi, thế thì mọi bệnh tật cũng qua, thế thì mọi dối trá cũng qua, thế thì sansara - bánh xe sinh tử - cũng mất đi. Ngày bạn trở thành tự nhiên, sẽ có việc mưa rào nước cam lồ trong cuộc sống của bạn, mưa rào không mây.
Daya nói, “Thấy, tâm trí được ngập trong niềm vui mênh mông.” Bạn đơn giản trở thành tự nhiên, thế thì không có chậm trễ. Tại đây bạn trở nên tự nhiên, và tại kia ‘có ánh sáng vô hạn mà không chớp sáng.” Thế thì, không chớp sáng, có ánh sáng vô hạn. Nó là ánh sáng không có nguồn. Nó không tới từ đâu cả, nó bao giờ cũng có đó. Nó là vĩnh hằng, và nó là “mưa rào không mây.”
Không mây nào có thể được thấy trên trời và trời mưa rào, nước cam lồ mưa rào, bởi vì nước cam lồ đó là bản chất của sự tồn tại này. “Tâm trí được nhấn chìm trong niềm vui mênh mông” - và thế thì bạn nhảy múa, chìm trong niềm vui, bởi vì không nỗi buồn nào còn lại. Nỗi buồn là trong mù quáng của bạn. Nỗi buồn là trong bản ngã của bạn, trong cái không tự nhiên của bạn. Nó đã qua. Daya nói, “Thấy, tâm trí chìm ngập trong niềm vui mênh mông.” Và bây giờ, thấy ân huệ, thấy chân lí khắp xung quanh, bạn nhảy múa, chìm ngập trong niềm vui mênh mông này...
... mưa rào không mây.
Đủ cho hôm nay.
Xem tiếp Chương 10Quay về Mục lục

0 Đánh giá

Ads Belove Post

Powered by RedCircle