Read more
Osho kính yêu
Không có người thứ hai
Thầy Chương Kính nói, "Chân lí tối thượng
là vô lời. Những người của thời đại không nhận ra điều này: họ áp đặt thực hành
về những thứ khác, coi chúng là hoàn thành
Họ không biết rằng bản chất cố hữu không
bao giờ là các đối thể giác quan, rằng nó là cổng của giải thoát lớn lao kì diệu,
nhận biết về mọi thứ có đó mà không bị nhơ bẩn hay bị cản trở, ánh sáng này
không bao giờ dừng lại: từ thời đại quá khứ tới hiện tại nó đã là vững chãi,
không bao giờ thay đổi. Việc chiếu sáng tinh tế của ánh sáng tâm linh không phụ
thuộc vào việc được trau dồi và cải tiến.
Vì họ không hiểu, mọi người bắt lấy hình dạng
của mọi vật - điều đó giống như dụi mắt, làm ảo tưởng quang học giả nảy sinh.
Không có người thứ hai... Trong
phát biểu nhỏ này Đại Huệ đang nói rằng toàn thể sự tồn tại là một. Và bởi vì
không có người thứ hai, chúng ta thậm chí không thể nói nó là một. Điều này phải
được hiểu... vì khoảnh khắc chúng ta nói "một," "hai" nảy
sinh. Thế thì mọi con số theo sau.
Ở Ấn Độ chúng ta đã phát triển
cách nói vòng của việc nói "một," không trực tiếp. Các nhà huyền bí của
đất nước này không bao giờ nói rằng thế giới, sự tồn tại là một; họ bao giờ
cũng nói, "Nó không là hai, nó là bất nhị."
Điều đó có thể dường như là
không có gì khác biệt - nhưng có vấn đề nào đó về mặt logic. Nếu bạn nói
"một," điều đó ngụ ý toàn thể chuỗi các số, mọi chữ số. Nếu bạn nói
"không hai," bạn không nói "một," dầu vậy bạn đang chỉ ra
"một" mà không nói nó, chỉ ra tính một.
Đó là lí do tại sao Đại Huệ
cũng nói theo cùng cách, "không có người thứ hai." Ông ấy có thể đơn
giản nói, "Chỉ có một người" - nhưng ông ấy là nhà logic được đào tạo
kĩ, nhà trí thức bậc nhất; do đó ông ấy cũng rất rõ ràng không phạm phải sai lầm
nào khi ông ấy nói bất kì cái gì về chân lí. Và bây giờ ông ấy đang ở vị trí
nói cái gì đó về chân lí.
Một trong những nhà logic lớn của
thời đại chúng ta, Ludwig Wittgenstein, đã viết một cuốn sách về logic thuần
tuý. Ông ấy là người kì lạ, nghiêng về phía nhà huyền bí, nhưng không bao giờ
nói bất kì cái gì về điều đó. Chỉ thỉnh thoảng, khi viết về logic, ông ấy mới
cho những chỉ dẫn nào đó chỉ ra rằng ông ấy có nhận biết là có nhiều thứ với sự
tồn tại hơn là chỉ logic. Trong cuốn sách này, Tractatus, ông ấy nói, "Người
ta phải không nói gì về cái gì đó mà không thể diễn đạt được."
Tôi đã viết cho ông ấy một bức
thư. Tôi còn là sinh viên và tôi đã viết cho ông ấy một bức thư nói, "Nếu
ông là thực, ông thậm chí không nên nói đến chừng ấy. Ông nói, 'Người ta phải
không nói gì về cái gì đó mà không thể diễn đạt được' - nhưng ông đã nói cái gì
đó về nó rồi. Ông nói, 'Nó là không thể diễn đạt được.' Ông đã cho chỉ dẫn nào
đó."
Giáo sư về logic của tôi nói,
"Cậu đã hành hạ tôi, giờ cậu đã bắt đầu hành hạ những người ở xa xăm. Ông ấy
sống ở Đức, bây giờ... việc của cậu không phải là đi quấy rầy người khác."
Tôi nói, "Em không quấy rầy
ông ấy, em đơn giản nói rằng nếu ông ấy thực sự ngụ ý điều đó thế thì ông ấy
nên bỏ câu này đi."
Ông ấy là một trong những tâm
trí lỗi lạc nhất. Ngay cả thầy riêng của ông ấy, Bertrand Russell, đã thừa nhận
ông ấy là nhà logic giỏi hơn bản thân mình. Nhưng ông ấy không bao giờ đáp lại
tôi, vì đáp lại tôi sẽ có nghĩa là ông ấy phải loại bỏ câu đó ra khỏi cuốn
sách. Không có bảo vệ logic về nó. Bất kì cái gì bạn nói, bạn đang nói cái gì
đó. Cho dù bạn nói, "Không cái gì có thể được nói về nó," bạn vẫn
đang nói cái gì đó về nó. Cho nên logic có sự tinh vi riêng của nó.
Đại Huệ là một nhà logic chuyên
nghiệp được đào tạo tốt, nhưng bất kì nhà logic nào - nếu người đó đi tới chính
cực đoan của tư duy logic riêng của mình - nhất định đi tới điểm mà tại đó
logic phải bị bỏ lại đằng sau, vì kết thúc và sự tồn tại tiếp nối. Bạn phải bỏ
logic đằng sau và đi cùng sự tồn tại. Nhưng thế thì bạn phải bắt đầu nói một
ngôn ngữ khác.
