Chương 20. Ưu phiền

Chương 20. Ưu phiền

Price:

Read more

Thiền sư lớn Đại Huệ - Tập 2 - Osho
Suy nghĩ về biến đổi từ trí thức sang chứng ngộ
Chương 20. Ưu phiền
Osho kính yêu,
Sức mạnh
... Các giác quan là biểu lộ của tâm trí riêng của người ta. Nếu ông có thể hiểu thấu đáo như điều này, thì nó được gọi là tri thức không có cái ngã không có người khác. Cõi trời và địa ngục không có ở đâu khác ngoài trong tâm của người.
... Ngay khi ông trở nên nhận biết về bảo tồn dần dần sức mạnh ở giữa những ưu phiền của hoạt động hàng ngày - đây là cách con người đạt tới phật tính.
... Khi ông thấy nó như nó thực sự vậy, thực hành tương ứng với thực tại và hành động tương ứng với thực tại.
... Chỉ nếu ông đi tới giai đoạn này ông mới có thể nói không có cõi trời hay địa ngục, và những điều như vậy. Chứng Đạo Ca nói, "Không có chúng sinh không có chư phật. Vũ trụ giống như bong bóng trong đại dương, mọi hiền nhân giống như tia chớp." Nếu ông ấy mà không tới giai đoạn này, làm sao Chứng Đạo Ca đã nói điều này? Nhưng với những lời này, những người hiểu lầm là nhiều...
Cảm xúc và ưu phiền ... Chính xác khi bị ưu phiền mà ông phải điều tra cẩn thận và truy hỏi ưu phiền nảy sinh từ đâu. Nếu ông không thể đi tới tận đáy của nguồn gốc của nó, thì người bị ưu phiền ngay bây giờ tới từ đâu? Ngay khi ông bị ưu phiền, nó có tính tồn tại hay vô tồn tại, rỗng hay thực? Giữ việc điều tra cho tới khi tâm trí ông không có đâu mà đi. Nếu ông muốn nghĩ, thì nghĩ; nếu ông muốn khóc, thì khóc. Cứ giữ việc khóc và nghĩ tiếp tục. Khi ông khuấy động bản thân ông tới điểm mà năng lượng thói quen của yêu và mến bên trong tâm thức nhà kho bị cạn kiệt, thì một cách tự nhiên nó giống như nước quay trở lại nước - cho ông quay lại bản thể nguyên thuỷ của ông, không ưu phiền, không ý nghĩ, không buồn hay vui.
"Đã đi vào thế giới, để lại thế giới một cách đầy đủ." Liệu có điều như người bố không bị đau buồn khi con mình chết không? Nếu ông cố kìm nén (những tình cảm như vậy) một cách cưỡng bức, không dám khóc hay nghĩ về nó, thế thì đây là chủ định đi ngược lại hình mẫu tự nhiên, phủ nhận bản tính cố hữu của ông: (nó giống) tăng âm thanh để dừng tiếng vọng, hay đổ dầu tiếp để dập lửa.
Đại Huệ, người bắt đầu tìm kiếm, đã biến mất trong việc tìm kiếm. Bây giờ người đang nói không còn là Đại Huệ cũ nữa; ông ấy là sự gián đoạn. Người cũ mất đi và người mới sinh ra. Bất kì cái gì ông ấy nói bây giờ đều có ý nghĩa khác toàn bộ: nó không đi ra từ tâm trí ông ấy, nó đang đi ra từ kinh nghiệm của ông ấy.
Một trong những kinh nghiệm có ý nghĩa nhất là sức mạnh - sức mạnh không trên người khác, nhưng đơn giản là năng lượng lớn vô cùng nảy sinh trong bạn từ chính cốt lõi của bản thể bạn. Không phải là bạn mạnh trên người khác, nó đơn giản rằng bạn là mạnh. Sức mạnh trên người khác có thể bị lấy đi dễ dàng; nó lệ thuộc vào người khác, nó không phải là của bạn. Bạn đơn giản che giấu bất lực của bạn.
Mọi chính khách trên thế giới đều ốm yếu về tâm lí. Ốm yếu của ông ấy là phức cảm tự ti sâu sắc, bất lực sâu sắc. Bây giờ, chỉ có hai cách để thoát ra khỏi trạng thái bất lực này: cách rẻ nhất và đơn giản nhất là trở nên mạnh trên người khác. Nhưng đó là kinh nghiệm ảo tưởng - chắc chắn rẻ, nhưng không thực.
Sức mạnh thực chỉ tới với kinh nghiệm về bản thể riêng của bạn.
Đó là chỗ chính trị và tôn giáo tách bạch. Việc truy hỏi của họ về căn bản là như nhau - việc tìm sức mạnh - nhưng chính trị chọn cách rẻ nhất, cách giả nhất để đạt tới sức mạnh, và tôn giáo đi vào việc tìm cái đích thực, cái thực, của riêng bạn.
Nếu bạn là độc lập, tuyệt đối được bắt rễ trong bản thể riêng của bạn, kinh nghiệm về sức mạnh này có thể được chia sẻ. Nếu bạn ở gần với con người của sức mạnh và bạn không sợ việc mở ra, bạn sẽ lập tức thấy tia chớp lớn, dòng chảy lớn đi vào trong bản thể bạn, dường như ngọn lửa đã nhảy từ ngọn đèn này sang ngọn đèn khác. Nó đã được gọi là, theo truyền thống của Thiền, việc truyền trao ngọn đèn. Nó là việc truyền sức mạnh, và nó là kinh nghiệm rất kì lạ.
Một trong các đệ tử của Gurdjieff - có lẽ là người ở cùng ông ấy lâu nhất - là Bennett. Ông ấy đã tìm thấy Gurdjieff trong trại tị nạn ở Constantinople sau cuộc cách mạng Nga. Gurdjieff đã trốn khỏi Nga. Ông ấy biết rằng ở lại nước Nga sẽ là tuyệt đối nguy hiểm cho cuộc đời ông ấy, và các đệ tử của ông ấy, những người đã ở quanh ông ấy cũng thuyết phục ông ấy trốn đi đúng lúc. Đã có mọi nguy hiểm, đặc biệt từ những người cộng sản, người không tin vào bất kì tâm linh nào, người không tin rằng con người có cái gì đó vĩnh hằng trong mình - và đó là công trình cả đời của Gurdjieff.
