Chương 10. Níu bám

Chương 10. Níu bám

Price:

Read more

Thiền sư lớn Đại Huệ - Tập 1 - Osho
Suy nghĩ về biến đổi từ trí thức sang chứng ngộ
Chương 10. Níu bám


Osho kính yêu,
Bài giảng theo yêu cầu của Nguỵ Công.
Ông không thấy lời của Cổ Đức: “Nếu có một pháp hơn pháp Niết Bàn, ta nói cũng như mộng huyễn.” Nếu được ở trong mộng huyễn, như thực mà chứng, như thực mà giải, như thực mà tu, như thực mà hành, dùng cái pháp như thực đó khéo tự điều phục, rồi khởi tâm đại bi làm mọi phương tiện để điều phục tất cả chúng sinh
Xử trí với tình huống
Lão Mặt Vàng (Phật) đã nói: Tâm chẳng vọng lấy pháp quá khứ. Cũng chẳng tham đắm việc vị lai. Ở nơi hiện tại vô sở trụ. Liễu đạt tam thế đều không tịch.
Việc quá khứ hoặc thiện hoặc ác chớ nên suy lường, suy lường thì chướng đạo. Việc vị lai chớ nên tính toán, tính toán ắt cuồng loạn.
Việc hiện tại ở trước mắt hoặc thuận hoặc nghịch cũng chớ nên để ý, để ý thì trong tâm bị nhiễu loạn. Cuộc sống hàng ngày tùy duyên ứng phó, tất cả chỉ xem là tạm thời thì sẽ thích ứng nguyên lí tự nhiên.
Gặp cảnh giới nghịch còn dễ tu, gặp cảnh giới thuận mới là khó. Lúc nghịch ý ta chỉ cần một chữ nhẫn chốc lát liền qua được, lúc cảnh giới thuận thì thật là chẳng có chỗ để trốn tránh, vì cảnh giới thuận ý mình ham thích như nam châm hút sắt dính chặt một chỗ.
Đại Huệ đang đối diện với cái gì đó rất nền tảng khi có liên quan tới trí tuệ và thông minh. Điều này có tầm quan trọng lớn: có quan niệm rõ ràng rằng trí tuệ không phải là thông minh.
Trí tuệ là của tâm trí: nó phụ thuộc vào kí ức, nó vận hành qua tri thức vay mượn. Mọi hệ thống giáo dục của chúng ta trên thế giới đều được bắt rễ trong phát triển trí tuệ; do đó chúng tất cả đều phụ thuộc vào trí nhớ. Các kì thi ở trong trường phổ thông, cao đẳng, đại học của chúng ta không phải là về thông minh - chúng chỉ kiểm tra bạn có trí nhớ tốt thế nào. Nhưng trí nhớ không phải là chỉ dẫn về thông minh. Trí nhớ là máy móc. Máy tính có thể có trí nhớ tốt hơn người thiên tài, nhưng máy tính không có thông minh.
Tâm trí con người không là gì ngoài cái máy tính sinh học, đã tiến hoá qua một thời gian dài, dài lâu. Và thông minh là khi trí nhớ im lặng và trí tuệ không vận hành, khi toàn thể tâm trí nghỉ ngơi.
Thông minh là cái gì đó bên ngoài tâm trí.
Trong tiếng Anh có vấn đề vì cùng một từ được dùng cho cả hai - và chúng khác biệt toàn bộ. Trong tiếng Phạn, và trong mọi ngôn ngữ phương Đông, chúng ta có những cái tên khác nhau cho từng loại: trí tuệ được gọi là bodhi, năng lực về tri thức; và thông minh được gọi là pragya, năng lực biết, không phải tri thức.
Tri thức bao giờ cũng chết; nó là thông tin. Và mọi hệ thống giáo dục của chúng ta có quan hệ với học sinh đích xác là điều chúng ta làm với máy tính - nạp vào họ ngày càng nhiều thông tin. Nhưng không máy tính nào có thể trả lời câu hỏi mà nó đã không được chuẩn bị sẵn. Trí tuệ chỉ có thể trả lời cái đã biết rồi; nó là cũ rích, nó là của hôm qua.
Thông minh là đáp ứng cho tình huống mới, không từ kí ức quá khứ của bạn mà từ nhận biết hiện tại của bạn, chính khoảnh khắc này. Bạn không vận hành như cái máy tính, bạn không tìm câu trả lời trong lưu trữ trí nhớ của bạn; thay vì thế bạn đơn giản mở tâm thức bạn cho tình huống và cho phép đáp ứng tự phát.
Nói cách khác, thông minh là đáp ứng tự phát.
Từ 'đáp ứng' cũng bị hiểu lầm. Nó phải được chia thành hai; bằng không, dần dần, nó mất nghĩa gốc của nó. Nó đã trở thành gần như tương đương với nghĩa vụ. Thực tại là khác. Chia từ ' responsibility - đáp ứng' thành hai, thế thì nó trở thành 'ability to respond - khả năng đáp lại' hay 'response-ability'. Thông minh là khả năng đáp lại - và điều đó nhất định là tự phát. Đáp ứng sẽ gây ngạc nhiên ngay cả cho bạn, vì nó mới thế - bạn không lặp lại bất kì cái gì từ quá khứ.
Đã từng có xung đột lâu dài giữa thông minh và trí tuệ. Con người của trí tuệ nghĩ rằng người đó là thông minh vì người đó biết nhiều thế. Người đó đã tích luỹ di sản tri thức lớn, người đó bị nặng gánh với mọi loại thông tin. Con người của thông minh là hồn nhiên; người đó vận hành từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, việc vận hành của người đó có sự tươi tắn và cái đẹp. Nhưng để tìm ra thông minh người ta phải đi ra ngoài tâm trí. Thiền là cách thức.
Vấn đề với Đại Huệ là vấn đề với mọi người trí thức của thế giới. Họ không thể nghĩ được - họ sẽ không thích nghĩ - rằng có cái gì đó cao hơn và siêu hơn trí tuệ.
Không phải ngẫu nhiên mà ông ấy gọi Phật Gautam là 'Lão Mặt Vàng'; đó là nhận xét vô ý thức, châm biếm.
Và không chỉ trong đoạn này; ở chỗ khác ông ấy nói cái gì đó thậm chí còn tồi hơn "Lão Mặt Vàng'. Ông ấy có thể không nhận biết... đây là bất kính hoàn toàn, nhưng người trí thức bao giờ cũng bất kính với người thông minh. Ông ấy cảm thấy sâu bên dưới một phức cảm tự ti nào đó và ông ấy trả thù theo nhiều cách.
Người trí thức cố bắt chước con người của thông minh, con người của trí huệ, con người của chứng ngộ - và ông ấy có năng lực, ông ấy nói giỏi. Ông ấy có nhiều năng lực khi có liên quan tới ngôn ngữ và lời. Ông ấy có thể là diễn giả giỏi hơn, nhà văn giỏi hơn, người diễn thuyết giỏi hơn. Ông ấy có thể xoay xở lừa cả thế giới rất dễ dàng chỉ bằng việc lặp lại bất kì cái gì người chứng ngộ đã nói.
Thỉnh thoảng chuyện xảy ra là người bắt chước có thể đánh bại người nguyên gốc. Có lần chuyện xảy ra là vài người bạn bố trí lễ kỉ niệm sinh nhật cho một diễn viên người Anh. Họ làm nó thành cuộc thi toàn quốc: ai có thể bắt chước được diễn viên này giống nhất? Trong mọi thành phố lớn mọi người sẽ được chọn, và thế rồi cuộc thi chung kết sẽ ở London. Người thắng sẽ được giải thưởng lớn.
