Chương 8. Quên trâu còn người

Chương 8. Quên trâu còn người

Price:

Read more

TÌM TRÂU - Osho

Nói về mười bức tranh trâu 'Thập mục ngưu đồ' của Thiền

Chương 8. Quên trâu còn người


7. Quên trâu còn người

Kị ngưu dĩ đắc đáo gia san

Ngưu dã không hề nhân dã nhàn

Hồng nhật tam can do tác mộng

Tiên thằng không đốn thảo đường gian

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san

Trâu đã không rồi người cũng nhàn

Mặt nhật ba sào vẫn say mộng

Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng

Bình:

Tất cả là một luật, không hai. Chúng ta chỉ lấy trâu làm đối thể tạm thời. Nó hệt như quan hệ của thỏ và bẫy, của cá và nơm. Nó hệt như vàng và xỉ, hay trăng ló ra từ mây. Một con đường sáng rõ chiếu suốt thời gian vô hạn.

8. Người trâu đều quên

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không

Bích thiên liêu khoát tín nan thông

Hồng lô diễm thượng tranh dung tuyết

Đáo thử phương năng hợp tổ tông

Roi dây, người trâu thảy đều không

Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông

Lò hồng rừng rực nào dung tuyết

Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông

Bình:

Tính phàm mất rồi.Tâm không giới hạn. Ta không tìm trạng thái chứng ngộ. Ta không còn ở chỗ không tồn tại chứng ngộ. Vì ta không nấn ná trong điều kiện nào, mắt không thể thấy được ta. Nếu hàng trăm chim rải hoa trên đường ta, lời ca ngợi như thế sẽ là vô nghĩa.

Gertrude Stein sắp chết. Đột nhiên bà ấy mở mắt ra và hỏi bạn bè đang tụ tập quanh bà ấy, "Câu trả lời là gì?" Bây giờ điều này là cực kì đẹp, gần như một công án. Câu hỏi này đã không được hỏi; bà ấy hỏi, "Câu trả lời là gì?" Tất nhiên, không ai có khả năng trả lời nó. Họ nhìn lẫn nhau. Họ đều lúng túng ngay cả để hiểu điều bà ấy ngụ ý. Một Thiền sư được cần, ai đó có thể đã đáp ứng từ trái tim người đó - một cách tự phát, ngay lập tức. Ai đó người có thể đã cười sằng sặc, hay hét lên, hay làm cái gì đó, bởi vì câu hỏi như thế - Câu trả lời là gì? - không thể được trả lời qua lời.

Stein đang nói rằng câu hỏi là tới mức nó không thể được phát biểu - và vậy mà câu hỏi có đó, cho nên câu trả lời là gì? Câu hỏi là tới mức nó không thể nào được thốt ra. Nó sâu sắc thế, nó không thể được mang lên bề mặt. Nhưng dầu vậy nó có đó, cho nên câu trả lời là gì? Câu hỏi là tới mức nó không tách rời khỏi người hỏi, dường như toàn thể bản thể của người hỏi đã trở thành dấu chấm hỏi: Câu trả lời là gì?

Họ nhìn lẫn nhau. Họ hoàn toàn lúng túng chả biết làm gì. Họ phải đã nghĩ: Bà sắp chết này đã phát điên. Điều đó là điên, ngớ ngẩn mà đi hỏi, "Câu trả lời là gì?" khi câu hỏi còn chưa được hình thành. Không ai đáp lại. Không ai đủ nhận biết để đáp lại nó. Không ai đáp ứng, bởi vì thực ra không ai có đó để đáp ứng. Không ai hiện diện thế như để đáp ứng.

"Trong trường hợp đó," bà ấy nhấn mạnh, "câu hỏi là gì?" Lần nữa im lặng lại theo sau. Làm sao người nào khác có thể nói cho bạn câu hỏi là gì? Chắc chắn bà ấy đã phát điên. Chắc chắn bà ấy không còn trong ý thức. Nhưng câu hỏi là tới mức không thể nào nói nó là gì. Khoảnh khắc bạn nói nó, bạn phản bội nó. Khoảnh khắc bạn làm ra lời cho nó, nó không còn như cũ nữa. Nó không còn là cùng câu hỏi đã có đó trong tim. Một khi nó trở thành được nói ra lời, nó trở thành một thứ của cái đầu. Nó có vẻ gần như tầm thường, gần như hời hợt. Bạn không thể hỏi được câu hỏi tối thượng. Trong việc hỏi nó, nó sẽ không là điều tối thượng chút nào nữa.