Đã có hỗn độn khắp nước. Sa hoàng và chính phủ đã thất bại, sụp đổ. Người cộng sản còn chưa có khả năng thiết lập trật tự và hoà bình. Mọi thứ đều trong hỗn độn; toàn thể hệ thống quan liêu đã bị phá vỡ - và đó là lúc tất cả những người muốn thoát khỏi Nga có cơ hội.
Gurdjieff lên bờ ở Constantinople, trong một trại tị nạn, nơi đã có hàng nghìn người Nga vô gia cư. Bennett đã phát hiện ra ông ấy trong trại tị nạn ở Constantinople. Đó là lần đầu tiên thế giới đi tới biết về Gurdjieff. Bennett ở trong quân đội; ông ấy đã giúp Gurdjieff tới Paris, và bất kì khi nào ông ấy có khả năng ông ấy sẽ đến và sống cùng Gurdjieff.
Bennett nhớ trong cuốn tự tiểu sử của mình cái gì đó liên quan tới sức mạnh. Ông ta đã tới, hoàn toàn mệt mỏi, để gặp Gurdjieff, và ông ta cảm thấy trong vài ngày dường như ông ta sắp chết, dường như mọi sức mạnh để chống lại ốm yếu đã biến mất. Ông ta tái nhợt, yếu ớt, và ông ta phải tới chỉ để gặp Gurdjieff lần cuối cùng, tưởng rằng ông ta không thể nào gặp Gurdjief lần nữa.
Khi ông ta đi vào phòng của Gurdjieff, Gurdjieff nói, "Cái gì đã xảy ra cho ông vậy, Bennett? Đây không phải là lúc cho ông chết." Ông ấy đặt tay lên đầu Bennett, và Bennett không thể tin được vào điều đó: một năng lượng lớn bắt đầu chảy từ tay ông ấy vào thân thể của Bennett. Bennett lại trở nên trẻ trung, chỉ trong vài phút. Ông ta mở mắt ra, ông ta không thể nào tin được vào điều đó. Ông ta nhìn vào tay mình - mọi chỗ tái xanh đã biến mất. Có cảm giác về trẻ lại, gần như tái sinh.
Nhưng khi ông ta nhìn Gurdjieff, ông ta không thể tin được điều đó - ông ấy đã trở nên tái xanh. Bennett chưa bao giờ thấy ông ấy yếu thế, và ông ta có thể thấy điều đã xảy ra: Gurdjieff đã trao cho bản thân ông ta, sinh lực của ông ấy, năng lượng của ông ấy cho ông ta.
Gurdjieff nói, "Đừng lo nghĩ. Tôi sẽ cần chỉ mười phút để được làm đầy lại." Ông ấy đi vào trong phòng tắm và khi ông ấy quay lại, sau mười phút, ông ấy đã lại như cũ - đầy năng lượng. Bennett muốn biết nhiều hơn về cái gì đã xảy ra.
Gurdjieff nói, "Nếu ông liên tục thực hành kỉ luật mà tôi đã trao cho ông, một ngày nào đó ông sẽ thấy cho bản thân ông rằng mọi người đều có nguồn sức mạnh không cạn. Đó là tình huống khẩn thiết, khẩn cấp, cho nên tôi đã rót bản thân tôi ra; bằng không ông chắc chắn đã chết. Nhưng tôi biết rằng nó gần như cái giếng: ông có thể lấy nước ra... nếu ông làm điều đó nhanh, giếng có thể trở nên trống rỗng - nhưng chỉ trong mười phút, vì nhiều dòng chảy đang tới và rót đầy giếng. Nó sẽ sớm đầy lại. Ông cần nhiều tới mức tôi không thể cho chậm được, tôi phải rót bản thân tôi một cách toàn bộ."
Tất cả các bạn đều có sức mạnh đó. Nó chẳng liên quan gì tới bất kì ai khác; nó có cái gì đó liên quan tới gốc rễ của bạn trong sự tồn tại. Bạn càng trở nên nhận biết về gốc rễ của bạn trong sự tồn tại, bạn càng trở nên mạnh hơn.
Sức mạnh này không có cái tương đương trong bất kì nguồn năng lượng khác nào; nó không là vật chất, nó không là điện, nó không là nguyên tử, nó không là hạt nhân. Nó là tâm linh. Nó là chiều hướng khác toàn bộ, điều khoa học thậm chí còn chưa động tới. Nhưng mọi nhà huyền bí của thế giới đã sống trong nó, đã nhảy múa trong nó và đã cho đệ tử của họ mà không hạn chế nào - vì họ càng cho nó nhiều, sự tồn tại càng mang tới cho bạn từ các nguồn vô hình.
Con người giống cây. Như cây có rễ trong đấy, điều bạn không thấy, con người có rễ trong sự tồn tại điều là vô hình.
Một khi bạn trở nên nhận biết về trung tâm bên trong nhất của bạn, vào chính lúc đó bạn trở nên nhận biết về sức mạnh mênh mông của bạn. Và sức mạnh này không bao giờ có thể làm bất kì hại gì cho bất kì ai. Sức mạnh này có thể được dùng chỉ như ân huệ. Đại Huệ đang nói về sức mạnh này.
Các giác quan là biểu lộ của tâm trí riêng của người ta. Thực ra, tâm trí và giác quan là một hiện tượng. Các giác quan là cửa của tâm trí, kết nối nó với thế giới. Mắt, tai, mũi, tay, toàn thân - tất cả sáu giác quan của bạn không là gì ngoài sáu kết nối với sự tồn tại.