Nhiều diễn viên đã tham gia. Bản thân diễn viên này nghĩ rằng chắc sẽ là trò đùa hay khi vào tham gia thi từ một thị trấn nhỏ. Tất nhiên ông ấy chắc chắn rằng ông ấy sẽ chiếm hàng đầu - ông ấy là nguyên bản, mọi người khác đều bắt chước ông ấy. Nhưng với ngạc nhiên của mọi người - và còn ngạc nhiên hơn với ông ấy - ông ấy chỉ được thứ hai. Khi mọi người trở nên biết rằng ông ấy là người thực, không ai có thể tin được rằng điều đó đã xảy ra - làm sao mọi giám khảo lại có thể bị mê hoặc bởi người bắt chước?
Nhưng tôi nhìn sâu hơn vào trong tâm lí của điều đó: người bắt chước chuẩn bị, diễn tập, làm nhiều bài tập về nhà. Người nguyên bản đơn giản đứng đó trong tính tự phát và thực tại của ông ấy - ông ấy đã không chuẩn bị, ông ấy đã không diễn tập, ông ấy chỉ như ông ấy vậy. Nhưng ai đó đang cố đi lên đầu trong thi đua lớn có thể đã làm việc trong nhiều tháng. Một cách tự nhiên, ông ấy đã lừa các giám khảo. Và điều này đã xảy ra cả nghìn lẻ một lần - rằng ai đó như Đại Huệ, người chỉ là người trí thức, đã từng được chấp nhận trong một nghìn năm như thầy lớn về giáo huấn Thiền, và ông ấy đơn giản lặp lại.
Tôi muốn bạn thấy rằng mọi thứ đều có thể bị bắt chước, ngoại trừ chứng ngộ. Bạn có thể nói cùng lời, nhưng chúng sẽ không có cùng lửa. Cử chỉ của bạn có thể là hệt như vậy, nhưng chúng sẽ không có cùng duyên dáng. Bạn có thể diễn dường như bạn đã chứng ngộ, nhưng cái 'dường như' đó là kẽ hở lớn, gần như không thể bắc cầu qua được. Điều này trở thành rõ ràng thế trong trường hợp của Đại Huệ.
Ông ấy nói, Ông không thấy lời của Cổ Đức: “Nếu có một pháp hơn pháp Niết Bàn, ta nói cũng như mộng huyễn.”
Đúng là người đã đạt tới việc nhận ra tối thượng - bạn có thể gọi nó là niết bàn, tự nhận ra - những người đã đạt tới nó là đều có thể nói rằng cái đó nữa là được làm từ cùng chất liệu như mơ được làm ra. Nó là mơ đẹp nhất, mơ hoàn hảo nhất - nhưng không cái gì nhiều hơn điều đó.
Lí do cho người chứng ngộ gọi chứng ngộ của mình chỉ là mơ là lí do rất nền tảng. Ông ấy đang cố nói: "Điều này nữa là kinh nghiệm, và tôi đang tách rời khỏi mọi kinh nghiệm của tôi - dù kinh nghiệm này là về khổ, đau khổ, phiền não, hay phúc lạc hay chứng ngộ, nó không tạo ra khác biệt nào. Chúng thuộc vào cùng phân loại kinh nghiệm.
"Tôi không phải là kinh nghiệm này, tôi là người trải nghiệm. Tôi bao giờ cũng siêu việt trên bất kì kinh nghiệm nào đã xảy ra cho tôi. Tôi chỉ là nhân chứng, sakshin. Cũng như tôi đã thấy mây đen, tôi đang thấy mây trắng. Cũng như tôi đã thấy mây, tôi đang thấy trời không mây - nhưng tôi tách rời.
"Tâm thức của tôi không phải là kinh nghiệm. Mọi kinh nghiệm trôi qua trước tâm thức tôi, nhưng tôi bao giờ cũng là nhân chứng. Cho nên bất kì khi nào kinh nghiệm là về khổ, đau đớn, hay về cực lạc, nó không tạo ra khác biệt nào."
Nhưng điều này chỉ có thể được nói bởi người đã đạt tới cái đẹp đó, phúc lành đó - rằng đây nữa cũng là mơ, mơ đẹp, mơ đẹp nhất, nhưng người ta phải không bị đồng nhất với nó. Do đó có câu ngạn ngữ rằng khi người ta trở thành phật người ta quên tất cả về phật tính; người ta lại trở thành con người bình thường. Thế thì vòng tròn là đầy đủ. Người ta đã bắt đầu từ việc là người bình thường, nhưng đó là trạng thái của vô ý thức, như người vừa đi vừa ngủ, người mộng du. Bây giờ người ta đã quay lại cùng trạng thái đó, chỉ với một khác biệt: bây giờ người ta không còn ngủ nữa, người ta thức.
Phật thức đầy đủ nhưng, khi so sánh với bất kì người nào khác, ông ấy không đặc biệt. Ông ấy không linh thiêng hơn bạn và ông ấy không cao hơn bạn. Bạn đang ngủ và ông ấy thức - điều này tạo ra khác biệt về chất. Thực ra, người đang ngủ đang biểu lộ rằng người đó có năng lực thức. Nếu như bạn không có khả năng ngủ, bạn sẽ không có khả năng thức nữa; cả hai năng lực này đều thuộc về cùng một cõi. Và chừng nào người chứng ngộ chưa lại trở thành người bình thường, người đó mới chỉ đáp ứng cho bản ngã của mình. Thế thì chứng ngộ của người đó không phải là đích thực; chứng ngộ của người đó chỉ là hiểu biết trí tuệ, không phải là kinh nghiệm.
Đại Huệ đang trích dẫn nhà tiên tri cổ đại nào đó: “Nếu có một pháp hơn pháp Niết Bàn" - cái gì đó vượt qua chứng ngộ - "ta nói cũng như mộng huyễn, ảo tưởng.” Một phát biểu hàm chứa vô cùng...
Nếu được ở trong mộng huyễn, như thực mà chứng, như thực mà giải, như thực mà tu, như thực mà hành, dùng cái pháp như thực đó khéo tự điều phục.
Bây giờ ông ấy đi sai. Chừng nào ông ấy đang trích dẫn nhà tiên tri cổ đại, ông ấy hoàn toàn đúng, vì đó không phải là lời của ông ấy, ông ấy chỉ lặp lại. Chúng đã là lời của ai đó người đã biết kinh nghiệm này. Bây giờ ông ấy bắt đầu hiểu biết riêng của ông ấy, hiểu thấu kiểu trí tuệ riêng của ông ấy - và mọi thứ đi sai.
Ông ấy nói, "Nếu ông có thể là nhân chứng cho ảo tưởng tựa mơ này, thế thì ông có thể dùng phương pháp của 'tương ứng theo thực tại' để chinh phục bản thân ông." Một người đã đi tới điểm biết rằng ngay cả chứng ngộ cũng là ảo tưởng thì không thể có ý tưởng về cái ngã thêm nữa - người đó không thể có ý tưởng rằng "tôi đây."
Nhân chứng không có ý tưởng về bất kì bản ngã nào.
Nhân chứng hiện hữu nhưng không có ý tưởng về "Tôi đây."
Nhân chứng đơn giản như gương; nó phản xạ. Bất kì cái gì tới trước nó, nó phản xạ - không có bất kì phản ứng nào, không có bất kì gắn bó nào, không có bất kì đồng nhất nào. Mặt đẹp hay mặt xấu, tất cả chỉ là phản xạ, không có bất kì khác biệt nào. Khi mặt đẹp đi xa, gương không cố ngăn cản nó, níu bám lấy nó. Và khi mặt xấu tới trước nó, gương không muốn gạt bỏ nó, gương không nhắm mắt lại. Nó không có đánh giá, không phán xét; nó vẫn còn đơn giản là nhân chứng cho bất kì cái gì là hoàn cảnh.