Chỉ một thầy mới có thể hiểu điều bà ấy đang nói. Bà ấy là người đàn bà đẹp, người đẹp, cực kì hiểu biết. Và vào khoảnh khắc cuối cùng của đời mình, bà ấy đã nở hoa trong công án này. Bạn phải đã nghe tới phát biểu nổi tiếng của bà ấy mà đã gần như trở thành lời nói sáo, hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng. Không cái gì có thể được nói về hoa hồng, ngoại trừ nó là hoa hồng. Mọi điều bạn có thể nói về nó sẽ làm sai lạc nó. Nó đơn giản có đó trong cái đẹp kì lạ của nó, với hương thơm không biết của nó, như một sự kiện. Bạn không thể lí thuyết hoá về nó. Và bất kì cái gì bạn lí thuyết hoá đều sẽ là về cái gì đó khác, sẽ không là về hoa hồng này; sẽ là phản xạ trong gương, sẽ không là điều thực.

Hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng - không gì hơn có thể được nói. Không cái gì được nói khi bạn nói: Hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng. Nếu bạn đi tới nhà logic, ông ấy sẽ nói đây là lặp lại không cần thiết; bạn đang lặp lại cùng một từ một cách không cần thiết. Bạn không nói điều gì cả! Nhưng cái gì đó đang được nói đấy: rằng không cái gì có thể được nói.

"Trong trường hợp đó," bà ấy nhấn mạnh, "câu hỏi là gì?" Im lặng vẫn còn không bị phá vỡ. Không ai có đủ khả năng để đáp ứng. Lời đáp không được cần; bà ấy đang hỏi về sự đáp ứng.

Bạn có thể liên tục nghĩ về sống và chết, và bạn có thể liên tục tạo ra nhiều lí thuyết và giả thuyết, nhưng toàn thể triết lí chỉ là rác rưởi. Sống vẫn không được trả lời, chết vẫn không được trả lời. Vào khoảnh khắc đó, Stein đã hỏi về sống và chết; về cái chính là sống, về cái cũng chính là chết - về điều tối thượng, điều nền tảng, chính nền của bản thể bạn. Bà ấy đang hỏi: Ta là ai? Nhưng triết học không có câu trả lời. Triết học đã từng cố gắng trả lời; nhiều thế kỉ suy nghĩ, suy đoán, nhưng toàn thể nỗ lực này là trống rỗng.

Omar Khayyam đã nói: "Bản thân ta khi còn trẻ đã năng nổ lui tới tiến sĩ và thánh nhân, và nghe luận cứ lớn lao về nó và về, nhưng bao giờ cũng nhiều luận cứ khi bước ra cùng cánh cửa đó hơn là khi ta đi vào."

Về nó và về... Nhiều luận cứ, nhiều triết lí hoá, nhưng về nó và về, chưa bao giờ đích xác đúng điểm, toàn nói loanh quanh. Nhiều luận cứ kích động diễn ra; chẳng cái gì ra từ nó. Dường như chỉ toàn lời lắp bắp. Không cái gì có thể đi ra từ nó, bởi vì cuộc sống không phải là câu hỏi triết lí. Và bất kì câu trả lời nào mà chỉ triết lí đều sẽ không là câu trả lời. Cuộc sống có tính tồn tại. Chỉ câu trả lời có tính tồn tại mới có thể thoả mãn cho bạn, không phải câu trả lời được ai đó khác cho; không phải là câu trả lời được bịa ra, được chế ra bởi tâm trí; không phải là câu trả lời được vay mượn từ kinh sách, mà câu trả lời nảy sinh trong bản thể bạn - hoa, phấn, đem toàn bộ số phận của bạn vào trạng thái được biểu lộ; làm bạn nhận biết đầy đủ. Nó sẽ là việc nhận ra; không phải câu trả lời mà là việc khải lộ, không phải câu trả lời mà là kinh nghiệm - có tính tồn tại.

Đây là toàn thể câu chuyện về mười tranh trâu. Việc tìm kiếm có tính tồn tại. Thiền là cách thức trực tiếp nhất. Nó đi thẳng tới mục tiêu. Nó không bao giờ đi đây đó, nó không bao giờ về và về. Nó không đi loanh quanh; nó đi thẳng như mũi tên.