Tâm trí liên tục thu thập thông tin, năng lượng, chất nuôi dưỡng, từ mọi giác quan này. Tâm trí chỉ là giác quan thứ bẩy của bạn và không gì khác - hay nói cách khác, cái vũng trung tâm. Từ mọi giác quan, bất kì cái gì tới đều rơi vào trong tâm trí. Các giác quan là biểu lộ của tâm trí riêng của người ta.
Nếu ông có thể hiểu thấu đáo như điều này, thì nó được gọi là tri thức không có cái ngã không có người khác. Nếu bạn có thể trở nên nhận biết về tâm trí bạn, giác quan của nó, và chỉ là người quan sát, hai thứ sẽ biến mất: cái ngã và bản thân người khác, ta và ngươi.
Một trong những nhà tư tưởng Do Thái lớn của thời đại chúng ta, Martin Buber, đã làm việc cả đời ông ấy chỉ trên một chủ đề. Chủ đề của ông ấy là đối thoại, và cuốn sách trung tâm và bản chất nhất của ông ấy là cuốn Ta và Ngươi. Ông ấy nói, "Kinh nghiệm tối thượng là đối thoại giữa Ta và Ngươi."
Ông ấy rất giỏi nói, cực kì thông minh, chắc chắn là một trong những thiên tài vĩ đại nhất của thời đại này - nhưng ông ấy không phải là nhà huyền bí. Ông ấy vẫn nói dưới dạng nhị nguyên, Ta và ngươi. Điều ông ấy đề nghị là hay: rằng phải có đối thoại. Ngay bây giờ, cho dù bạn yêu ai đó, không có đối thoại; có xung đột liên tục, nỗ lực chi phối, không phải là nỗ lực để hiểu lẫn nhau.
Một trong những người bạn của tôi là một giáo sư. Bác sĩ của ông ấy phát mệt, vợ ông ấy, con ông ấy, mọi người đều mệt về việc uống rượu của ông ấy. Bác sĩ tới tôi và nói, "Chúng tôi đã thử mọi cách có thể, nhưng bạn của ông đơn giản dường như không có khả năng bỏ thói quen uống rượu. Ông ấy sẵn lòng chết, nhưng không bỏ uống."
Thế là tôi đi tới gặp anh ta. Trước khi tôi có thể gặp anh ta - anh ta ở trong phòng tắm - vợ anh ta bảo tôi, "Mới hôm nọ tôi đọc trên báo về mọi cái hại có thể xảy ra cho người say. Thế là tôi đi vào phòng ngủ... vì anh ấy vẫn còn dư vị say. Tôi lay anh ấy và bảo anh ấy, 'Xem bao nhiêu nguy hiểm có đó cho người say, bao nhiêu thứ trong thân thể có thể đi sai.'
Anh ấy nghe, và tôi sung sướng vì anh ấy nói, 'Đủ rồi, anh sẽ thôi nó từ mai.' Và hôm sau anh ấy thôi không mua báo nữa, nhưng việc uống rượu vẫn tiếp tụp - sao bận tâm về báo chí tạo ra rắc rối thế?"
Loại đối thoại nào là có thể đây? Không ai dường như lắng nghe bất kì ai khác: mọi người đều nói, nhưng họ tất cả đều độc thoại.
Cho nên luận đề của Martin Buber có tầm quan trọng của riêng nó: rằng nhân loại sẽ là tốt hơn nếu mọi người có thể đi tới hiểu biết, có thể thấy quan điểm của người khác, có thể ở vào hoàn cảnh của người khác. Đó là khả năng duy nhất cho việc có thế giới hoà bình. Nhưng ông ấy không hiểu rằng ngay cả đối thoại, mặc dầu là điều hay trong bản thân nó, sẽ không đem lại hoà bình trên thế giới.
Duy nhất một điều có thể mang tới hoà bình trên thế giới, và đó là khi ta và ngươi, cái ngã và cái ngã của người khác, tất cả biến mất. Một cảm giác nảy sinh về cái một, của một tâm thức, của một hiện hữu. Và nó có thể nảy sinh, vì nó là thực tại.
Nếu ông có thể hiểu thấu đáo như điều này, thì nó được gọi là tri thức không có cái ngã không có người khác. Cõi trời và địa ngục không có ở đâu khác ngoài trong tâm của người. Vì chúng ta đang nghĩ về bản thân chúng ta như tách rời khỏi mọi người khác, chúng ta đã tạo ra địa ngục. Nếu chúng ta có thể bắt đầu có hài hoà, hoà điệu sâu sắc với nhau, chính trái đất này là thiên đường hoa sen.
Ngay khi ông trở nên nhận biết về bảo tồn dần dần sức mạnh ở giữa những ưu phiền của hoạt động hàng ngày - đây là cách con người đạt tới phật tính. Và bởi vì bạn liên tục trong xung đột với người khác, bạn đang đánh mất sức mạnh của bạn. Nếu mọi xung đột biến mất - điều đó nghĩa là nếu bạn hiểu và cảm thấy cái một với sự tồn tại - thế thì bạn sẽ bắt đầu bảo tồn sức mạnh của bạn mà không có nỗ lực nào, vì không có người nào khác để tranh đấu, không có cách nào phá huỷ được sức mạnh của bạn trong những trận chiến không cần thiết. Bạn sẽ bảo tồn nhiều sức mạnh tới mức cho dù bạn bị dính líu vào các hoạt động thường ngày của cuộc sống, bạn sẽ đạt tới phật tính ở bất kì chỗ nào bạn hiện hữu.
Đây là sáng suốt vô cùng của Đại Huệ. Bây giờ ông ấy không nói từ tâm trí; bây giờ ông ấy đang nói những điều chỉ con người của kinh nghiệm có thể nói.
Khi ông thấy nó như nó thực sự vậy, thực hành tương ứng với thực tại và hành động tương ứng với thực tại. Đây là chỗ con người của kinh nghiệm đích thực khác với cái gọi là những nhà đạo đức, người thuần đạo đức, người phục vụ xã hội, người lãnh đạo tôn giáo.