Thay vì đơn giản nói, "Chỉ
có một sự tồn tại, do đó chỉ có một người" - trong đó hoàn cảnh ông ấy biết
ông ấy sẽ phạm phải sai lầm logic - ông ấy dùng cùng phương cách mà đã được
dùng trong nhiều thế kỉ ở nước này. Ông ấy nói, "Không có hai sự tồn tại,
không có hai người." Ông ấy đang chỉ ra cái một, nhưng không nói gì về điều
đó, đơn giản phủ nhận nhị nguyên, nhưng không khẳng định tính một - vì khoảnh
khắc bạn khẳng định tính một bạn đã khẳng định toàn thể vô số các số.
Nó không phải là cái gì đó có
tính triết lí; bây giờ phát biểu của ông ấy đang trở nên ngày càng có tính tồn
tại hơn.
Chúng ta tất cả là một phần của
sự thống nhất đại dương.
Tách biệt của chúng ta là ảo tưởng.
Ngoại trừ việc tách biệt của
chúng ta không có ảo tưởng khác, và vì việc tách biệt có đủ mọi loại vấn đề: kẻ
thù, bạn bè, giận, ghét, yêu - toàn các vấn đề của tham vọng, vật lộn, chinh phục,
chi phối, trở thành ai đó đặc biệt.
Nhưng khoảnh khắc bạn nhận ra rằng
không có gì tách bạn khỏi bất kì cái gì trong sự tồn tại... không chỉ con người
mà các con vật hoang dại, cây cối, chim chóc, ngôi sao - chúng tất cả là một phần
của sự thống nhất hữu cơ. Và tôi nhấn mạnh tới từ hữu cơ, vì có hai loại thống
nhất.
Một loại là thống nhất cơ giới,
chẳng bạn chiếc xe hơi của bạn hay xe đạp của bạn hay máy chữ của bạn. Chúng có
sự thống nhất nào đó, nhưng nó có tính cơ giới - bạn có thể tháo rời chúng ra.
Bạn có thể tách rời từng phần của chiếc xe của bạn: điều đó không có nghĩa là
chiếc xe đã chết, nó đơn giản có nghĩa là bạn phải gắn tất cả các bộ phận đó lại
lần nữa. Và nếu bạn làm, điều đó sẽ không có nghĩa là chiếc xe đã quay lại sống,
điều đó không phải là phục sinh! Chiếc xe không có bất kì cuộc sống nào, nó chỉ
là sự thống nhất cơ giới. Bạn có thể tháo các bộ phận ra, bạn có thể lắp các bộ
phận lại: chiếc xe không nhiều hơn tổng của các bộ phận của nó.
Sự thống nhất hữu cơ khác theo
nghĩa nó là nhiều hơn tổng của các bộ phận của nó. Một khi bạn đã tháo nó ra từng
phần, cái gì đó vô hình biến mất. Thế thì bạn có thể cố gắng vất vả để gắn
chúng lại, nhưng bạn sẽ không đem nó về cuộc sống lần nữa. Bạn lại có thể có bộ
xương, nhưng bộ xương không phải là điều con người thường là vậy. Bạn đơn giản
tháo ra từng phần, và bạn đã không thấy cái gì biến mất. Nhưng cái gì đó vô
hình với mắt không còn đó nữa. Bạn có thể gắn mọi bộ phận lại với nhau một cách
hoàn hảo, nhưng nó sẽ chỉ là cái xác.
Thống nhất cơ giới là thứ chết.
Thống nhất hữu cơ là hiện tượng sống. Đó là lí do tại sao tôi nhấn mạnh rằng sự
tồn tại là thống nhất hữu cơ. Tất cả chúng ta là một; không có cái khác.
Thầy Chương Kính nói,
"Chân lí tối thượng là vô lời." Gần như không thể nào nói được cái gì
đó về chân lí mà không phạm sai lầm. Dù bạn cố gắng diễn đạt nó thông minh thế
nào, bạn vẫn sẽ phải phạm sai lầm vì không thể nào đem được kinh nghiệm tối thượng
vào trong lời.
Chương Kính là đúng khi ông ấy
nói, " Chân lí tối thượng là vô lời," - và ông ấy sai nữa. Nếu nó thực
sự là vô lời, thế thì tại sao gọi nó là 'tối thượng', và tại sao gọi nó là 'vô
lời'? vì điều đó nữa là lời rồi; bạn đang dùng hai lời, 'tối thượng' và 'vô lời.'
Mặc dầu nỗ lực của bạn là để chỉ ra cái gì đó thực - ý định của bạn là tốt -
chính bản chất của ngôn ngữ là tới mức bạn không thể xoay xở không phạm sai lầm.
Do đó nhiều nhà huyền bí vẫn còn im lặng.
Đúng là chân lí là vô lời -
nhưng không nói điều đó. Bằng việc nói nó bạn đang tự mâu thuẫn bản thân bạn.
Tôi ưa thích cách nói vòng một chút: nói rằng "Chỗ lời chấm dứt, bạn đi
vào trong chân lí," hay "Khi bạn trong im lặng tuyệt đối, bất kì cái
gì bạn trải nghiệm đều là chân lí." Nhưng bạn không thể nói được bất kì
cái gì về nó. Chính bản chất của ngôn ngữ không cho phép điều đó.
Một khi điều đó được hiểu rằng
chân lí trở thành sẵn có cho bạn khi bạn ở trong im lặng hoàn toàn, làm sao bạn
có thể xoay xở đem cái tới trong im lặng ra mức ngôn ngữ thấp nhất?