Một trong những triết gia vĩ đại của phương Tây, Ludwig Wittgenstein, đã tới rất gần với thái độ Thiền, ông ấy đã gõ gần vào chiếc cửa. Ông ấy nói: Không phải cách mọi sự đang trong thế giới là huyền thoại, nhưng cách nó tồn tại mới là huyền thoại. Cách thế giới hiện hữu, là điều huyền bí thực. Không phải là cách bạn ở đây, không phải là cách bạn tới đây, không phải là chủ định của bản thể bạn ở đây, mà chỉ sự kiện là bạn ở đây đã là điều huyền bí lớn nhất. Chỉ sự kiện rằng bạn hiện hữu, rằng tôi hiện hữu, là điều huyền bí lớn nhất. Và khi câu trả lời không thể được đưa thành lời, câu hỏi cũng không thể được đưa thành lời.

Điều đó nhắc tôi:

Một người tới Phật và ông ấy nói, "Xin trả lời câu hỏi của tôi mà không dùng lời, vì tôi đã nghe về nó từ một người già rằng câu trả lời là tới mức nó không thể được đưa vào lời."

Phật cười và ông ấy nói, "Tất nhiên, ông đã nghe đúng rồi; nhưng nêu câu hỏi của ông mà không bằng lời đi, thế thì ta sẽ trả lời câu hỏi của ông mà không dùng lời."

Thế rồi người này nói, "Điều đó là không thể được." Thế rồi người đó hiểu ra: nếu câu hỏi không thể được hình thành, làm sao câu trả lời có thể được hình thành? Nếu bản thân câu hỏi không thể được phát biểu, làm sao bạn có thể yêu cầu câu trả lời được?

Wittgenstein là đúng. Và khi câu trả lời không thể được đưa vào lời và câu hỏi cũng không thể được đưa vào lời, điều bí ẩn không tồn tại. Cả câu hỏi lẫn câu trả lời không thể được đưa vào lời, cho nên điều bí ẩn ở đâu, cho nên vấn đề ở đâu?

Điều này là một sáng suốt vô cùng. Vấn đề không tồn tại - nó được tạo ra bởi tâm trí; nó là việc bịa đặt của tâm trí. Nếu câu hỏi có thể được lên khung chút nào, cũng có thể trả lời cho nó.

Ai đó hỏi Wittgenstein, "Thế thì tại sao ông liên tục viết những cuốn sách hay thế?" Sách của ông ấy Tractatus Logico Philosophicus gần đây được hoan nghênh là một trong những cuốn sách vĩ đại, vĩ đại của toàn thể lịch sử nhân loại. "Thế thì tại sao ông liên tục viết sách? Nếu câu hỏi không thể được hình thành và câu trả lời không thể được cho - thế thì tại sao?"

Ông ấy nói, "Tuyên bố của tôi phục vụ như việc làm sáng tỏ theo cách sau: bất kì ai hiểu tôi chung cuộc đều nhận ra chúng là vô nghĩa." Để tôi nhắc lại điều đó: "Bất kì ai hiểu tôi chung cuộc đều nhận ra chúng là vô nghĩa." Ông ấy đã dùng chúng như các bậc để trèo ra ngoài chúng. Ông ấy, nói đại loại, phải ném đi chiếc thang sau khi ông ấy đã trèo lên nó."

Khoảnh khắc bạn hiểu, thế thì bất kì cái gì tôi đang nói cũng là vô nghĩa. Nếu bạn không hiểu, thế thì nó có vẻ có nghĩa. Mọi nghĩa đều là vì hiểu lầm. Nếu bạn hiểu, thế thì mọi nghĩa đều biến mất; chỉ sống còn lại. Nghĩa là của tâm trí, phóng chiếu của tâm trí, diễn giải của tâm trí. Thế thì, hoa hồng là hoa hồng là hoa hồng - ngay cả những từ này cũng không tồn tại. Chỉ hoa hồng... chỉ hoa hồng không tên nào, không tính từ nào cho nó, không bất kì định nghĩa nào cho nó. Chỉ cuộc sống hiện hữu - đột nhiên không có nghĩa nào, không có chủ định nào. Và đó là bí ẩn lớn nhất để nhận ra.