Con người của chứng ngộ không có vấn đề khi có liên quan tới cái ngã - cái ngã đã mất đi từ lâu trước đây. Bạn không thể đạt tới chứng ngộ trước khi bạn đánh mất cái ngã của bạn. Đó là bước cần thiết để đạt tới chứng ngộ.
Để tôi nói điều đó theo cách này:
Bạn không thể được chứng ngộ.
Khi bạn không có, chứng ngộ có.
Bạn phải nhường đường cho chứng ngộ giáng xuống, cho việc thức tỉnh lớn lao rót đầy toàn thể bầu trời của bạn, rót đầy toàn thể tâm thức của bạn.
Nếu bạn có đó, thế thì bất kì cái gì xảy ra đều chỉ là thể dục tâm trí. Bạn có thể xoay xở để tạo ra ảo tưởng về mọi thứ ngoại trừ chứng ngộ. Bạn có thể thấy Jesus Christ, bạn có thể tạo ra ảo tưởng này; tâm trí bạn có mọi năng lực. Bạn có thể chỉ phải làm thu xếp đúng - ba tuần nhịn ăn và ở chỗ cô lập, và lặp lại liên tục tên của Jesus Christ - và bạn sẽ bắt đầu thấy Jesus Christ cùng bạn trong hang. Bạn sẽ bắt đầu nói chuyện với Jesus Christ - và không chỉ bạn sẽ nói, ông ấy sẽ trả lời bạn nữa! Và không ai có đó ngoại trừ bạn.
Mọi tôn giáo trên thế giới đều đã nhấn mạnh vào nhịn ăn. Lí do là ở chỗ khi bạn nhịn ăn năng lực phán xét của bạn giữa cái thực và cái không thực bị mất sau ba tuần. Tâm trí bạn cần việc nuôi dưỡng liên tục những chất đạm nào đó; chỉ việc nhịn ăn ba tuần, và những chất đạm đó bị hết. Tâm trí giữ lượng dự trữ khẩn cấp nào đó và lượng dự trữ khẩn cấp đó bị hết sau ba tuần - và đó là nếu bạn là người không ăn chay. Nếu bạn là người ăn chay, thế thì trong vòng một tuần mọi chất đạm của bạn đều hết, vì thức ăn chay không đủ khi có liên quan tới tâm trí.
Không phải là trùng hợp ngẫu nhiên mà không một người ăn chay nào đã nhận giải thưởng Nobel! Điều đó thật lạ; nó đáng phải ngược lại. Người ăn chay nghĩ rằng vì họ ăn thức ăn thuần khiết nhất, họ phải có tâm trí thuần khiết nhất, nhưng thậm chí ba người từ Ấn Độ đã nhận giải thưởng Nobel - tất cả đều là người không ăn chay.
Là người ăn chay và nhịn ăn và ở chỗ cô lập là mọi chiến lược để đem tâm trí bạn tới vị trí mà bạn không thể phân biệt được liệu điều bạn đang thấy là thực hay không thực. Điều đó xảy ra cho trẻ nhỏ. Vào độ tuổi đầu đời, khi chúng thức dậy chúng bắt đầu khóc vì cái gì đó chúng có trong mơ. Chúng hỏi, "Nó đã đi đâu rồi? Nó vừa mới ở đây với con." Phải mất chút thời gian cho trẻ con lớn lên để hiểu rằng điều chúng thấy trong mơ là mơ và điều chúng thấy khi thức không phải là mơ.
Phân biệt giữa mơ và thực tại cần sự phát triển nào đó của tâm trí. Và điều gì xảy ra trong phát triển này? Những chất đạm đó cái làm cho trí tuệ của bạn...
Mọi tôn giáo đều đồng ý về nguyên tắc rằng nhịn ăn là cái gì đó tâm linh, nhưng lí do là tâm lí chứ không phải tâm linh: nhịn ăn là cách hay để tạo ra ảo tưởng. Bạn đã bao giờ nghĩ về nó chưa... rằng người Ki tô giáo không bao giờ đi tới thấy Krishna? Khi người đó thiền ở chỗ cô lập, nhịn ăn trong tu viện, Krishna không bao giờ tới với người đó, Phật không bao giờ tới người đó. Và với Phật tử, Jesus không bao giờ tới. Dường như những người này cũng phân biệt giữa người Ki tô giáo, Phật tử, người Hindus... Đầu tiên họ đòi hỏi liệu người này là Phật tử hay không - ta có nên đi hay không?
Đó là ước định của bạn. Không ai tới cả, không có người nào tới đâu! Những người này đã biến mất trong tâm thức vũ trụ rồi. Họ không có bất kì thân thể nào, không còn bất kì phương tiện nào nữa - cho dù họ muốn tới, họ không thể tới được. Nhưng bạn có thể tạo ra ảo tưởng, và đây là phương cách: nhịn ăn, ở chỗ cô lập...
Khi bạn ở cùng mọi người, đó là một điều; khi bạn ở một mình đó là điều khác. Bạn có quan sát khác biệt không? - khi bạn ở trong phòng tắm bạn là người khác hơn khi bạn ở bãi chợ. Trong phòng tắm, cho dù bạn có thể bẩy mươi tuổi, bạn có thể bắt đầu làm điệu bộ mặt trước gương. Và nếu bạn trở nên nhận biết rằng có trẻ nhỏ nhìn qua lỗ khoá, bạn sẽ thay đổi ngay lập tức sang người nghiêm chỉnh, chín chắn, có kinh nghiệm, bẩy mươi tuổi! Chỉ đôi mắt của đứa trẻ năm tuổi qua lỗ khoá có thể làm thay đổi lớn thế.
Cuộc đời của Albert Einstein đầy những điều ngạc nhiên. Ngạc nhiên lớn nhất của ông ấy là khi ông ấy trở nên nhận biết rằng nếu bạn đang quan sát hành vi của điện tử, chúng hành xử khác đi với khi không ai quan sát chúng. Kì lạ! Chúng ta thường nghĩ rằng điện tử như người chết - chỉ vật chất - nhưng chúng dường như sống động rất nhiều, và rất nhạy cảm.
Chúng không thuộc vào xã hội chúng ta, chúng không thuộc vào văn hoá chúng ta, chúng không cần lo nghĩ về điều chúng ta nghĩ về chúng, nhưng cái gì đó xảy ra... khi chúng một mình chúng hành xử theo cách này và khi chúng cảm thấy rằng ai đó đang quan sát, thế thì chúng ngay lập tức trở thành quân tử! Albert Einstein bị choáng thế, vì điều đó có nghĩa là điện tử có nhận biết thuộc loại nào đó. Chúng không chỉ là hạt điện; chúng có tâm thức riêng của chúng.
Có lẽ bạn không nhận biết rằng khi bạn đi ngang qua một bên cây, nó thay đổi hành vi của nó. Nó đứng thẳng hơn, đẹp hơn, nó toả ra nhiều hương thơm hơn từ hoa. Ai đó đang tới bên cạnh; nó phải biểu lộ bản thân nó đẹp nhất có thể được.
Tôi đã dạy ở đại học, và bên cạnh khoa của tôi có một hàng dài những hoa đẹp nào đó - hoa phượng vĩ. Hoa đó không tìm thấy được ở các nước lạnh; nó là hoa của các nước rất nóng. Và khi nó tới kì nở hoa, thế thì mọi lá biến mất và chỉ còn hoa đỏ... dường như toàn thể cây đã trở nên bắt lửa, cháy. Nó là thứ rất đẹp để ngắm. Cả khoa được bao quanh bởi cây phượng vĩ.