Ngôn ngữ là trần tục; nó đã được
phát minh ra cho các chủ định trần tục, cho bãi chợ. Nhưng cho đền chùa không
có ngôn ngữ. Trong đền chùa bạn phải im lặng. Dùng ngôn ngữ là hoàn toàn đúng
khi bạn đang nói về sự vật, nhưng khoảnh khắc bạn đi ra ngoài sự vật bạn đã đơn
giản bỏ ngôn ngữ lại đằng sau.
Cho nên ý định của Chương Kính
là đúng. Ông ấy là người hiểu điều ông ấy nói. Nhưng tôi muốn bạn hiểu một điều:
mọi điều đã được nói về chân lí nhất định đầy những lỗi và sai lầm. Đây là phát
biểu ít sai lầm nhất:
"Chân lí tối thượng là vô
lời. Những người của thời đại không nhận ra điều này: họ áp đặt thực hành về những
thứ khác, coi chúng là hoàn thành
Họ không biết rằng bản chất cố
hữu không bao giờ là các đối thể giác quan, rằng nó là cổng của giải thoát lớn
lao kì diệu.
Các nhà huyền môn bao giờ cũng
chỉ trích người đương thời của họ - hiển nhiên, vì đó là những người đã hiểu lầm
họ. Không ai chỉ trích người chết vì không ai biết liệu họ hiểu bạn hay hiểu lầm
bạn, liệu họ nghe bạn hay không nghe bạn, liệu họ thậm chí biết về bạn. Cho nên
về người chết, không cái gì có thể được nói. Nhưng với người đương thời của họ,
những người sống, mọi nhà huyền bí đều cảm thấy vấn đề này - rằng họ không hiểu.
Những người của thời đại không
nhận ra điều này....
Đại Huệ không rất cổ đại; mới một
nghìn năm trôi qua từ thời của ông ấy. Nhưng trong Rig Vedas, là kinh sách cổ đạt
nhất của thế giới, bạn sẽ thấy cùng phát biểu: "Người của thời này không
hiểu."
Phật Gautam, hai nghìn năm trăm
năm trước, nói cùng điều. Và không may tôi phải nói cùng điều này: người của thời
đại này không hiểu. Tình huống này dường như là nhất quán. Nhà huyền bí mang định
mệnh bị hiểu lầm, và có lẽ cùng điều đó sẽ vẫn còn là tình huống trong tương
lai, vì toàn thế giới không thể trở thành các nhà huyền bí....
Người ta chắc muốn toàn thế giới
trở thành nhà huyền bí, người tìm kiếm chân lí, nhưng điều đó đang là hi vọng
quá nhiều. Ngay cả người lạc quan nhất không thể quan niệm được rằng toàn thế
giới một ngày nào đó sẽ có khả năng hiểu được kinh nghiệm huyền bí của việc nhận
ra tâm linh.
Chương Kính là đúng: mọi người
của thời đại không nhận ra rằng chân lí tối thượng là vô lời. Họ liên tục hỏi về
nó - và có những người trả lời chúng nữa. Có những nhà tư tưởng nghĩ về chân lí.
Đó là một trong những điều không thể được nhất trên thế giới: làm sao bạn có thể
nghĩ được về chân lí? - hoặc bạn biết nó hoặc bạn không biết. Người mù nghĩ về
ánh sáng - người đó có thể nghĩ cái gì? có khả năng nào không? Người đó thậm
chí không thể nghĩ được về bóng tối, nói gì tới ánh sáng.
Tôi nghĩ nhiều người trên thế
giới không bao giờ xem xét sự kiện rằng người mù không sống trong bóng tối. Điều
được coi là đương nhiên là người mù, anh chàng đáng thương đó, đang sống trong
bóng tối hoàn toàn vì anh ta không có mắt. Nhưng bạn không nhìn vào sự kiện là
để thấy bóng tối, mắt được cần tới. Làm sao bạn có thể thấy bóng tối mà không
có mắt? Tôi có thể hiểu... khi bạn nhắm mắt bạn thấy bóng tối - vì bạn có mắt.
Người mù đã không nhắm mắt; người đó không có mắt chút nào.
Bạn có cho rằng người điếc đang
sống trong im lặng hoàn toàn không? Thế thì điều đó sẽ thực sự là phúc lạc, vì
đó là điều mọi nhà huyền bí đang tìm, im lặng hoàn toàn. Nếu người điếc đang sống
trong im lặng hoàn toàn, thế thì vấn đề là rất đơn giản - vậy sao cứ làm những
cách thiền không cần thiết, các bài tập yoga, đứng trên đầu và làm đủ mọi loại
xoắn vặn? Bỏ mọi thứ này cho rạp xiếc đi; bạn đơn giản đi tới bệnh viện và làm
cho tai bạn bị kết thúc - và bạn sẽ trong im lặng hoàn toàn!
Nhưng bạn sẽ không hiện hữu.
Khoảnh khắc tai bạn mất đi, bạn không thể nghe được tiếng động mà bạn cũng
không thể nghe thấy im lặng. Khoảnh khắc mắt bạn mất đi, bạn không thể thấy được
ánh sáng, bạn cũng không thể thấy được bóng tối. Cho nên làm sao bạn có thể
nghĩ...? Nhưng mọi nhà tư tưởng của thế giới vẫn đang làm cùng một điều: mọi
người hỏi câu hỏi, và các nhà tư tưởng lớn tìm câu trả lời, và cả hai đang ngồi
trong cùng một con thuyền. Người hỏi không biết điều mình đang hỏi mà người trả
lời cũng không biết điều mình đang trả lời.