Con người của kinh nghiệm không có mười lời răn, người đó không có bất kì khái niệm đạo đức cố định nào, người đó không có các ý tưởng và lí tưởng được làm sẵn về tốt và xấu, về đúng và sai. Người đó đơn giản hành động tương ứng với thực tại hài hoà; người đó không rơi vào trong bất hoà với nó. Đó là mọi điều người đó phải làm: người đó vẫn còn tỉnh táo không rơi vào bất hoà; vẫn còn bao giờ cũng trong hài hoà. Trong hoà điệu với thực tại, bạn là đúng; khoảnh khắc bạn mất hoà điệu với thực tại, bạn là sai.
Đây là chính cách tiếp cận hướng tới đạo đức. Nó không nói, "Ngươi phải không làm cái này, ngươi phải làm cái này." Không có cái phải và cái không phải. Một nguyên tắc rất đơn giản: Ngươi phải không rơi vào bất hoà với thực tại. Ở trong hoà điệu với nó và bạn sẽ tự động theo đường đúng. Khi ông thấy nó như nó thực sự vậy, thực hành tương ứng với thực tại.
Bạn đã bao giờ nghĩ rằng từ "according-tương ứng" bắt nguồn từ "accord-hoà hợp" không? Tôi không nghĩ bạn đã bao giờ nghĩ về nó. Thực hành tương ứng với thực tại nghĩa là: Vẫn còn trong tương ứng với thực tại và hành động tương ứng với thực tại. Chỉ nhớ một điều: trong hài hoà với sự tồn tại, và cuộc sống của bạn sẽ là hân hoan, cực lạc vô cùng, điệu vũ liên tục; cuộc sống của bạn sẽ trở thành mùa xuân vĩnh hằng.
Chỉ nếu ông đi tới giai đoạn này ông mới có thể nói không có cõi trời hay địa ngục, và những điều như vậy. Chứng Đạo Ca nói, "Không có chúng sinh không có chư phật. Vũ trụ giống như bong bóng trong đại dương, mọi hiền nhân giống như tia chớp." Nếu ông ấy mà không tới giai đoạn này, làm sao Chứng Đạo Ca đã nói điều này? Nhưng với những lời này, những người hiểu lầm là nhiều...
Để hiểu người như Chứng Đạo Ca, người là thầy của Đại Huệ... Bao giờ cũng dễ hiểu lầm người như Chứng Đạo Ca. Khó hiểu ông ấy - gần như không thể được, vì nền tảng cơ bản cho hiểu biết bị thiếu. Bạn không có bất kì kinh nghiệm nào về điều ông ấy nói, và dù cách hiểu của bạn là bất kì cái gì, chúng bị thành mâu thuẫn bởi những phát biểu này.
Ông ấy nói, "Không có chúng sinh không có chư phật." Bình thường chúng ta hiểu rằng những người đang ngủ là con người, và những người đã thức tỉnh là chư phật. Nhưng Chứng Đạo Ca đang nói cái gì đó thậm chí còn lớn lao hơn. Ông ấy đang nói, "Không có con người, không có chư phật, nhưng chỉ có các hình dạng của nhận biết." Một dạng chúng ta gọi là con người, dạng khác chúng ta gọi là phật - nhưng thực tại là cùng một năng lượng, cùng sức mạnh, cùng nhận biết.
Bạn có thể làm từ cùng bùn ra nhiều, nhiều đồ chơi với các hình dạng khác nhau - nhưng thực tại bên trong chúng đơn giản là một. Chúng toàn là bùn. Toàn thể sự tồn tại này chỉ bao gồm tâm thức; ngay cả tảng đá cũng không là gì ngoài chư phật đang ngáy, ngủ, được cô đọng. Nếu bạn lắng nghe kĩ bạn có thể nghe thấy tiếng ngáy của chúng. Chúng là kẻ ngủ thực sự - ngủ say tới mức bạn không thể đánh thức được chúng - trong trạng thái mê man. Nhưng về bản chất không có khác biệt.
Về bản chất chúng ta được làm ra từ cùng chất liệu. Dù bạn là con người hay tảng đá hay cây hay phật, đây chỉ là hình dạng. Con người của thức tỉnh tối thượng sẽ biết rằng mọi hình dạng chỉ là hình dạng và không gì nhiều hơn. Thực tại bên trong chúng đơn giản là một và như nhau.
Nhưng những người như thế, như Chứng Đạo Ca nhất định bị hiểu lầm. Do đó Đại Huệ nói, "Nhưng với những lời này, những người hiểu lầm là nhiều." Làm sao bạn có thể chấp nhận được rằng tảng đá và vị phật là không khác nhau?
Thực ra, ba trăm năm sau khi Phật Gautam chết, khi bức tượng đầu tiên của ông ấy được nghệ sĩ làm ra, nghệ sĩ điêu khác đã làm ra nó, đã làm ra nó đặc biệt từ đá hoa trắng toát. Được hỏi tại sao ông ấy đã chọn đá hoa trắng - vì có nhiều mầu khác của đá hoa và nhiều loại đá khác - ông ấy nói, "Đá hoa trắng và Phật Gautam ngồi trong im lặng có sự tương tự nào đó: cùng cái đẹp, cùng vẻ dịu dàng, cùng duyên dáng. Quan sát những bức tượng vĩ đại nào đó, dường như bức tượng sẽ mở mắt ra vào bất kì khoảnh khắc nào...."
Ở Ajanta, các sư Phật giáo đã làm cái gì đó tuyệt đối huyền diệu. Họ đã khắc hoạ toàn thể núi, làm ra các hang lớn; vài cái hang lớn như thính phòng này, để cho năm trăm người có thể rất dễ dàng ngồi trong thiền trong một hang. Từng hang có tượng Phật, và hang cuối cùng có tượng Phật khi ông ấy đang nằm và sẵn sàng đi vào trong giấc ngủ vĩnh hằng. Nó là bức tượng đẹp về Phật nằm - sống động tới mức người ta cảm thấy bất kì khoảnh khắc nào ông ấy sẽ thức dậy.