Tôi thường đỗ xe dưới một cây phượng vĩ, và nó đã trở nên được biết tới với hầu hết mọi người rằng cây phượng vĩ đó phải được dành cho xe của tôi, vì tôi đã từng đỗ xe của tôi ở đó nhiều năm. Ngay cả khi tôi không tới đại học, tôi vẫn để xe của tôi ở đó! Xe được đỗ - mọi người được thoả mãn là tôi ở trong đại học. Tôi đã bảo người lái xe của tôi, "Cứ tận hưởng khu vườn đi " - đại học này có khu vườn đẹp - "và sau hai, ba giờ, anh đem xe trở lại, nhưng trước hết để cho ông hiệu phó thấy nó." Văn phòng của ông hiệu phó ở ngay bên cạnh cây này và ông ấy có thể thấy từ cửa sổ rằng xe của tôi đang đứng đó.
Chính ông ấy đã mang tới sự chú ý của tôi... Tôi đã không nhìn kĩ vào các cây khác, rồi một hôm ngay khi tôi đỗ xe ông ấy bước ra khỏi văn phòng, và dừng tôi lại, nói, "Đó là phép màu! Mọi cây phượng vĩ khác" - và có gần năm mươi cây - "đã chết không vì lí do gì cả; có lẽ loại bệnh dịch nào đó đã tấn công những cây đó. Duy nhất cây của anh vẫn còn sống, vẫn còn xanh, vẫn còn nở hoa. Nó phải có cái gì đó liên quan tới anh!"
Tôi nói, "Điều đó thật lạ... Tôi chưa bao giờ nghĩ về điều đó."
Thấy các cây khác đã chết, tôi đã hỏi người làm vườn, "Có chuyện gì vậy? Tại sao mọi cây đã chết?"
Ông ấy bảo tôi, "Tôi không thể hình dung được điều đó. Mọi chăm sóc đã được tiến hành, nhưng chúng đơn giản cứ chết đi."
Các cây đó vẫn đứng thẳng trần trụi, không lá, không hoa. Ông phó hiệu trưởng nói đùa với tôi, "Anh phải làm cái gì đó; chỉ cây của anh là sống."
Hai năm sau khi tôi rời khỏi trường đại học tôi lại tới đó, và điều đầu tiên tôi làm là nhìn vào cây của tôi - nhưng nó mất rồi! Tôi đến để nói chuyện, thế là ông hiệu phó đã tới đón tôi. Ông ấy nói, "Trông đấy! Tôi đã bảo rằng anh đã làm cái gì đó cho cây đó. Nó vẫn còn sống trong bẩy năm khi tất cả các cây khác đã chết, nhưng ngày anh rời khỏi đại học cây của anh bắt đầu chết. Trong vòng hai tháng nó mất. Chúng tôi đã cố gắng mọi thứ, nhưng chúng tôi không thể cứu được nó. Và tôi thích cây đó," ông ấy nói, "vì nó ở ngay trước cửa sổ của tôi."
Có thể là cây đã trở nên thân thiết với tôi bằng cách nào đó và chỉ vì tình bạn nó vẫn còn sống suốt bẩy năm đó.
Bây giờ, các nhà khoa học đang tìm ra rằng cây rất nhạy cảm. Khi tiều phu tới để chặt cây nó run rẩy, và việc run rẩy của nó có thể được đọc trên đồ thị, giống như điện tâm đồ. Một công cụ nhỏ bé phải được gắn vào cây, và nó liên tục chỉ ra cách cây đang cảm thấy - liệu nó đang cảm thấy hạnh phúc, khoẻ mạnh... Khoảnh khắc cây thấy tiều phu tới... tiều phu không bắt đầu chặt cây nhưng nếu anh ta có ý tưởng trong tâm trí về chặt cây, đồ thị đột nhiên trở thành điên loạn, nó mất mọi hài hoà. Chỉ một khoảnh khắc trước, mọi thứ là hài hoà trên đồ thị, và bây giờ đồ thị lên và xuống. Cây phải run rẩy; tâm nó phải lo nghĩ.
Kì lạ - nó nhạy cảm với ý nghĩ của con người. Người đó đã không làm cái gì khi có liên quan tới chặt cây, chỉ ý tưởng có đó. Có lẽ cây còn nhạy cảm hơn chúng ta. Và nếu tiều phu đi qua mà không có ý tưởng gì, đồ thị vẫn còn như cũ.
Không chỉ cây mà người đó định chặt trở nên lo lắng, bận tâm, các cây khác xung quanh nó cũng bắt đầu cảm thấy lo nghĩ và bận tâm - vì một cây trong số chúng sẽ bị hại. Dường như rung động tinh tế từ tâm trí của người này, người định chặt hay không chặt, bị cây bắt được.
Toàn thể sự tồn tại này là nhạy cảm mênh mông.
Mọi thứ đều được làm bằng tâm thức.
Một khi bạn trải nghiệm tâm thức vũ trụ này, bạn không có đó - bạn bị bỏ lại xa đằng sau. Do đó mới có vấn đề về 'tự điều phục bản thân' và 'khởi tâm đại bi'.... Những phát biểu này của Đại Huệ là tuyệt đối vô nghĩa.
Ông ấy nói, rồi khởi tâm đại bi. Con người của chứng ngộ không phải khởi tâm từ bi; người đó thấy rằng nó đã có đó rồi. Nó tới cùng với chứng ngộ như sản phẩm phụ.
Chúng ta phải thực hành nó. Nếu bạn muốn từ bi bạn phải lập kỉ luật cho bản thân bạn, bạn phải thực hành... bạn phải thực hành chống lại bản thân bạn, vì bạn về cơ bản là bạo hành và độc ác. Sâu bên dưới bạn đang mang mọi con vật mà bạn đã trải qua trong tiến hoá.
Nhưng người chứng ngộ không thực hành từ bi. Người đó thậm chí không nghĩ về từ bi, người đó đơn giản thấy nó. Khi bản ngã của người đó biến mất và khi người đó nhận ra sinh lực vũ trụ tối thượng như của riêng mình - không phải là người đó chỉ là một phần của nó... Đó là cái gì đó rất khó hiểu.
P.D. Ouspensky, trong công trình vĩ đại của mình về giáo huấn của George Gurdjieff, Đi tìm điều huyền bí, có một phát biểu. Có toán học mà chúng ta biết - và Ouspensky đã là nhà toán học như một nghề nghiệp - tại đó bộ phận không bao giờ bằng cái toàn thể. Đó là toán học đơn giản. Làm sao bộ phận có thể bằng cái toàn thể được? Bộ phận bao giờ cũng ít hơn cái toàn thể.
Nhưng sống cùng Gurdjieff, thiền cùng ông ấy, ông ấy nói rằng sẽ tới một khoảnh khắc mà toán học cao hơn trở thành thực, chỗ mà bộ phận có thể bằng cái toàn thể và đôi khi bộ phận có thể lớn hơn cái toàn thể. Nhìn một cách logic nó là ngớ ngẩn, nhưng nhìn từ cảnh quan khác logic, từ cảnh quan của vô trí, tôi ủng hộ nó tuyệt đối. Có toán học cao hơn, thuộc vào vô trí, nơi bộ phận là toàn thể.
Cho nên khi người ta biến mất vào trong cái toàn thể, không phải là người đó chỉ là bộ phận; người đó là một với cái toàn thể. Người đó là toàn thể vũ trụ. Vấn đề về việc từ bi với bất kì ai không nảy sinh - vì không có người nào khác còn lại bên ngoài người đó! Cây ở bên trong người đó, con vật ở bên trong người đó, đại dương ở bên trong người đó, sao ở bên trong người đó; mọi thứ đều ở bên trong người đó. Người đó sẽ từ bi với ai? Nhưng người đó cảm thấy từ bi vô cùng.
Cũng dường như bạn đang ngồi trong phòng của bạn và không ai có đó. Nếu bạn là con người của yêu, mặc dầu không có ai trong phòng, bạn sẽ vẫn toả ra yêu, bạn sẽ vẫn toả ra từ bi; mặc dầu không có người nào trong phòng, nếu bạn là con người của chân lí bạn sẽ vẫn toả ra chân lí.