Cho nên nghĩa không phải là việc tìm thực. Việc tìm thực tới theo bản thân cuộc sống - thô sơ, trần trụi.

Mọi câu hỏi đều ngu xuẩn theo một cách nào đó, và mọi câu trả lời cũng thế. Mọi câu hỏi đều ngu theo một cách nào đó bởi vì chúng toàn do tâm trí tạo ra, và tâm trí là rào chắn giữa bạn và cái thực. Và tâm trí liên tục tạo ra câu hỏi, nó làm chậm việc tìm kiếm. Nó thuyết phục bạn rằng bạn là người tìm kiếm vĩ đại vì bạn đang hỏi nhiều câu hỏi thế. Nhưng vì việc hỏi của bạn, bạn đang thu thập mây quanh bạn. Đầu tiên bạn sẽ hỏi, thế rồi câu hỏi sẽ bao quanh bạn; thế rồi bạn sẽ bắt đầu nhận được câu trả lời nào đó, thế rồi câu trả lời sẽ bao quanh bạn - và bao giờ cũng còn rào chắn giữa bạn và cuộc sống thô sơ, hoang dã, trần trụi, cái đang đó. Nó không là câu hỏi không là câu trả lời, nó là việc khải lộ. Khi tâm trí không có, nó được khải lộ ra cho bạn. Nó đơn giản có đó, được biểu lộ trong mọi vinh quanh của nó, sẵn có trong tính toàn bộ của nó.

Nhưng con người liên tục hỏi các câu hỏi, và dường như với người đó việc hỏi này là việc tìm kiếm lớn bằng cách nào đó. Nó không phải vậy. Mọi câu hỏi, mọi câu trả lời - mọi trò chơi, toàn là trò chơi thôi. Bạn có thể chơi nếu bạn thích, nhưng không cái gì sẽ được giải quyết qua chúng. Và mọi người liên tục hỏi tới chính tận cùng kiếp sống của họ.

Nhưng Gertrude Stein đã làm tốt. Vào khoảnh khắc cuối cùng bà ấy đã làm lộ ra phẩm chất Thiền. Bà ấy đã chứng minh bản thân mình là người đàn bà của hiểu biết, nhận biết. Tất nhiên, những người ở đó không thể hiểu được điều bà ấy đã làm lộ ra. Bà ấy chắc đã được hiểu ở phương Đông, không ở phương Tây. Ở đó bà ấy phải đã bị coi dường như bà ấy đã phát điên chỉ trước khi chết - vì câu hỏi của chúng ta tiếp tục, cùng những câu hỏi ngu xuẩn. Ngay cả ở lúc nguy kịch, khi cái chết đang tới, chúng ta vẫn liên tục hỏi cùng những câu hỏi thường lệ, cũ rích, và chúng ta liên tục tìm câu trả lời.

Tôi đã nghe, chuyện xảy ra ở một ngân hàng, một tên cướp ngân hàng đẩy một tờ giấy ghi qua quầy vào cho nhân viên ngân hàng, trong đó viết: "Cho tiền vào túi, đồ khờ, và không động đậy."

Nhân viên ngân hàng nhanh chóng viết lên tờ giấy và đẩy nó lại: "Làm thẳng cà vạt đi, đồ ngu. Ảnh của mày bị chụp rồi."

Ngay cả vào khoảnh khắc chết, bạn sẽ làm thẳng cà vạt vì ảnh bạn được chụp. Con người vẫn còn quan tâm tới gương. Con người vẫn còn quan tâm tới điều người khác nghĩ về mình, điều người khác nói về mình. Con người liên tục tạo ra hình ảnh đẹp về bản thân mình. Đó là toàn thể nỗ lực sống của bạn. Và một ngày nào đó bạn biến mất, và hình ảnh của bạn rơi vào trong cát bụi. Cát bụi trở về với cát bụi, chẳng cái gì còn lại.

Nhận biết đi. Đừng quan tâm quá nhiều tới hình ảnh. Quan tâm tới cái thực đi - và cái thực là ở bên trong bạn; nó là năng lượng của bạn. Nó chẳng liên quan gì tới bất kì ai khác. Không gương nào được cần cho việc tự biết, vì tự biết không phải là việc phản xạ. Tự biết là việc đương đầu trực tiếp, tức khắc; bạn đi tới đối diện với bản thể riêng của bạn.

Lời kinh thứ bẩy: Trâu được siêu việt lên.