Chân lí là kinh nghiệm, không
là khái niệm. Nó không phải là cái gì đó mà bạn bàn tán về, nghĩ về, và thế rồi
đi tới kết luận. Nó không phải là kết luận của bạn.
Chân lí là cái gì đó mà... bạn
mở, bạn trở nên im lặng, bạn trở nên cảm nhận, bạn trở nên vô lời... toàn thể
tâm trí bạn đi tới dừng hoàn toàn, và thế thì cái còn lại là chân lí.
Được trút đầy bằng kinh nghiệm
đó là được biến đổi thành con người mới. Nó là phục sinh thực. Và là thực vì
bây giờ bạn sẽ không bao giờ chết, bây giờ bạn sẽ không bao giờ biết cái chết.
Bây giờ bạn bao giờ cũng biết sống, sống vĩnh hằng là gì. Và nó sẽ không chỉ là
cuộc sống của bạn. Nó sẽ đơn giản là cuộc sống như vậy, không của tôi không của
bạn.
Tôi là giọt sương trong cùng đại
dương trong đó bạn là giọt sương. Khoảnh khắc giọt sương rơi vào trong đại
dương, mọi phân tách biến mất.
Nhận biết về mọi thứ có đó mà
không bị nhơ bẩn hay bị cản trở, ánh sáng này không bao giờ dừng lại... Khoảnh
khắc bạn đi ra ngoài lời và ra ngoài tâm trí bạn biết cái gì đó mà có thể được
chỉ ra bởi ánh sáng - thứ gần nhất với nó là kinh nghiệm của chúng ta về ánh
sáng - nhưng nó còn xa hơn.
Kabir nói, "Dường như cả
nghìn mặt trời đã mọc lên khắp xung quanh" - nhưng ngay cả một nghìn mặt
trời sẽ đơn giản là khác biệt về số lượng. Một mặt trời hay một nghìn mặt trời...
khác biệt không phải là số lượng, cho nên tôi phải phản đối điều đó.
Mọi điều có thể được nói là ở
chỗ trong kinh nghiệm bình thường của chúng ta, ánh sáng tới gần nhất với việc
trở thành biểu dụ cho kinh nghiệm đó. Nhưng kinh nghiệm này là khác về chất,
không chỉ nhiều hơn, sáng, ánh sáng lớn hơn. Nó là cái gì đó mà có thể được biểu
thị bằng ánh sáng trong thế giới trần tục, bình thường của chúng ta - nhưng
ngay cả ánh sáng hay tình yêu hay cái đẹp tất cả đều là những biểu dụ đơn giản,
biểu diễn thơ ca. Nhưng kinh nghiệm thực tại là khác về chất.
Nhận biết về mọi thứ có đó mà
không bị nhơ bẩn hay bị cản trở, ánh sáng này không bao giờ dừng lại. Bây giờ,
khi Chương Kính nói, "ánh sáng này không bao giờ dừng lại," ông ấy
đang cố chỉ ra khác biệt về chất. Mọi ánh sáng mà bạn biết đều phụ thuộc vào chất
đốt: bạn thắp sáng nến, nó cháy cả đêm, nhưng đến sáng nó mất đi. Chất đốt bị hết,
nó đã phụ thuộc vào chất đốt.
Các nhà khoa học nói rằng mặt
trời của chúng ta đã cho ánh sáng cho toàn thể hệ thống mặt trời, hệ mặt trời của
chúng ta. Có hành triệu hệ thống mặt trời; có hàng triệu mặt trời, và mọi mặt
trời đều có lãnh thổ các hành tinh và trăng riêng của nó - đó là hệ thống mặt
trời. Mặt trời của chúng ta có hệ thống mặt trời riêng của nó, và nó đã cho ánh
sáng cho hệ thống mặt trời này trong ít nhất mười triệu năm. Trái đất của chúng
ta đã bốn triệu năm tuổi, nhưng ngay cả mặt trời, nguồn ánh sáng vô cùng, mọi
ngày đều giảm dần đi. Số lượng, dù lớn đến đâu, nhất định kết thúc một ngày nào
đó - mặc dầu họ nói nó không rất gần.
Tôi đã nghe: Trong một cuộc hội
nghị khoa học, một nhà khoa học đã nói, "Theo tính toán của tôi..."
và các nhà khoa học không đồng ý về các tính toán. Rất khó tính mặt trời vẫn
còn có bao nhiêu năng lượng bên trong nó. Mọi thứ đều là suy diễn. Một nhà khoa
học đã đọc một bài báo về mặt trời sẽ kéo dài bao lâu, và ông ấy nói,
"Theo tôi nó sẽ kéo dài bốn tỉ năm, và không nhiều hơn điều đó. Đó là giới
hạn tối đa tôi có thể cho mặt trời; lâu hơn điều đó nó không thể có năng lượng
được."
Một người đàn bà ngồi ngay trước
ông ấy bắt đầu run rẩy, thế là ông ấy trở nên lo nghĩ về cái gì sai với bà ấy.
Ông ấy hỏi, "Có chuyện gì vậy, thưa bà?"
Bà ấy nói, "Nhắc lại điều
ông vừa nói đi - mặt trời sẽ kéo dài được bao lâu?"
Ông ấy nói, "Nó sẽ kéo dài
ít nhất bốn tỉ năm."
Bà ấy nói, "Điều đó là được.
Tôi sợ ông nói bốn triệu."