Cho nên hai điều cần được nhớ: con người của chứng ngộ thấy rằng với chứng ngộ nhiều thứ đã tới như sản phẩm phụ - và từ bi là một trong những điều quan trọng nhất. Nhưng không có người nào còn lại để người đó có thể từ bi với.
Đó là sự tồn tại huyền bí, kì lạ. Khi có hàng triệu người để từ bi hướng tới, điều đó khó thế cho bạn; bạn phải thực hành nó, bạn phải trải qua khổ hạnh, bạn phải lập kỉ luật cho bản thân bạn, bạn phải hành hạ bản thân bạn. Và khi từ bi tới với bạn theo cách riêng của nó, không có người nào còn lại để bạn có thể từ bi với họ!
Những điều nhỏ bé này chỉ ra liệu một người bản thân mình là chứng ngộ hay không, hay đơn giản lặp lại lời của người chứng ngộ khác. Đại Huệ nói, "điều phục bản thân ông" sau chứng ngộ. Dường như ai đó tới và nói với bạn khi bạn đã mang ánh sáng vào bên trong, "Bây giờ vứt bóng tối ra." Nó đích xác là loại phát biểu đó. Nếu ánh sáng có đó... Bóng tối chỉ là việc thiếu ánh sáng; bạn không thể tìm thấy nó.
Khi Thượng đế tạo ra thế giới, một hôm Bóng tối xuất hiện trước Thượng đế, rất gắt gỏng và cáu giận, và nói với Thượng đế, "Ngài phải làm cái gì đó đi! Mặt trời của ngài, suốt từ sáng tới tận tối, làm phiền nhiễu tôi một cách không cần thiết. Bất kì chỗ nào tôi đi, sớm hay muộn ông ấy đều tới và tôi phải chạy xa. Tôi không thể tìm được nghỉ ngơi, tôi không thể thảnh thơi, tôi phải liên tục cảnh giác. Mặt trời có thể tới bất kì khoảnh khắc nào.
"Tôi đã không làm hại gì cho mặt trời; thực ra chúng tôi thậm chí đã không được giới thiệu với nhau. Không có vấn đề thù địch, chúng tôi thậm chí không là bạn bè! Ngài cứ bảo mặt trời rằng cách cư xử xấu này - và điều đó nữa, với quí bà - là rất không quân tử! Hành vi nguyên thuỷ này phải được chấm dứt."
Thượng đế tuyệt đối được thuyết phục rằng điều này không nên là vậy. Ông ấy nói, "Bà phải thông báo cho ta từ trước chứ," và ông ấy lập tức phái sứ giả đem mặt trời ra toà án. Mặt trời đơn giản ngạc nhiên khi nghe nói rằng quí bà nào đó có tên là Bóng tối đã phàn nàn chống lại ông ấy: "Tôi đâu có biết quí bà nào như thế - tôi chưa bao giờ bắt gặp bà ấy, tôi chưa bao giờ gặp bà ấy! Tôi có thể gây hại gì khi không gặp bà ấy?"
Thượng đế rất giận, nhưng mặt trời nói, "Trước khi ngài trở nên giận thế và bắt đầu quát mắng tôi, xin cho tôi một cơ hội nói cái gì đã. Tôi không biết bất kì quí bà nào đang bị tôi quấy rầy. Cách giải quyết tốt nhất với ngài sẽ là đem quí bà đó ra trước tôi. Ít nhất tôi có thể thấy người này là ai đang phàn nàn chống lại tôi." Và kể từ đó trở đi Thượng đế đã cố gắng... Nhưng ông ấy chỉ có thể có được một người, hoặc mặt trời hoặc quí bà đó, nhưng không bao giờ có cả hai cùng nhau trên toà án. Thế là vụ kiện này vẫn còn trong hồ sơ.
Bạn không nên kết án quan liêu tồn tại trong thế giới này, nơi các hồ sơ chuyển với tốc độ chậm thế. Albert Einstein thường nói rằng ánh sáng có tốc độ lớn nhất, và tôi nói với bạn rằng hồ sơ có tốc độ chậm nhất. Tôi không nghĩ rằng Thượng đế sẽ có khả năng để cho cả hai bên có mặt ở toà án. Vụ kiện này không thể được giải quyết.
Đích xác cùng điều này là: khi chứng ngộ tới, bản ngã đã ra đi rồi. Khi chứng ngộ tới, hệt như cái bóng của nó từ bi bước vào, chân lí bước vào, cái đẹp bước vào, duyên dáng bước vào, phúc lạc bước vào. Mọi điều bạn đã từng tìm kiếm và đã không thể xoay xở có được thì nay được trút lên bạn.
Một trong các đệ tử của Phật Gautam - người đầu tiên trong các đệ tử của ông ấy trở nên chứng ngộ - là Văn Thù. Câu chuyện là hay... một hôm ông ấy đang thiền buổi sáng sớm, và khi mặt trời đang mọc trong làn gió mát buổi sáng, ông ấy đã trở nên chứng ngộ. Và câu chuyện này nói rằng toàn thể sự tồn tại bắt đầu trút hoa lên ông ấy. Hoa gì vậy? Chúng không thể chỉ là hoa mà chúng ta biết; chúng là hoa của từ bi, của yêu, của đẹp, của duyên dáng, của chân lí, của tính đích thực.
Những hoa này trút xuống bạn theo cách riêng của chúng. Đó là toàn thể sự tồn tại đang hân hoan trong chứng ngộ của bạn, vì chứng ngộ của bạn không chỉ là của bạn; nó nâng tâm thức của toàn thể sự tồn tại lên cao hơn. Với từng người trở nên chứng ngộ, toàn thể sự tồn tại trở nên được chứng ngộ hơn. Toàn thể sự tồn tại hân hoan và mở hội.
Đại Huệ không có ý tưởng về chứng ngộ và điều xảy ra như sản phẩm phụ.
tự điều phục, rồi khởi tâm đại bi làm mọi phương tiện để điều phục tất cả chúng sinh...
Điều này nữa là rất có ý nghĩa cho việc hiểu.
Phật Gautam đã kể lại nhiều câu chuyện về các kiếp quá khứ của ông ấy, và chúng hay và có ý nghĩa thế. Trong một trong những kiếp quá khứ của ông ấy, ông ấy đã nghe nói về một người đã trở nên chứng ngộ; tên người này là Phật Nhiên Đăng (Deepankar). Từ deepankar nghĩa là người có thể thắp sáng cây nến của bản thể bạn; từ 'lamplighter-người thắp đèn' là nghĩa đích xác của deepankar (Nhiên là đốt cháy, Đăng là đèn). Deep nghĩa là đèn, và deepankar nghĩa là người thắp đèn. Phật Gautam đã không chứng ngộ trong kiếp đó. Hàng nghìn người đã tới để gặp Phật Nhiên Đăng, và chỉ từ tò mò ông ấy cũng tới.
Khi ông ấy thấy Phật Nhiên Đăng - ông ấy không có ý định nào... Ông ấy đã tới đó chỉ vì tò mò, nhưng khoảnh khắc ông ấy thấy người này và cái đẹp của người này - đôi mắt sâu sắc kia nhắc nhở ông ấy về chiều sâu của đại dương - và trường năng lượng nào đó rung động quanh người này... không biết mình đang làm gì, với nước mắt lăn dài từ mắt, ông ấy chạm chân Phật Nhiên Đăng.