Người đã làm ra bức tượng đầu tiên đã nêu ra nhận xét rằng có cái gì đó rất tương tự trong đá hoa, vì trong cái mềm mại của nó, trong cái đẹp của nó, cái gì đó của phẩm chất của Phật Gautam hiện diện. Có lẽ bản thân ông ấy không phải là người chứng ngộ, bằng không ông ấy chắc đã có thể nói rằng trong bức tượng, Phật Gautam đang ngủ say, và trong Phật Gautam, bức tượng đã thức tỉnh. Đó là khác biệt duy nhất - không mấy khác biệt.
Nhưng loại phát biểu huyền bí này có thể bị hiểu nhầm chỉ nếu bạn bắt đầu có kinh nghiệm nào đó, nếu bạn bắt đầu có những khoảnh khắc nào đó của hoà hợp với thực tại, của hài hoà sâu sắc và cái một. Thế thì không chỉ những phát biểu này mà cả triệu phát biểu nữa sẽ lập tức trở thành rõ ràng cho bạn.
Tôi đã nói về hàng trăm nhà huyền bí, và bạn sẽ ngạc nhiên rằng tôi chưa bao giờ đọc về những người đó trước đây. Chẳng hạn, Đại Huệ này: tôi không biết ông ấy sẽ nói gì ngày mai, tôi không biết ông ấy sẽ kết thúc thế nào; tôi đơn giản liên tục đáp ứng cho các phát biểu của ông ấy như chúng được trình ra cho tôi. Nhưng tôi không phải đọc Đại Huệ và các tài liệu hỗ trợ khác về đời ông ấy, công việc của ông ấy, giáo huấn của ông ấy. Đó là điều học giả sẽ làm: ông ấy sẽ nghiên cứu mọi thứ có thể sẵn có về Đại Huệ.
Cách tiếp cận là cách tiếp cận của nhà huyền bí, không của học giả. Đây là cách tiếp cận rất kì lạ, vì không ai khác trước tôi đã bao giờ làm điều đó; nó là không hề có trước.
Các nhà huyền bí không quan tâm về các nhà huyền bí khác; họ đã về tới nhà, bây giờ họ muốn đi vào trong giấc ngủ vĩnh hằng - cho nên sao bận tâm? Học giả, người không có bất kì kinh nghiệm nào, được bỏ lại để làm việc trên nghĩa của những phát biểu và hành động của nhà huyền bí. Những học giả đáng thương này không có gì ngoài thư viện, các sách khác, nhưng họ không có bất kì kinh nghiệm nào của riêng họ. Cho nên bất kì cái gì họ làm, dù lanh lợi thế nào, dù nói giỏi thế nào, nó vẫn còn sai về căn bản. Chỉ nhà huyền bí có quyền nói bất kì cái gì về nhà huyền bí khác.
Tôi đã có khả năng nói về hàng trăm nhà huyền bí mà không khó khăn gì, bởi lí do đơn giản là đó là kinh nghiệm riêng của tôi, và tôi kính trọng kinh nghiệm của tôi. Nếu tôi thấy nhà huyền bí nào đó phạm phải sai lầm trong phát biểu của ông ấy, hay có lẽ sai lầm bị mắc phải bởi những người ghi lại họ, thế thì tôi không dung thứ bất kì ai - không thành vấn đề người đó là ai.
Tôi có tiêu chí của riêng tôi. Tôi phán xét mọi thứ theo tiêu chí của tôi, và nếu nó không phải là vàng hai mươi bốn carat, thế thì tôi nói vậy. Điều đó gây tổn thương cho nhiều người, nhưng họ không thấy rằng cam kết của người ta phải là với chân lí, không với nhân cách. Mọi thứ có thể bị hi sinh - mọi thánh nhân và mọi nhà huyền bí có thể bị hi sinh - nhưng không hi sinh chân lí.
...Chính xác khi bị ưu phiền mà ông phải điều tra cẩn thận và truy hỏi ưu phiền nảy sinh từ đâu.
Bây giờ ông ấy đang đi tới ngày càng gần hơn các phương cách thiền. Đây là một trong các phương cách: bạn cảm thấy buồn hay giận, và ông ấy nói bạn có thể làm nó thành việc thiền. Không tranh đấu với nó, không cố làm sao lãng tâm trí bạn vào cái gì đó khác. Không đi xem phim vì bạn cảm thấy rất buồn. Không cố kìm nén tình cảm của bạn. Nó là cơ hội lớn cho thiền.
Chỉ quan sát từ đâu giận nảy sinh. Cứ đi tới chính gốc rễ. Cứ đi tới chính gốc rễ từ đâu buồn kéo tới - và ngạc nhiên lớn là ở chỗ nó không có gốc rễ nào.
Cho nên khi bạn tìm rễ, vào lúc xúc động của bạn bắt đầu tan biến khi thấy rằng, "Người này là kì lạ - người đó đang đi tìm rễ!" Và những ưu phiền, xúc động, tình cảm, cảm giác đó - không cái nào trong chúng có bất kì rễ nào. Chúng chỉ là mây, không có rễ nào, bao quanh tâm trí bạn.
Cho nên, nếu bạn bắt đầu tìm rễ, xúc động của bạn bắt đầu tan tác - "Đây không phải là người đúng, người đó sẽ không bị ảnh hưởng bởi chúng ta. Người đó hơi chút kì lạ; chúng ta ở đây, và người đó đi tìm rễ!"
Thay vì buồn, thay vì giận, thay vì khổ - tìm rễ đi!
Mọi tình cảm, mọi xúc động, mọi cảm giác sẽ biến mất nếu bạn đi tìm rễ. Nếu nhận biết của bạn đi tới chiều sâu đó trong tìm kiếm, thế thì xúc động sẽ mất đi, và bầu trời của bản thể bên trong của bạn sẽ tuyệt đối rõ ràng và sạch sẽ. Đại Huệ đã cho bạn một cách thiền đơn giản. Cứ thử nó, và bạn sẽ ngạc nhiên.