"Nhưng điều đó tạo ra khác
biệt gì cho bà? Bà sẽ không kéo dài thậm chí bốn mươi năm," nhà khoa học
nói với bà già này. "Bà không cần lo nghĩ, nó sẽ không xảy ra trong đời
bà. Bà sẽ được kết thúc."
Và thế thì dù nó kéo dài bốn
triệu năm hay bốn tỉ năm chẳng tạo ra khác biệt gì! Nó có thể không tạo ra khác
biệt gì, nhưng một điều là chắc chắn: nó không khác với chiếc nến. Chiếc nến cả
bạn kéo dài một đêm, mặt trời kéo dài hàng tỉ năm - nhưng có bắt đầu và có kết
thúc cho cả hai. Cho nên nó là cùng loại ánh khi cây nến nhỏ của bạn cháy qua
đêm, và đến sáng nó mất đi.
Nhưng ánh sáng này không bao giờ
dừng lại. Ánh sáng mà người ta trải nghiệm khi tâm trí dừng lại là ánh sáng bao
giờ cũng có đó, vĩnh hằng, không bắt đầu và không kết thúc. Nó không phụ thuộc
vào bất kì chất đốt nào. Và điều đó tạo ra khác biệt lớn, khác về chất: nó độc
lập với bất kì chất đốt nào, nó là tự trị. Vì nó là tự trị nó sẽ tiếp tục mãi
mãi.
Và đi vào trong ánh sáng như thế...
việc đi vào này không phải là đi vào bình thường. Việc đi vào này gần như là hội
nhập, tan chảy. Như băng tan trong nước, bạn tan trong ánh sáng này.
Từ thời đại quá khứ tới hiện tại
nó đã là vững chãi, không bao giờ thay đổi. Việc chiếu sáng tinh tế của ánh
sáng tâm linh không phụ thuộc vào việc được trau dồi và cải tiến.
Ánh sáng tâm linh này là điều
chúng ta ngụ ý bởi chứng ngộ. Người đã thấy ánh sáng này đã thấy cội nguồn tối
thượng của bản thân cuộc sống. Chỉ bằng việc thấy nó, người đó đã trở thành nó
- do đó chúng ta gọi người đó là được chứng ngộ. Bản thể bên trong nhất của người
đó bây giờ được kết nối với điều tối thượng.
Kinh nghiệm chứng ngộ này không
phụ thuộc vào việc được trau dồi. Nó không phụ thuộc vào điều bạn làm, dù bạn
thực hành các tư thế yoga hay tụng mật chú nào đó hay đọc kinh sách linh thiêng
nào đó hay nhịn ăn hay bất kì loại vô nghĩa nào. Nó không phụ thuộc vào điều bạn
làm - nó đã có đó rồi. Vấn đề không phải là trau dồi nó và vấn đề không phải là
làm ra mục đích từ nó. Nó không xa xôi khỏi bạn, cho nên không có vấn đề về đi
tìm nó. Nó ở bên trong bạn.
Mọi việc tìm kiếm đều phải dừng
lại, chỉ thế thì bạn sẽ tìm thấy nó. Mọi tham vọng phải sụp đổ; mọi ham muốn, mọi
khao khát, mọi mục đích đều phải biến mất. Bạn đơn giản ngồi, không đi đâu cả,
thậm chí không trong ý nghĩ của bạn... chỉ ngồi im lặng, tĩnh lặng, bất động,
không đi đâu, thảnh thơi bên trong bản thân bạn, được định tâm hoàn toàn... và
đột nhiên nó có tất cả có đó.
Với kinh nghiệm này, nhận biết
rằng nó bao giờ cũng có đó. Nó không phụ thuộc vào bất kì hành động nào của bạn.
Không lời cầu nguyện nào sẽ giúp đỡ, không lửa tôn thờ nào sẽ giúp đỡ, không việc
đọc kinh sách nào sẽ giúp đỡ. Điều sẽ giúp đỡ là dừng mọi hoạt động của thân thể
và tâm trí chỉ trong vài khoảnh khắc ở bên trong bản thân bạn, không đi đâu cả,
chỉ ở nhà... và nó bùng nổ với lực mạnh tới mức điều mọi người đã thấy ở
Hiroshima và Nagasaki chỉ là tiếng vọng xa xăm. Nó là ánh sáng lớn, tương ứng với
các nhân chứng, dường như bản thân mặt trời đã giáng vào Hiroshima - nó sáng thế.
Nhưng ánh sáng ở bên trong bạn
là khác hơn nhiều - khác về chất, vì nó có nhiều mặt mà không ánh sáng nào có.
Yêu là một trong các mặt của nó, đẹp là một trong các mặt của nó, duyên dáng là
một trong các mặt của nó, phúc lạc là một trong các mặt của nó. Và nó là ánh
sáng không nóng, nó mát mẻ.
Bạn chỉ không đi đâu cả, và bạn
sẽ tìm thấy nó. Không trau dồi bất kì cái gì; điều bạn định tìm đã có đó rồi, bạn
chỉ không nhìn vào nó, bạn đang để nó ở sau lưng bạn. Quay lại và nhìn vào bên
trong đi.
Vì họ không hiểu, mọi người bắt
lấy hình dạng của mọi vật - điều đó giống như dụi mắt, làm ảo tưởng quang học
giả nảy sinh. Bạn có thể, bằng việc dụi mắt, tạo ra ảo tưởng. Chẳng hạn, chỉ có
một mặt trời hay một mặt trăng, nhưng bạn có thể dụi mắt và bạn có thể thấy ba
mặt trăng, bốn mặt trăng - điều đó tất cả tuỳ thuộc bạn.