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san

Trâu đã không rồi người cũng nhàn

Mặt nhật ba sào vẫn say mộng

Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng

Trâu được siêu việt lên...

Một khi bạn đã trở thành người chủ của tâm trí bạn, tâm trí được siêu việt lên. Khoảnh khắc bạn đã trở thành người chủ của tâm trí bạn, tâm trí không còn đó nữa. Nó chỉ còn lại nếu bạn là nô lệ. Một khi bạn đã bắt giữ được trâu và bạn cưỡi lên nó, trâu biến mất. Trâu tồn tại như tách biệt khỏi bạn chỉ nếu bạn không là người chủ. Điều này phải được hiểu.

Bạn vẫn còn bị phân chia nếu bạn không là người chủ, bạn vẫn còn phân liệt, phân mảnh. Một khi quyền làm chủ nảy sinh trong bạn, một khi nhận biết và kỉ luật - roi và dây - có đó, phân chia tan biến, bạn trở thành một. Trong tính một đó, trâu được siêu việt lên. Thế thì bạn không thấy bản thân bạn như tách rời khỏi tâm trí bạn. Thế thì bạn không thấy bản thân bạn là tách rời khỏi thân thể. Thế thì bạn không thấy bản thân bạn là tách rời khỏi cái toàn thể. Bạn trở thành một.

Mọi người chủ đều là một với sự tồn tại; chỉ nô lệ là tách rời. Việc tách rời là ốm bệnh. Trong mạnh khoẻ, bạn không tách rời khỏi sự tồn tại - bạn trở thành một với nó.

Cố gắng hiểu điều đó. Khi bạn bị đau đầu, đầu bạn là tách rời khỏi bạn. Bạn có quan sát điều đó không? Khi đau đầu cứ gõ búa bên trong, gõ cửa bên trong, đầu bạn là tách rời khỏi bạn. Nhưng khi đau đầu biến mất, đầu cũng biến mất; thế thì bạn không thể cảm thấy nó, thế thì nó không còn tách rời, thế thì nó đã trở thành một phần của hiện hữu của bạn.

Nếu thân thể bạn mạnh khoẻ hoàn hảo, thế thì bạn không có cảm giác thân thể nào - dường như bạn là vô thân thể. Tính vô thân thể là định nghĩa của mạnh khoẻ hoàn hảo. Nếu cái gì đó gây đau, ngay lập tức bạn trở nên nhận biết về nó - và trong nhận biết đó là tách rời. Gai cắm vào chân bạn, hay giầy bó chân, thế thì phân chia có đấy. Khi giầy vừa vặn hoàn hảo, phân chia bị siêu việt lên.

Bạn là nhận biết về tâm trí vì bằng cách nào đó cuộc đời bạn không phải là sự hài hoà; bất hoà nào đó, cái gì đó không hoà điệu, không hoà hợp. Cái gì đó không hợp đi vào bên trong bạn, do đó bạn cảm thấy bị phân chia.

Khi mọi thứ rơi vào hoà điệu và trong hài hoà, mọi phân chia đều được siêu việt lên.

Đây là lời kinh thứ bẩy: Cưỡi trâu... người ta cưỡi lên năng lượng riêng của người ta. Năng lượng này không di chuyển theo hướng khác nào đó, và bạn không di chuyển theo hướng khác nào đó. Bây giờ cả hai di chuyển theo một hướng. Tranh đấu không còn đó nữa, phân chia đã biến mất. Bạn không tranh đấu với dòng sông; bạn chảy, cưỡi lên sông. Đột nhiên, bạn không tách rời khỏi sông.

Đi vào sông đi. Đầu tiên cố đi ngược dòng - tranh đấu, vật lộn, và bạn sẽ thấy sông đang tranh đấu với bạn, bạn sẽ nói sông đang cố đánh bại bạn. Và bạn sẽ thấy: sông chung cuộc sẽ đánh bại bạn... bởi vì một khoảnh khắc sẽ tới khi bạn sẽ trở nên mệt mỏi, và bạn sẽ thấy sông đang thắng và bạn đang bị thua.