Nếu ông không thể đi tới tận đáy của nguồn gốc của nó, thì người bị ưu phiền ngay bây giờ tới từ đâu?
Có lẽ bạn có thể không có khả năng vẫn còn không bị ảnh hưởng và chỉ là người điều tra khoa học thuần tuý. Bạn có thể bị ảnh hưởng - thế thì bạn không thể tìm thấy chính cái đáy từ đó những mây này đang nảy sinh. Cho nên Đại Huệ gợi ý phương pháp khác: nếu bạn không thể tìm thấy nguồn gốc, cố tìm ra anh chàng này là ai, người đang trở nên khổ. Chỉ quay nhận biết của bạn và hội tụ nó vào người đang trở nên giận, thay vì hội tụ vào khổ hay giận. Nó là phương cách khác: phương pháp là một và chủ định là một - chỉ đối thể thay đổi.
Khoảnh khắc bạn quay sang nhìn: anh chàng này là ai, anh chàng đang trở nên giận là ai?... bạn không thể làm cả hai điều được, vì bạn là anh chàng đó. Hoặc bạn có thể giận, hoặc bạn có thể tìm anh chàng này; bạn không thể làm cả hai điều này cùng nhau. Hoặc bạn có thể giận hoặc bạn có thể trong việc tìm người giận - và nếu bạn đang đi tìm, bạn sẽ không thấy anh chàng này. Lần nữa bầu trời là sạch và trong.
Điều bạn làm không phải là vấn đề; vấn đề là tâm trí đó phải tới đi tới lại trạng thái im lặng hoàn toàn và hư không.
Ngay khi ông bị ưu phiền, nó có tính tồn tại hay vô tồn tại, rỗng hay thực? Ông ấy chỉ cho bạn các phương cách khác nhau, tương tự nhau. Bạn giận. Ông ấy nói: "Bây giờ trở nên nhận biết liệu giận này là thực, hay ông chỉ đóng kịch. Nó có tính tồn tại hay vô tồn tại?" Phương cách này là để tạo ra đứt đoạn, gián đoạn giữa bạn và cơn giận.
Giận có là thực không?
Bạn có thực sự giận không?
Bạn chưa bao giờ hỏi những điều này.
Khi bạn giận bạn trở nên bị dính líu, bị ấn tượng tới mức bạn đánh mất bản thân bạn trong giận. Nếu bạn bắt đầu hỏi, "Giận này có thực không?"... Chủ định của câu hỏi này là để giữ một chút ít khoảng cách. Chỉ thế thì bạn có thể thấy liệu nó là thực hay không. Từ mọi khía cạnh, từ góc này và góc kia, từ đằng sau và từ đằng trước hỏi, "Giận này có thực không?"
Nhưng giận không thể vẫn còn đó nếu bạn nhìn vào nó từ khắp xung quanh. Giận có thể vẫn còn đó chỉ nếu bạn vắng mặt. Việc tìm thực tại của giận làm cho bạn hiện diện, tỉnh táo và nhận biết - và đó là mục đích của toàn thể trò chơi. Giận bắt đầu biến đi như khói.
Cho nên bất kì cái gì cảm thấy đúng với bạn, phương pháp đó phải được tuân theo. Hay bạn có thể thử mọi phương pháp ở những lúc khác nhau - vì cả ngày đều có các vấn đề: đôi khi bạn khổ, đôi khi bạn giận, đôi khi bạn buồn, đôi khi bạn cảm thấy đờ đẫn, đôi khi bạn cảm thấy vô nghĩa, đôi khi bạn cảm thấy trong yêu lớn lao và đôi khi trong ghét cay ghét đắng. Bạn là bãi chợ thế, và các cửa hàng vẫn còn mở hai mươi bốn tiếng, hết ngày nọ tới ngày kia.
Cho nên nó là cơ hội lớn: dùng mọi phương pháp cho các điều khác nhau. Và bạn có thể phát minh ra phương pháp riêng của bạn. Điều duy nhất cần nhớ là ở chỗ bạn phải tạo ra khoảng cách giữa xúc động, cảm giác và bạn.
Cứ dùng bất kì phương pháp nào để tạo ra khoảng cách, và bạn sẽ ngạc nhiên: giận này, cái đã từng hành hạ bạn nhiều thế, đơn giản biến mất, vì bạn bắt đầu tìm rễ của nó, hay bạn bắt đầu tìm người đang giận, hay bạn bắt đầu nhìn vào mọi khía cạnh của giận. Bạn quên mọi thứ về người mà giận của bạn đang nhắm tới; toàn thể chú ý của bạn bây giờ được hội tụ vào thực tại hay không thực tại của bản thân giận. Những điều này được trải nghiệm, những phương pháp hợp thức tuyệt đối của việc biến đổi tâm trí bạn thành vô trí.
Giữ việc điều tra cho tới khi tâm trí ông không có đâu mà đi. Nếu ông muốn nghĩ, thì nghĩ; nếu ông muốn khóc, thì khóc. Cứ giữ việc khóc và nghĩ tiếp tục. Khi ông khuấy động bản thân ông tới điểm mà năng lượng thói quen của yêu và mến bên trong tâm thức nhà kho bị cạn kiệt, thì một cách tự nhiên nó giống như nước quay trở lại nước - cho ông quay lại bản thể nguyên thuỷ của ông.
Trong số nhiều phương pháp mà tôi đã phát minh ra... Khi bản thân tôi hướng dẫn các trại, đã có một phương pháp mà mọi buổi trưa mọi thành viên trong trại thường ngồi cùng nhau và mọi người được phép làm bất kì cái gì họ muốn - không có hạn chế, chỉ mỗi điều người ta phải không can thiệp vào công việc của bất kì ai khác. Bất kì điều gì bạn muốn nói, bạn có thể nói; nếu bạn muốn khóc, nếu bạn muốn cười, bạn có thể cười - và một nghìn người... Nó là cảnh tượng buồn cười thế! Bạn không bao giờ có thể hình dung được mọi người - những người nghiêm chỉnh - làm những điều ngu xuẩn thế! Ai đó làm điệu bộ mặt, lưỡi thè ra thật dài, và bạn biết rằng người này là cảnh sát trưởng!