Một người đem con trai mình tới
quán rượu. Anh ta là người say nổi tiếng trongkhu vực, và con trai anh ta đã tới
tuổi lớn và anh ta muốn dạy cho cậu con việc uống rượu đến đâu là được phép, là
vô hại. Thế là cả hai người họ bắt đầu uống rượu, và thế rồi sau vài lượt uống
người bố nói với cậu con trai, "Con nhìn bốn người đang ngồi bên cạnh bàn
kia...."
Cậu con nói, "Bốn sao? Chỉ
có một người ngồi đó thôi."
Người bố nói, "Trời đất! Bố
đã vượt quá giới hạn rồi. Nhưng dầu vậy con có thể học bài học này: trước khi
con vào quán rượu, nhìn khắp xung quanh, nhìn cho chính xác, và trước khi một
người bắt đầu có vẻ giống như hai người, đó là lúc dừng lại. Bố đã mất rồi, bố
đã... một người có vẻ như bốn người! Và con đã làm gì? Con có uống hay
không?"
Cậu con sợ, cho nên cậu ta đã
không uống. Cậu ta chỉ giả vờ - người bố đã uống, và cậu ta đã giả vờ chỉ để xem
cái gì xảy ra. Cậu ta nói với người bố, "Bây giờ chúng ta về nhà đi. Bố đã
vượt quá giới hạn rồi, theo bản thân bố. Bố đang thấy gấp đôi!"
Tôi đã nghe nói về một người
say khác đang đi về nhà và bị cản lại bởi cột điện. Anh ta cố gắng vất vả, theo
cách này cách nọ mà cái cột bao giờ cũng đứng trước anh ta, và anh ta đâm sầm
vào cái cột. Anh ta nói, "Điều này là quá thể. Mình không bao giờ thấy rằng
có nhiều cột thế ngay trước nhà mình."
Chung cuộc, một cảnh sát quan
sát anh ta cảm thấy từ bi, đi tới anh ta và hỏi, "Có chuyện gì vậy?"
Anh ta nói, "Có chuyện gì
à? Tôi bị bao quanh bởi các cột điện, cho nên theo bất kì hướng nào tôi đi, lập
tức tôi đâm phải cái cột."
Viên cảnh sát nói, "Đợi
đã, tôi sẽ cố đưa ông ra. Ông chắc chắn bị bao quanh bởi nhiều cột rồi."
Nhưng người này nói, "Lúc
tôi đi ra chiều tối nay, chỉ có một cột thôi, như mọi khi. Từ đâu mà nhiều cột
ra lắm thế?"
Và người này... viên cảnh sát
đưa anh ta về nhà. Vì anh ta bao giờ cũng về nhà muộn, vợ phát mệt về điều đó,
cho nên cô ấy đã đưa cho anh ta chìa khoá: "Anh cầm lấy chia khoá đi, và bất
kì khi nào anh về, đừng quấy rầy em, cứ im lặng mở cửa và đi về giường của anh
và đi ngủ. Không còn vấn đề gì về đánh nhau và cãi nhau; chúng ta đã có đủ rồi,
và nó không tạo ra bất kì khác biệt gì. Thực ra, em càng tranh đấu anh càng uống
nhiều hơn."
Anh ta đã cố gắng vất vả, viên
cảnh sát có thể thấy, nhưng cả hai tay anh ta run bắn, cho nên chìa khoá không
tra được vào ổ khoá. Người vợ quan sát từ trên cửa sổ và cô ấy nói, "Có
chuyện gì vậy, anh mất chìa khoá sao?"
Anh ta nói, "Không, anh
không đánh mất chìa khoá. Cái gì đó dường như sai với ổ khoá. Nếu em có thể ném
cho anh ổ khoá khác, anh có thể có khả năng mở được nó."
Viên cảnh sát nói, "Đừng
ngu xuẩn. Ổ khoá hoàn toàn tốt, và cho dù anh có thể xoay xở mở ổ khoá khác, điều
đó sẽ không giúp đỡ đâu. Tôi có thể giúp anh được không?"
Anh ta nói, "Ông có thể
giúp. Ông chỉ cần giữ cho nhà tĩnh lặng một khoảnh khắc thôi, vì dường như đang
diễn ra trận động đất rất lớn. Nhà đang chuyển động, và vì nhà mà khoá chuyển động,
tôi chuyển động, chìa khoá... Tôi không thể xoay xở tra khoá vào lỗ được."
Không chỉ người say thấy nhiều
thứ. Ngay trong kinh nghiệm bình thường của chúng ta, chúng ta đang thấy nhiều
thứ không có đó. Bạn nhìn thấy người đàn bà đẹp hay người đàn ông đẹp, và bạn lấy
nhau, và sau một tuần bạn không thấy cái đẹp nào, bạn đơn giản không muốn nhìn
người đàn bà đó chút nào - và cô ấy cũng không muốn nhìn bạn. Yêu biến thành
ghét trong vòng một tuần. Cuối tuần là việc kết thúc của yêu - bạn đã đi tới
chính tận cùng. Nó là năm ngày làm việc, cho nên vào hai ngày nghỉ cuối tuần đi
tìm ai đó khác để ở cùng.