Bản thân ông ấy không thể tin được điều ông ấy đã làm và tại sao...? Ông ấy đã không tới để chạm chân người này, và tại sao những nước mắt này tới và tại sao ông ấy cảm thấy hạnh phúc mênh mông thế? Không cái gì thấy được đã xảy ra, nhưng cái gì đó vô hình đã chạm và tâm ông ấy, chuông trong tâm ông ấy đã bắt đầu reo. Âm nhạc tinh tế đã chạm vào ông ấy.
Và vào chính khoảnh khắc đó, khi ông ấy đứng trước Phật Nhiên Đăng, Phật Nhiên Đăng cúi mình và chạm chân Phật Gautam - người vẫn còn chưa chứng ngộ trong kiếp đó. Ông ấy không thể tin được điều đã xảy ra. Ông ấy hỏi, "Thầy làm gì thế? Nếu tôi chạm chân thầy điều đó là hoàn toàn đúng, tôi dốt nát. Nhưng thầy đã đạt tới tâm thức tối thượng - thầy không được cho là phải chạm chân tôi."
Và Phật Đăng Nhiên nói cái gì đó mà Phật Gautam vẫn nhớ khi ông ấy trở thành phật. Điều đầu tiên mà ông ấy nhớ vậy là phát biểu của Phật Nhiên Đăng về nhiều kiếp sống trước: "Đừng lo nghĩ. Hôm qua ta cũng đã là người dốt nát, hôm nay ta chứng ngộ; hôm nay ông là người dốt nát, ngày mai ông sẽ được chứng ngộ. Không có mấy khác biệt - nó chỉ là vấn đề thời gian. Khi ông trở nên chứng ngộ, nhớ lấy."
Khoảnh khắc ai đó trở nên chứng ngộ, với người đó toàn thể sự tồn tại trở thành được chứng ngộ - ít nhất là về tiềm năng. Người đó không thể thấy bản thân mình ở vị trí đặc biệt. Và đó là điều Đại Huệ đang cố nói - rằng bạn phải tạo ra phương cách và phương pháp nhờ đó mọi sinh linh hữu tình cũng có thể trở nên chứng ngộ.
Người thực sự thức tỉnh không làm cái gì để làm cho bất kì ai chứng ngộ. Chính sự hiện diện của người đó chắc chắn làm phép màu, chính bản thể người đó là phép thần, nhưng khi có liên quan tới người đó, bản thân người đó không còn nữa. Ai có đó để làm bất kì cái gì?
Vào ngày cuối cùng của đời mình, Phật Gautam đã nói - khi các đệ tử của ông ấy đang bày tỏ sự kính trọng với ông ấy rồi ông ấy rời khỏi thân thể - "Đừng cảm thấy biết ơn ta, vì ta đã không làm gì cả. Thực ra, từ ngày chứng ngộ xảy ra ta đã không ở trong sự tồn tại. Mọi thứ đã xảy ra quanh ta - đó là điều khác. Nhưng ta không là người làm; người làm chết rồi, người làm đã mất đi từ lâu trước khi chứng ngộ đi vào."
Mọi sự chắc chắn đã xảy ra, hàng trăm người trở nên chứng ngộ quanh Phật Gautam, nhưng ông ấy đã không làm bất kì cái gì cho họ được chứng ngộ. Ông ấy chỉ sẵn có, như giếng. Nếu bạn khát bạn lấy nước từ giếng lên và uống, nhưng giếng không làm bất kì cái gì.
Phát biểu của Đại Huệ chỉ ra rõ ràng rằng ông ấy đã không nếm trải bản thân kinh nghiệm này - ông ấy chỉ nghe nói về nó. Và thế rồi ông ấy nói,
Lão Mặt Vàng (Phật) đã nói: "Tâm chẳng vọng lấy pháp quá khứ. Cũng chẳng tham đắm việc vị lai. Ở nơi hiện tại vô sở trụ. Liễu đạt tam thế đều không tịch."
Phát biểu của Phật là đúng, nhưng việc tham chiếu vô lễ này tới Phật là 'Lão Mặt Vàng' là xấu tới mức điều đó chỉ ra tâm trí của Đại Huệ. Mặc dầu Đại Huệ đang trích dẫn Phật Gautam, dường như không có tôn kính gì. Những người trí thức rất lanh lợi trong phê bình, nhưng là tuyệt đối bất lực khi có liên quan tới việc biểu lộ kính trọng. Phê bình là rất dễ dàng vì nó rất đáp ứng cho bản ngã. Tôn kính là rất khó vì điều đó ngụ ý bạn phải đẩy bản ngã của bạn sang bên.
Đại Huệ muốn giả vờ rằng bản thân ông ấy là người chứng ngộ, nhưng dầu vậy ông ấy không thể biểu lộ được kính trọng với Phật Gautam. Gọi Phật Gautam là 'Lão Mặt Vàng' là không thể hình dung được. Nhưng bản ngã của ông ấy bị tổn thương ở đâu đó. Theo cách rất tinh vi, từ cửa sau, nó báo thù.
Trích dẫn lời của Phật Gautam là hay:
"Tâm chẳng vọng lấy pháp quá khứ. Cũng chẳng tham đắm việc vị lai. Ở nơi hiện tại vô sở trụ. Liễu đạt tam thế đều không tịch."
Nó là một phát biểu rất có ý nghĩa, đặc biệt với chúng ta, vì lần đầu tiên, trên cơ sở khoa học, thời gian không còn là như nó vẫn được dùng. Từ Albert Einstein trở đi, thời gian đã trở thành chiều thứ tư của không gian.
Thời gian là tĩnh lặng, cũng như không gian là tĩnh lặng. Nó không đi bất kì đâu cũng không tới từ bất kì đâu. Chính chỉ vì ngôn ngữ của chúng ta mà liên tục nói rằng thời gian đang trôi qua. Thực ra, chúng ta đang trôi qua, thời gian đứng tĩnh lặng.
Thời gian không có chuyển động. Không chỉ có khó khăn về khoa học, mà cả khó khăn về logic. Nếu thời gian chuyển động, chẳng hạn như dòng sông... nếu thời gian chuyển động, thế thì phải có cái gì đó ở cả hai phía của dòng sông, bất động. Sông chỉ chuyển động trong tương phản với đôi bờ bất động. Nếu không có hai bờ tĩnh lặng, làm sao sông có thể di chuyển được?
Thỉnh thoảng bạn có thể đã ngồi trên tầu hoả, với tầu khác đang đứng trên đường ray bên cạnh, và đột nhiên bạn cảm thấy rằng tầu hoả của bạn đã bắt đầu di chuyển. Thế rồi bạn nhìn vào sân ga, và bạn nhận ra rằng tầu hoả của bạn không chuyển động vì sân ga vẫn đấy. Tầu hoả kia đang chuyển động. Nhưng nếu sân ga không có đó... Nghĩ mà xem, nếu không có cái gì ở phía bên kia - chỉ không gian trống rỗng - làm sao bạn xoay xở biết được liệu tầu hoả của bạn đang chuyển động hay tầu hoả kia đang chuyển động?
Ví dụ này thậm chí có thể lấy thêm nữa. Nếu hai tầu hoả trong không gian, hay hai máy bay trong không gian, đang di chuyển song song theo cùng một hướng, không ai sẽ cảm thấy rằng có bất kì chuyển động nào - vì để cảm thấy chuyển động bạn cần cái gì đó tĩnh tại tương phản lại.
Nếu bạn nói thời gian đang chuyển động, bạn phải chỉ ra nó chuyển động so với cái gì.
Thời gian là tĩnh lặng; chỉ tâm trí đang chuyển động.
Những thời này - quá khứ, hiện tại và tương lai - không phải là thời của thời gian; chúng là thời của tâm trí. Cái không còn đó trước tâm trí trở thành quá khứ. Cái ở trước tâm trí là hiện tại. Và cái sẽ ở trước tâm trí là tương lai.
Quá khứ là cái không còn nữa trước bạn.