Thế rồi thử cách khác: nổi cùng sông, buông bỏ, và dần dần bạn sẽ thấy bây giờ sông không tranh đấu với bạn. Thực ra, sông không tranh đấu với bạn chút nào; ngay cả khi bạn đi ngược dòng, sông không tranh đấu với bạn. Chính là mỗi bạn đang trong tranh đấu thôi, người đang trong tâm trạng bản ngã; người đang cố thắng, để được thắng lợi; người đang cố chứng minh cái gì đó, rằng "Tôi là ai đó." Ý tưởng đó về việc là ai đó đã tạo ra toàn thể vấn đề.

Bây giờ bạn là không ai cả, nổi cùng sông, trong buông bỏ sâu sắc. Sông không còn chống lại bạn - nó chưa bao giờ chống lại! Chỉ thái độ của bạn thay đổi, và bạn cảm thấy thế thì sông đã thay đổi hoàn toàn. Nhưng sông bao giờ cũng là một thôi; bây giờ bạn đang cưỡi lên sông. Và nếu bạn có thể nổi một cách toàn bộ, thậm chí không một hơi chút nỗ lực bơi, chỉ nổi, thế thì thân thể bạn và thân thể của sông hội nhập. Thế thì bạn không nhận biết thân thể bạn chấm dứt ở đâu và thân thể sông bắt đầu ở đâu. Thế thì bạn ở trong thống nhất hữu cơ với dòng sông. Thế thì bạn sẽ cảm thấy kinh nghiệm cực thích. Là một với sông, đột nhiên mọi giới bạn đều bị siêu việt. Bạn không còn nhỏ, bạn không còn lớn - bạn là cái toàn thể.

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san. Và đó là cách đạt tới nhà - vì nhà là khởi nguyên, chính cội nguồn từ đó bạn đã tới; nhà không ở đâu đó khác. Nhà là nơi bạn đã tới từ đó, từ nơi bạn đã từng nảy sinh. Nhà là cội nguồn. Nếu người ta cho phép bản thân mình được ở trong buông bỏ sâu sắc, người ta đạt tới nhà. 'Nhà' nghĩa là người ta đạt tới chính cội nguồn của cuộc sống và hiện hữu, người ta chạm tới chính chỗ bắt đầu.

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san

Trâu đã không rồi người cũng nhàn

Và bạn không thể nhàn theo bất kì cách nào khác. Cách duy nhất để nhàn nhã là không hiện hữu. Cách duy nhất để nhàn nhã là ở trong buông bỏ sâu sắc, được buông xuôi, là một với sinh lực.

Trâu đã không rồi người cũng nhàn

Và không chỉ bạn nghỉ ngơi; trâu cũng nghỉ. Không chỉ bạn có thể nghỉ ngơi, mà sông cũng nghỉ. Khi xung đột tiếp tục, bạn không nghỉ mà Thượng đế cũng không nghỉ. Nhớ điều này. Đây là cái gì đó rất có giá trị bao giờ cũng cần được nhớ. Nếu bạn không nhàn nhã, Thượng đế không thể nhàn nhã, Thượng đế không thể nhàn nhã được; nếu bạn không hạnh phúc, Thượng đế không thể hạnh phúc; nếu bạn không phúc lạc, Thượng đế không thể phúc lạc, bởi vì bạn là một phần của ngài, một phần của cái toàn thể. Bạn ảnh hưởng tới ngài nhiều như ngài ảnh hưởng tới bạn.

Sống là có tương hỗ lẫn nhau. Mọi thứ đều tương hỗ với mọi thứ khác. Nó là một sinh thái, sự đồng quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Một cố kết tồn tại. Nếu bạn không hạnh phúc thế thì Thượng đế không thể hạnh phúc được, bởi vì bạn là một phần. Nó cũng hệt như là nếu chân tôi không hạnh phúc: làm sao tôi có thể hạnh phúc được? Bất hạnh đó ảnh hưởng tới tôi. Không chỉ bạn đang trong rắc rối sâu sắc - sinh lực của bạn cũng trong rắc rối sâu sắc với bạn. Không chỉ việc bạn bị làm rắc rối và ốm yếu; sinh lực của bạn đã trở nên bị làm rắc rối và ốm yếu.

Trâu đã không rồi người cũng nhàn

Mặt nhật ba sào vẫn say mộng

Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng

Và bây giờ không có nhu cầu về roi và dây. Roi nghĩa là nhận biết và dây nghĩa là kỉ luật. Khi bạn đã đi tới điểm bạn có thể cảm thấy bản thân bạn là một với dòng sông cuộc sống, thế thì không cần nhận biết hay kỉ luật. Thế thì không cần thiền. Thế thì không cần làm gì cả. Thế thì cuộc sống làm nó cho bạn. Thế thì người ta có thể thảnh thơi, vì người ta có thể tin cậy toàn bộ. Thế thì không cần thậm chí cả nhận biết, nhớ lấy.