Điều gì xảy ra khi bạn thấy nhiều
cái đẹp thế? Bạn có cư xử khác hơn người say không? Cái đẹp có đó không, hay bạn
đang phóng chiếu nó? Có phải thèm khát của bạn đang tạo ra cái đẹp không? Cố hiểu
đi: bạn đang phóng chiếu cái đẹp, đó là lí do tại sao cái đẹp bị kết thúc khi
thèm khát của bạn được đáp ứng. Không bao giờ có bất kì cái gì ngay chỗ đầu
tiên. Bạn xoay xở để thấy nó, nhưng chính thèm khát sinh học của bạn đã cho bạn
ảo tưởng này.
Và cùng điều đó là đúng cho người
đàn bà đáng thương: cô ấy đã nhìn bạn dường như bạn là Alexander Đại Đế, và sau
bẩy ngày cô ấy thấy bạn là chuột hạng ba chẳng có giá trị chút nào. Các bạn cả
hai đều bị mắc vào địa ngục, và dường như là khó gạt bỏ lẫn nhau.
Và điều đó sẽ không cho bạn bất
kì kinh nghiệm nào: nếu bằng cách nào đó bạn có thể tránh xa khỏi người đàn bà
này và người đàn bà này có thể tránh xa khỏi bạn, lập tức bạn sẽ rơi vào yêu
người đàn bà khác và cô ấy sẽ rơi vào yêu người đàn ông khác. Cùng câu chuyện
có thể được lặp lại cả đời bạn, và dầu vậy bạn sẽ không nhận biết rằng đó là
phóng chiếu của bạn.
Người có nhận biết chỉ có thể
thấy thực tại. Bằng không, bất kì cái gì bạn thấy đều là ý tưởng riêng của bạn;
bất kì cái gì bạn muốn thấy, bạn thấy. Nếu bạn thấy thực tại thế thì không có
thất vọng bao giờ, vì thực tại vẫn còn như nó vậy. Nhưng phóng chiếu của bạn
không thể còn lại.
Người say đơn giản là ví dụ
hoàn hảo về mọi kinh nghiệm của chúng ta... và không chỉ là biểu tượng, mà gần
như đích xác là hoàn cảnh. Bây giờ các nhà khoa học nói nếu họ tiêm vài hooc
môn thêm vào trong bạn, lập tức điều bạn thấy quanh bạn sẽ là khác. Chẳng hạn,
bạn thấy một người đàn bà là xấu. Nếu vài hooc môn thêm, những thứ làm cho tính
đàn ông của bạn sống động hơn được tiêm vào trong bạn, lập tức người đàn bà xấu
sẽ bắt đầu có vẻ giống như Sophia Loren: "Trời đất, Sophia Loren đã từ đâu
tới!"
Những hooc môn đó đang ảnh hưởng
tới mắt bạn, tính nhạy cảm của bạn; chúng đang ép buộc tâm trí bạn thấy cái
không có đó. Bất kì chuyện tình nào cũng có thể bị phá huỷ mà không khó khăn
gì.
Một trong các sinh viên của tôi
đã trong chuyện tình lớn. Mọi chuyện tình đều lớn; không ích gì mà nói 'chuyện
tình lớn.' Anh ta là sinh viên rất thông minh, và người bố của cô gái là một đại
tá quân đội, người đã nói rằng nếu ông ấy thấy cậu con trai nào ở gần nhà ông ấy,
ông ấy sẽ bắt anh ta. Và ông ấy là người nguy hiểm tới mức ông ấy nổi tiếng làm
những điều như thế. Cho nên anh ta thậm chí không thể đi tới gần nhà của cô
gái.
Ông ấy càng ngăn cản, tâm trí
anh ta càng phóng chiếu, mơ mộng liên tục. Anh ta hỏi tôi, "Em phải làm gì
đây? - vì ông đại tá già đó là ngốc thế, ông ấy có thể bắn. Cả ngày ông ấy liên
tục đánh bóng khẩu súng. Em nhìn từ xa vào điều ông ấy làm, nhưng bất kì khi
nào em thấy ông ấy, ông ấy đều đang đánh bóng khẩu súng dường như ông ấy chỉ có
mỗi việc này để làm."
Ông ấy là người về hưu, và chỉ
từ thói quen cũ, ông ấy chẳng có gì khác để làm. Và ông ấy nổi tiếng là kiểu
người nguy hiểm. Người ta có thể nói với ai đó nếu người này sẽ cho phép bạn tới
gần, nhưng ông này sẽ bắn anh ta ngay lập tức. Ông ấy đã bảo anh ta, "Nếu
tôi thấy cậu lảng vảng gần nhà tôi, thế thì dù bất kì cái gì xảy ra cho tôi,
tôi sẽ bắn cậu."
Tôi nói, "Tôi biết một bác
sĩ. Cách tốt nhất cho em là đi tới bác sĩ này."
Anh ta nói, "Bác sĩ có thể
làm gì về điều này?"
Tôi nói, "Em làm một điều.
Bác sĩ sẽ lấy ra vài hooc môn từ em hay ông ấy sẽ cho em phản hooc môn nào đó.
Nếu ông ấy không thể lấy được chúng ra, ông ấy có thể cho em phản hooc môn nào
đó."
Anh ta nói, "Trời đất, thế
thì cái gì sẽ xảy ra?"
Tôi nói, "Cái gì sẽ xảy ra
à? Tình yêu lớn của em sẽ biến mất. Không cần phí một viên đạn không cần thiết
của ông đại tá già đáng thương đó. Không có nhu cầu. Cứ để ông ấy đánh bóng
súng."
Anh ta nói, "Em thường
nghĩ rằng ông ấy là kì lạ - nhưng thầy dường như thậm chí còn kì lạ hơn. Thầy
đang cho em loại lời khuyên gì vậy?"