Một người tôi không thể quên được, vì anh ta thường ngồi trước tôi mọi ngày. Anh ta là người rất giầu, từ Ahmedabad, và bởi vì toàn thể kinh doanh của anh ta là thị trường chứng khoán, anh ta liên tục nói điện thoại. Bất kì khi nào một giờ thiền này bắt đầu, trong hai tới ba phút anh ta sẽ cầm điện thoại lên. Anh ta sẽ bắt đầu chuyển các số, nói "Xin chào!" Và anh ta sẽ... từ mặt anh ta có vẻ dường như anh ta đang nhận câu trả lời - "Mua nó."
Điều này sẽ tiếp tục trong một giờ, và anh ta cứ điện thoại đi điện thoại lại cho chỗ này và chỗ nọ, và thỉnh thoảng anh ta sẽ nhìn tôi và mỉm cười: "Tôi đang làm điều vô nghĩa gì đây!" Nhưng tôi phải giữ tuyệt đối nghiêm chỉnh. Tôi không bao giờ mỉm cười với anh ta. Cho nên anh ta sẽ lại bắt đầu gọi điện thoại: "Không ai chú ý gì, mọi người đều tham gia vào công việc riêng của họ."
Một nghìn người làm bao nhiêu thứ... và những thứ này liên tục diễn ra trong tâm trí họ. Đây là cơ hội lớn cho họ đem chúng ra. Nó là vở kịch thế.
Jayantibhai thường chịu trách nhiệm về trại trên Núi Abu, và một trong những người bạn thân nhất của anh ta cởi hết quần áo ra. Đó là điều ngạc nhiên! Jayantibhai đang đứng cạnh tôi, và anh ấy không thể tin được vào điều đó. Người đó đã là người rất nghiêm chỉnh, rất giầu; người đó đang làm gì trước một nghìn người? Và thế rồi anh ta bắt đầu đẩy chiếc xe hơi mà tôi đã dùng để tới chỗ này - đó là xe của Jayantibhai. Chúng tôi đang ở trên núi, và ngay phía trước là có vực thẳm nghìn bộ, và anh ta đang đẩy chiếc xe, trần truồng.
Jayantibhai hỏi tôi, "Cần làm gì? Anh ta sắp phá chiếc xe, và tôi chưa bao giờ nghĩ rằng người này chống lại xe của tôi. Chúng tôi là bạn thân."
Thế là tôi bảo anh ấy, "Bạn đẩy nó từ phía kia đi; bằng không anh ta sẽ..."
Thế là anh ấy ngăn cản chiếc xe... và bạn anh ấy nhảy nhót xung quanh và la lên, "Cút ngay khỏi đường tôi! Tôi bao giờ cũng ghét cái xe này." - vì anh ấy đã không có xe nhập khẩu, và đây là xe nhập khẩu mà Jayantibhai giữ cho tôi. Tôi lên Núi Abu ba hay bốn lần một năm, cho nên anh ấy giữ chiếc xe đó chỉ cho tôi.
Bạn anh ấy phải đã cảm thấy ghen tị bên trong vì anh ta đã không có xe nhập khẩu. Và thế rồi vài người chạy xô tới để giúp, khi thấy tình huống này. Khi anh ta thấy nhiều người thế đang ngăn cản anh ta, chỉ từ việc bảo vệ anh ta trèo lên cây trước tôi. Trần truồng, anh ta ngồi trên ngọn cây, và anh ta bắt đầu rung cây. Có mọi nguy hiểm rằng anh ta sẽ ngã lên trên đầu cả nghìn người cùng với cây đổ. Jayantibhai hỏi tôi, "Bây giờ phải làm gì?"
Tôi nói, "Anh ta là bạn của bạn. Để anh ta vậy, đừng lo nghĩ. Chỉ chuyển người sang phía bên này và rằng, và để anh ta làm bất kì cái gì anh ta đang làm. Bây giờ anh ta không phá xe. Nhiều nhất anh ta sẽ bị gẫy vài xương."
Khi mọi người đi hết, anh ta dừng lại. Một cách im lặng anh ta ngồi trên cây. Sau khi thiền kết thúc, anh ta vẫn đang ngồi trên cây, và Jayantibhai nói, "Bây giờ xuống đi. Thiền xong rồi."
Dường như anh ta thức dậy từ giấc ngủ, anh ta nhìn khắp xung quanh và thấy rằng anh ta trần truồng! Anh ta nhẩy ra khỏi cây, chạy xô về quần áo của mình, và nói, "Cái gì đã xảy ra cho tôi?" Trong đêm anh ta tới gặp tôi và anh ta nói, "Đây là cách thiền rất nguy hiểm! Tôi có thể đã giết chết bản thân tôi hay ai đó khác. Tôi có thể đã phá huỷ chiếc xe, và tôi là người bạn lớn của Jayantibhai, và tôi chưa bao giờ nghĩ... nhưng chắc chắn phải đã có ý tưởng này trong tôi.
"Tôi ghét ý tưởng rằng thầy bao giờ cũng tới trong xe của anh ấy và tôi ghét ý tưởng rằng anh ấy đã có chiếc xe nhập khẩu, nhưng điều đó không phải tất cả đều là ý thức trong tôi. Và tôi đã làm gì trên cây? Tôi phải đã mang nhiều bạo hành thế trong tôi, tôi muốn giết người."
Cách thiền đó giúp ích mênh mông. Nó làm thảnh thơi mọi người trong một giờ nhiều tới mức họ bảo tôi, "Dường như trọng lượng nặng đã biến mất khỏi đầu. Chúng tôi đã không nhận biết điều chúng tôi đang mang trong tâm trí." Nhưng khi trở nên nhận biết về nó, không có cách khác ngoại trừ việc diễn đạt vô giới hạn.