Tương lai là cái còn chưa có trước bạn.
Và hiện tại là cái ở trước bạn và đang trượt ra khỏi tầm nhìn của bạn. Nó sẽ sớm là quá khứ.
Phật đang nói: Nếu ông không níu bám lấy quá khứ... vì níu bám quá khứ là tuyệt đối ngu xuẩn. Nó không còn đó nữa, cho nên ông đang kêu khóc vì sữa đổ. Cái qua rồi là qua rồi! Và không níu bám lấy hiện tại vì cái đó cũng đang trôi qua và sẽ sớm là quá khứ. Không níu bám lấy tương lai - hi vọng, tưởng tượng, kế hoạch cho ngày mai - vì ngày mai sẽ trở thành hôm nay, sẽ trở thành hôm qua. Mọi thứ đang trở thành hôm qua.
Mọi thứ đang đi ra khỏi tay bạn.
Việc níu bám sẽ đơn giản tạo ra khổ.
Bạn sẽ phải buông bỏ.
Bạn không thể xoay xở ngăn cản quá trình mọi thứ chuyển ra khỏi tầm nhìn của bạn, cho nên tốt hơn cả là chỉ quan sát, chỉ chứng kiến, và để mọi thứ ở bất kì chỗ nào chúng muốn - trong quá khứ, trong hiện tại, trong tương lai. Bạn không bị rối loạn, vì mọi thứ đang sắp rơi vào trong quá khứ.
Duy nhất một thứ sẽ còn lại với bạn: đó là việc chứng kiến của bạn, đó là việc quan sát của bạn. Việc quan sát này là thiền.
Tâm trí là kẻ níu bám - nó bám lấy, nó tích trữ, nó sở hữu. Nhân danh trí nhớ nó thu thập mọi quá khứ. Nhân danh lập kế hoạch cho tương lai nó bám lấy hi vọng, ham muốn, tham vọng - và nó khổ. Tâm trí liên tục trong căng thẳng, liên tục trong phiền não - bao giờ cũng trong rối loạn.
Phật đang nói: Nếu ông có thể chỉ vẫn còn im lặng và là nhân chứng, mọi khổ, mọi lo nghĩ, mọi căng thẳng sẽ biến mất. Và sẽ có im lặng và sáng tỏ mà ông chưa bao giờ nghĩ tới. Sáng tỏ này sẽ đem ông tới thức tỉnh; chính việc chứng kiến mà, khi nó chín muồi, chung cuộc trở thành việc thức tỉnh.
Việc chứng kiến có thể được gọi là hạt mầm và chứng ngộ có thể được gọi là hoa. Nhưng bắt đầu từ chứng kiến đi, và thế thì nó bắt đầu lớn lên. Liên tục nuôi dưỡng nó, liên tục chăm nom cho nó, liên tục tưới nước cho nó, làm mạnh nó theo mọi cách có thể - và một ngày nào đó nó sẽ nở hoa. Ngày đó sẽ là ngày vĩ đại nhất của đời bạn.
Việc quá khứ hoặc thiện hoặc ác chớ nên suy lường. Đây là bình luận của Đại Huệ về phát biểu của Phật - và bạn có thể thấy khác biệt. Việc quá khứ chớ nên suy lường... Phật không nói bất kì cái gì về suy nghĩ; ông ấy đơn giản nói, không níu bám!... hoặc thiện hoặc ác - Phật không nói gì về thiện hay ác.
Suy lường thì chướng đạo. Phật không nói về bất kì chướng đạo nào. Phát biểu của ông ấy rất đơn giản. Ông ấy đang nói nếu bạn không níu bám quá khứ, hiện tại và tương lai, thế thì mọi thứ là trống rỗng và tĩnh lặng.
Không có gì khác để nói. Thêm bất kì cái gì khác sẽ là thừa.
Việc vị lai chớ nên tính toán. Bây giờ Đại Huệ nghĩ ông ấy đang làm giầu thêm cho phát biểu của Phật. Tính toán ắt cuồng loạn. Bản thân ông ấy đang lẫn lộn cuồng loạn; phát biểu của Phật là đầy đủ - đầy đủ không chê vào đâu được. Không có gì để được thêm vào nó.
Việc hiện tại ở trước mắt hoặc thuận hoặc nghịch
Ông ấy đơn giản đem tâm trí riêng của ông ấy về tốt xấu, về thuận và nghịch ý.
cũng chớ nên để ý, để ý thì trong tâm bị nhiễu loạn.
Bây giờ ông ấy thực sự lẫn lộn cuồng loạn!
Nhân chứng không là tâm trí không là tâm.
Tâm trí là việc phân chia, cái làm việc nghĩ, và tâm là việc phân chia khác của cùng tâm trí, làm việc cảm. Cảm và nghĩ, ý nghĩ và xúc động... nhưng việc chứng kiến là tách rời khỏi cả hai. Dù bạn nghĩ, người quan sát quan sát... một ý nghĩ trôi qua, hay bạn cảm thấy giận - nhân chứng vẫn quan sát. Một xúc động trôi qua, cũng như mây trôi qua và bạn nhìn chúng.
Bạn không là tốt không là xấu.
Bạn không là hài lòng không là không hài lòng.
Bạn không là ý nghĩ không là xúc động.
Bạn không là tâm trí không là tâm.
Nhưng Đại Huệ nói,
để ý thì trong tâm bị nhiễu loạn. Cuộc sống hàng ngày tùy duyên ứng phó, tất cả chỉ xem là tạm thời thì sẽ thích ứng nguyên lí tự nhiên.
Nguyên lí gì? Ông ấy đang nói tới nguyên lí gì? Phật đã không cho bất kì nguyên lí nào. Ông ấy đã đơn giản giải thích một điều đơn giản: nếu bạn níu bám, bạn khổ; nếu bạn không níu bám, bạn đạt tới an bình và im lặng.
Phật không phải là người đạo đức hay người khắt khe đạo đức. Ông ấy không quan tâm tới cái gì là tốt và cái gì là xấu. Toàn thể quan tâm của ông ấy là rất đơn giản, và đó là: bạn phải không ngủ. Về mặt tâm linh, bạn phải thức và thế thì mọi thứ khác sẽ được giải quyết. Bạn không phải làm bất kì cái gì khác.
Gặp cảnh giới nghịch còn dễ tu. Bây giờ anh chàng cuồng loạn này tiếp tục.... Gặp cảnh giới nghịch còn dễ tu, gặp cảnh giới thuận mới là khó. Lúc nghịch ý ta chỉ cần một chữ nhẫn chốc lát liền qua được, lúc cảnh giới thuận thì thật là chẳng có chỗ để trốn tránh, vì cảnh giới thuận ý mình ham thích như nam châm hút sắt dính chặt một chỗ.
Điều tốt là suy ngẫm về những phát biểu của những người đã về tới nhà, nhưng suy ngẫm của bạn nên làm cho chúng giầu có hơn theo cách nào đó. Nếu bạn lôi điều họ đã nói vào trạng thái thấp hơn, bạn rất bất công. Tốt hơn cả là không nói gì nếu bạn không biết. Nhưng đây là vấn đề với những người trí thức: họ phải nói cái gì đó. Bất kì cái gì Đại Huệ nói đều tầm thường, vô nghĩa tới mức nó không giúp bạn theo bất kì cách nào để đi vào trong không gian của chứng ngộ. Ngược lại, ông ấy bắt đầu đem vào những thứ sẽ chắc chắn làm bạn lẫn lộn.