Tôi nói, "Đó là lời khuyên
duy nhất đúng. Nó không là gì ngoài hooc môn. Bao nhiêu lần em đã gặp con gái của
ông ấy?"
Anh ta nói, "Không nhiều lần
đâu. Vì ông ấy, việc đó là khó thế."
Tôi bảo anh ta, "Em tới tư
vấn bất kì bác sĩ nào, hay tư vấn giáo sư sinh hoá trong đại học. Đó là hiện tượng
đơn giản, không có gì đặc biệt trong nó. Nó chỉ là hấp đẫn hooc môn. Nhưng em bị
lẫn lộn; em nghĩ em đang trong yêu. Những hooc môn đó đang giở thủ đoạn."
Mọi giác quan của bạn đều ở dưới
tác động của sinh học, sinh lí, hooc môn, hoá chất của bạn, và cả đời bạn bị
bao quanh bởi đủ mọi loại ảo tưởng. Chỉ con người của việc nhận ra mới thấy mọi
thứ như chúng vậy.
Bạn không thể thấy được mọi thứ
như chúng vậy. Bạn chỉ có thể thấy các thứ như bạn muốn thấy chúng, hay có lẽ
hoá chất của bạn làm cho bạn thấy chúng. Một khi con người đi ra ngoài tâm trí,
người đó cũng đi ra ngoài sinh học, ra ngoài sinh lí: đây toàn là các bộ phận của
tâm trí người đó.
Biết ánh sáng của cõi bên kia,
biết chân lí và là chân lí và hội nhập với cái một toàn thể hữu cơ - mọi điều
này sẽ xảy ra bên trong bạn. Không ai khác sẽ biết về nó, nhưng đột nhiên cảm
nhận của bạn về thế giới sẽ thay đổi. Tham vọng của bạn về quyền lực sẽ biến mất;
tham vọng của bạn về tiền bạc sẽ biến mất; ảo tưởng của bạn về cái đẹp sẽ biến
mất. Bạn sẽ thấy cái đẹp theo cách khác toàn bộ. Bạn sẽ thấy cuộc sống không
như bị cái chết bao quanh.
Toàn thế giới này sẽ vẫn còn
như vậy, nhưng với bạn, nó sẽ không là cùng thế giới cũ nữa, vì bạn đã thay đổi.
Thay đổi của bạn, biến đổi của bạn sẽ biến đổi toàn thế giới. Bạn sẽ thấy mọi
thứ theo ánh sáng mới.
Sẽ không có gắn bó; sẽ không có
ham muốn nắm giữ; sẽ không có tham; sẽ không có ghen tị. Và khi mọi chất độc
này không còn đó, cuộc sống của bạn sẽ là cuộc sống của duyên dáng vô cùng, vui
vẻ vô cùng... đầy ánh sáng sẽ bắt đầu toả ra từ bạn, điều sẽ được cảm thấy bởi
những người nhạy cảm với nó. Nó có thể làm lẩy cò cùng kinh nghiệm trong người
khác. Nó có thể trở thành phản ứng dây chuyền.
Đó là cách nó đã từng truyền từ
thầy sang đệ tử. Nó không được truyền qua lời; nó được truyền qua sự hiện diện,
qua năng lượng. Mọi điều được cần về đệ tử là cái tâm mở, không mong đợi, không
định kiến - chỉ là cái tâm mở, im lặng, đơn giản. Và nếu thầy là con người của
chứng ngộ, lửa của thầy có thể bắt đầu làm bùng lên ngọn lửa bên trong riêng của
bạn; lửa của thầy có thể làm cho bạn bốc cháy, bắt lửa.
Đó là cách ánh sáng đã được
truyền, chân lí đã được truyền, từ thầy sang đệ tử suốt nhiều thời đại. Họ đã từng
nói, nhưng việc nói của họ chỉ là cái lưới để bắt giữ tâm trí bạn. Tâm trí bạn
cần lời, và nếu họ có thể bắt giữ tâm trí bạn, thế thì có mọi khả năng bạn sẽ bắt
đầu tới ngày càng gần hơn. Thế thì không có nhận biết về nó của bạn, bất kì khoảnh
khắc nào lửa từ tâm của thầy có thể nhảy vào bạn. Thế thì sẽ là quá muộn, bạn
không thể làm được bất kì cái gì. Nó đã xảy ra.
Bây giờ, mọi điều bạn có thể
làm là cho phép lửa nhảy vào trong người khác. Không có cách nào thoát khỏi lửa
này, vì thực ra nó là lửa riêng của bạn; nó chỉ bị kìm nén bên trong hàng núi
rác rưởi. Vì bạn tin cậy, vì bạn yêu, vì bạn có đức tín nào đó và bạn mở tâm của
bạn mà không sợ gì, lửa của thầy có thể thiêu cháy mọi rác rưởi của bạn, và lửa
riêng của bạn có thể bắt đầu là cách nó phải vậy.
Một khi bạn đã biết tới lửa
riêng của bạn, ánh sáng riêng của bạn, việc nở hoa riêng của bạn, cuộc sống là
sự mãn nguyện thế. Chỉ một điều còn lại sau đó, và đó là lòng biết ơn thường
xuyên, thái độ biết ơn. Tôi gọi nó là lời cầu nguyện duy nhất. Nó không có lời,
những chỉ là cảm giác biết ơn sâu sắc hướng tới sự tồn tại.
Được chứ, Maneesha?
Vâng, thưa Osho.
0 Đánh giá