Nó đã chỉ là một thực nghiệm nhỏ. Tôi bảo mọi người tiếp tục nó: Bạn sẽ sớm đi tới nhiều điều thêm nữa, và một ngày nào đó bạn sẽ đi tới điểm mà mọi thứ đều được vét cạn. Chỉ nhớ không can thiệp vào bất kì người nào, không có tính phá huỷ. Nói bất kì cái gì bạn muốn nói, la hét, lăng mạ - bất kì cái gì bạn muốn - và làm cạn kiệt mọi thứ bạn đã từng thu thập.
Nhưng đây là một thế giới kì lạ. Chính phủ của Rajasthan đã thông qua nghị quyết trong quốc hội của họ rằng tôi không thể có các trại trên núi Abu, vì họ đã nghe nói tất cả những điều này đã xảy ra ở đó - những người ổn thoả hoàn hảo trở thành gần như điên, bắt đầu làm đủ mọi thứ. Bây giờ những chính khách này trong quốc hội không có bất kì ý tưởng nào về tâm trí con người, ức chế của nó và cách vét cạn chúng, cách thiêu cháy chúng. Tôi phải dừng việc thiền đó vì nếu không họ sẽ không cho phép tôi có các trại ở núi Abu.
Điều Đại Huệ đang nói đích xác là điều thiền của tôi là gì.
Nếu ông muốn nghĩ, thì nghĩ; nếu ông muốn khóc, thì khóc. Cứ giữ việc khóc và nghĩ tiếp tục. Khi ông khuấy động bản thân ông tới điểm mà năng lượng thói quen của yêu và mến bên trong tâm thức nhà kho.
Đó là cái gì đó mà tâm lí học phương Tây còn chưa trở nên nhận biết, tâm thức nhà kho này. Nó giống như tầng hầm của tâm trí bạn.
Trong tiếng Phạn cái tên là alaya vigyan, ngôi nhà mà bạn liên tục tống vào trong tầng hầm những thứ mà bạn muốn làm nhưng không thể làm được, vì các ước định xã hội, văn hoá, văn minh. Nhưng chúng liên tục đọng lại ở đó, và chúng ảnh hưởng tới hành động của bạn, cuộc sống của bạn, rất gián tiếp. Một cách trực tiếp, chúng không thể đối diện với bạn được - bạn đã ép buộc chúng vào trong bóng tối, nhưng từ phía tối chúng liên tục ảnh hưởng lên hành vi của bạn. Chúng là nguy hiểm, giữ mọi thứ bị kiềm chế đó bên trong bạn là nguy hiểm.
Có thể rằng đây là những thứ mà khi lên tới cực đỉnh thì người ta thành không lành mạnh. Không lành mạnh không là gì ngoài mọi thứ kìm nén này đi tới điểm bạn không thể kiểm soát được chúng thêm nữa. Nhưng điên là chấp nhận được, trong khi thiền là không chấp nhận được - và thiền là cách duy nhất để làm cho bạn tuyệt đối lành mạnh.
Khi không khả năng nào của không lành mạnh còn lại ở bất kì đâu bên trong bạn, với tâm thức nhà kho này bị cạn kiệt, bạn sẽ cảm thấy sạch sẽ thế, tươi tắn thế, dường như bạn mới tắm bên trong xong.
thì một cách tự nhiên nó giống như nước quay trở lại nước - cho ông quay lại bản thể nguyên thuỷ của ông, không ưu phiền, không ý nghĩ, không buồn hay vui. "Đã đi vào thế giới, để lại thế giới một cách đầy đủ."
Đại Huệ đang nói, "Ông đã đi vào thế giới. Đừng bỏ nó không đầy đủ, bằng không ông sẽ phải vào lại lần nữa." Đây là luật của hoá thân. Nó là một trong những đóng góp lớn của các nhà huyền bí phương Đông. Làm đầy đủ cuộc sống của bạn... và cuộc sống của bạn đầy đủ chỉ với chứng ngộ. Sau đó, không có sinh, không có tử. Nhưng nếu bạn rời khỏi thế giới này mà không đầy đủ bạn sẽ phải quay lại, lặp đi lặp lại. Hàng triệu lần bạn đã quay lại; bạn sẽ làm cùng việc thường lệ này bao nhiêu lần nữa?
Liệu có điều như người bố không bị đau buồn khi con mình chết không? Nếu ông cố kìm nén (những tình cảm như vậy) một cách cưỡng bức, không dám khóc hay nghĩ về nó, thế thì đây là chủ định đi ngược lại hình mẫu tự nhiên, phủ nhận bản tính cố hữu của ông: (nó giống) tăng âm thanh để dừng tiếng vọng, hay đổ dầu tiếp để dập lửa.
Ông ấy tuyệt đối đồng ý với ý tưởng của tôi rằng không cái gì phải bị kìm nén, mọi thứ đều phải được diễn đạt. Nếu bạn cảm thấy thích khóc, thì khóc; không hại gì trong nó, điều đó là tuyệt đối hài hoà với tự nhiên. Nếu bạn cảm thấy thích làm bất kì cái gì đang nảy sinh trong bạn với thôi thúc lớn, thì làm nó, vì một khi nó được làm, bạn được tự do khỏi nó.
Nếu từng khoảnh khắc chúng ta liên tục làm mọi thứ một cách tự nhiên, chúng ta không tích luỹ trong nhà kho của tâm thức bất kì rác rưởi nào, bất kì chuyện tào lao nào.
Và nếu tâm thức của bạn là sạch sẽ, thuần khiết, hồn nhiên, khoảnh khắc này không xa xôi khi bạn sẽ bùng nổ trong huy hoàng chói sáng. Đó là điều được biết là chứng ngộ, hay thức tỉnh, hay tự nhận ra.
Được chứ, Maneesha?

Vâng, thưa Osho.

0 Đánh giá

Ads Belove Post