Phải hiểu rất rõ ràng rằng đạo đức không phải là tôn giáo, mặc dù tôn giáo mang tính đạo đức. Người đạo đức không nhất thiết có tính tôn giáo, nhưng người tôn giáo nhất thiết có đạo đức; người đó không thể khác được. Người đạo đức thậm chí không nhất thiết có quan tâm tới tôn giáo: người đó có thể là người vô thần, người đó có thể là người bất khả tri - dầu vậy người đó có thể có đạo đức. Nhưng người tôn giáo không có khả năng nào là vô đạo đức. Chính tâm thức của người đó là đủ để cho người đó chiều hướng đúng. Người đó không phụ thuộc vào lời dạy bảo do những người sáng lập tôn giáo lớn cho hay bởi kinh sách tôn giáo; người đó có hướng dẫn của mình theo nhận biết riêng của mình.
Và bởi vì người đó sống tương ứng theo ánh sáng riêng của người đó, có niềm vui trong việc sống của người đó. Đạo đức của người đó không phải là gánh nặng. Đạo đức của người đó không phải là cái gì đó được áp đặt lên người đó. Đạo đức của người đó là cái gì đó giống như niềm vui tràn ngập, hân hoan thừa thãi. Người đó yêu vì người đó có nhiều yêu thế. Người đó không thể ghét được vì ghét đã biến mất khỏi bản thể người đó.
Tôi nhớ tới một người đàn bà rất vĩ đại - Rabiya al-Adabiya, người đàn bà Sufi. Nhà huyền bí Sufi vĩ đại, Hassan, đã ở cùng với Rabiya. Vào buổi sáng ông ấy muốn đọc Koran linh thiêng. Ông ấy đã không mang sách riêng của mình, cứ tưởng rằng Rabiya phải có Koran linh thiêng và điều đó sẽ có tác dụng.
Rabiya đưa cho ông ấy cuốn sách của bà ấy. Ông ấy mở nó ra và ông ấy sửng sốt, vì Rabiya đã sửa nhiều chỗ trong Koran linh thiêng! Với bất kì người tôn giáo cuồng tín nào, với bất kì người chính thống nào, không cái gì có thể báng bổ hơn. Người Mô ha mét giáo không thể nghĩ được rằng bạn có thể sửa sứ giả duy nhất của Thượng đế, và là sứ giả cuối cùng. Bây giờ Thượng đế sẽ không gửi ấn bản khác đã được cải tiến của kinh sách linh thiêng của ngài. Bản cuối cùng ngài đã gửi là Koran linh thiêng. Người Mô ha mét giáo nói chỉ có một Thượng đế; một nhà tiên tri, Mohammed, và một kinh sách linh thiêng, Koran. Và bà già này, Rabiya, đang làm sửa chữa - bà ấy đã cắt đi vài dòng hoàn toàn!
Hassan nói, "Rabiya này, dường như ai đó đã làm hỏng sách của bà."
Rabiya nói, "Không ai đã làm hỏng sách của tôi. Tôi đã đơn giản sửa nó đấy."
Hassan nói, "Tôi không thể hiểu được. Tôi bao giờ cũng nghĩ rằng bà là người đàn bà tôn giáo lớn. Tôi không thể quan niệm được rằng bà sẽ làm điều như vậy."
Bà ấy nói, "Tôi phải làm điều đó. Nhìn vào điều tôi đã xoá đây này!" Câu trong Koran là: "Khi ông thấy quỉ, ghét quỉ." Và bà ấy đã xoá nó đi.
Rabiya nói, "Vì tôi đã trải nghiệm bản thể bên trong nhất của tôi, tôi không có bất kì ghét nào còn lại. Cho dù quỉ đứng trước tôi, tôi không có gì cúng dường ngoài yêu. Tôi phải sửa Koran. Nó là sách của tôi; nó phải tương ứng với kinh nghiệm của tôi! Mohammed không có độc quyền. Tôi sẽ không dung thứ bất kì cái gì trong sách của tôi mà đi ngược lại kinh nghiệm của tôi."
Con người của chứng ngộ đầy yêu, đầy vui, tới mức người đó chia sẻ nó. Việc chia sẻ tới với người đó mà không có nỗ lực nào - nó không phải là nỗ lực, nó không phải là hành động. Đó là lí do tại sao những người như Lão Tử nói "hành động vô hành động," và "nỗ lực vô nỗ lực."
Nhưng những người như Đại Huệ không thể hiểu được điều đó. Với họ, "nỗ lực vô nỗ lực" và "hành động vô hành động" sẽ có vẻ như những phát biểu phi logic, ngớ ngẩn. Làm sao có thể có hành động vô hành động được? Làm sao có thể có nỗ lực mà không nỗ lực nào? Nhưng tôi biết rằng một khi bạn thức tỉnh, bạn không làm bất kì cái gì - mọi thứ bắt đầu xảy ra. Nó chỉ là việc tràn ra tự phát, chỉ như hoa hồng tới trên bụi hồng, không có nỗ lực gì.
Yêu và từ bi, tốt và đẹp, duyên dáng và phúc lành, đơn giản tới mãi từ việc quá tràn đầy. Cũng như mây mưa trút xuống mà không có nỗ lực nào, người thức tỉnh cũng rút ra mà không có nỗ lực nào. Và cái đẹp của vô nỗ lực - và vậy mà xảy ra vô cùng - oai nghiêm thế. Nó là huy hoàng tối thượng trong sự tồn tại.
Phật Gautam đã nói... Trong bốn mươi hai năm liên tục ông ấy đã nói, và lúc kết thúc ông ấy nói, "Ta đã không thốt ra một lời." Và ông ấy là đúng, vì ông ấy đã không làm bất kì nỗ lực nào để nói. Nó đã chỉ là mây mưa trút xuống, nó đã là bụi hồng đem tới hoa hồng mà không nỗ lực nào, không hành động nào. Phật đã phải nói vì ông ấy tràn đầy thế. Mọi thơ ca đó, mọi âm nhạc đó, mọi điều đi ra từ ông ấy đơn giản là tự phát.
Người đạo đức làm nỗ lực; người đó cố gắng làm điều tốt, người đó né tránh làm điều xấu. Toàn thể cuộc sống của người đó liên tục là "Làm cái này" hay "Không làm cái kia." Người đó bao giờ cũng chia chẻ, và người đó bao giờ cũng lo nghĩ về liệu điều người đó đang làm có đúng không... nó có thực sự đúng không? Hay, ai biết được? - nó có thể không đúng. Người đạo đức hành động từ lẫn lộn. Người đó tuỳ thuộc vào người khác, những người bản thân họ cũng có thể đã bị lẫn lộn.
Lời cuối cùng của Phật Gautam trên thế gian là, "Là ánh sáng lên bản thân ông đi. Đừng bận tâm về điều người khác nói, đừng bận tâm về truyền thống, chính thống, tôn giáo, đạo đức. Chỉ là ánh sáng lên bản thân ông."
Chỉ một ánh sáng nhỏ là đủ, và bạn có thể đi tiếp với ánh sáng đó cho mười nghìn dặm đường mà không có bất kì khó khăn gì. Ánh sáng của bạn có thể chiếu chỉ một mét phía trước bạn - cứ liên tục chuyển động đi. Khi bạn chuyển động, ánh sáng sẽ đi lên trước, và nếu bạn có thể thấy phía trước một mét, điều đó là đủ. Bạn có thể đi xa như bạn muốn. Bạn có thể liên tục đi cuộc hành hương vĩnh hằng với chỉ một ánh sáng nhỏ của riêng bạn.
Không sống theo ánh sáng vay mượn.
Không sống theo mắt vay mượn.
Không sống theo khái niệm vay mượn.
Sống theo ánh sáng riêng của bạn, và cuộc sống của bạn sẽ, mỗi và mọi khoảnh khắc, là niềm vui lớn hơn, phúc lạc lớn hơn, cực lạc lớn hơn.
Được chứ, Maneesha?

Vâng, thưa Osho.

0 Đánh giá

Ads Belove Post

Powered by RedCircle