Lúc ban đầu nhận biết là được cần. Lúc ban đầu ngay cả kỉ luật cũng được cần. Nhưng khi bạn trưởng thành về tâm linh chiếc thang bị siêu việt lên, bạn có thể vứt nó đi.

Mặt nhật ba sào vẫn say mộng

Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng

Nhớ lấy: thánh nhân thực sự là thánh nhân chỉ khi ông ấy đã bỏ roi và dây. Đó là tiêu chí. Nếu ông ấy vẫn cố cầu nguyện, thiền, làm cái này cái nọ, và tạo kỉ luật cho bản thân mình, thế thì ông ấy vẫn chưa chứng ngộ. Thế thì ông ấy vẫn có đó và việc làm nào đó tiếp tục. Và việc làm tích luỹ bản ngã. Ông ấy đã không đạt tới nhà. Cuộc hành trình còn chưa được hoàn thành.

Ở Trung Quốc có một câu chuyện Thiền hay:

Một người đàn bà rất giầu hầu hạ một sư trong ba mươi năm. Sư này thực sự đẹp, bao giờ cũng nhận biết, có kỉ luật. Ông ta có cái đẹp tới một cách tự nhiên khi cuộc sống của ông ta được trong trật tự - sạch sẽ, tươi tắn. Người đàn bà này sắp chết, bà ấy rất già. Bà ấy gọi một gái mãi dâm từ thị trấn tới và bảo cô này, "Trước khi ta từ bỏ thân thể ta muốn biết một điều - liệu người đàn ông này mà ta đã từng hầu hạ trong ba mươi năm đã đạt tới hay chưa."

Nghi ngờ là tự nhiên, vì người đàn ông này chưa bỏ roi và dây.

Cô gái mãi dâm hỏi, "Bà bảo tôi làm gì?"

Bà già nói, "Ta sẽ cho cô bao nhiêu tiền tuỳ ý cô. Cô chỉ phải đi vào giữa đêm. Ông ta sẽ đang thiền, vì ông ta thiền từ giữa đêm. Cửa không bao giờ đóng vì ông ta không có gì có thể bị lấy cắp, cho nên cô chỉ mở cửa, và quan sát phản ứng của ông ta. Mở cửa ra, lại gần, ôm ông ta, và thế rồi quay lại và nói cho ta điều đã xảy ra. Trước khi ta chết, ta muốn biết liệu ta đã hầu hạ một thầy thực hay chỉ là một người thường, tầm thường."

Cô gái mãi dâm đi. Cô ấy mở cửa ra. Một chiếc đèn nhỏ đang cháy; người đàn ông đang thiền. Ông ta mở mắt ra. Thấy cô gái mãi dâm, nhận ra cô gái mãi dâm, ông ta trở nên sợ, hơi run rẩy, và ông ta nói, "Cái gì thế! Sao cô đã tới đây?" Và khi người đàn bà cố ôm lấy ông ta, ông ta cố thoát ra. Ông ta run rẩy và bực tức.

Người đàn bà quay về và kể cho bà già điều đã xảy ra. Bà già ra lệnh cho người hầu đốt chiếc lều mà bà ấy đã làm cho người đàn ông này, và được kết thúc với ông ta. Ông ta đã chẳng đạt tới đâu cả. Bà già nói, "Ít nhất nó đáng phải có chút ít lòng tốt, từ bi chứ."

Nỗi sợ này chỉ ra roi còn chưa được bỏ. Giận dữ này chỉ ra nhận biết vẫn còn là nỗ lực, nó không trở thành tự nhiên, nó không trở thành tự phát.

Kinh thứ tám: Cả trâu và cái ta đều bị siêu việt lên...

Đầu tiên trâu được siêu việt - tâm trí, năng lượng tâm trí, cuộc sống, sinh lực, được siêu việt lên. Và thế rồi, khi bạn đã siêu việt lên cuộc sống, bạn siêu việt lên trên bản thân bạn.

Roi dây, người trâu thảy đều không

Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông

Lò hồng rừng rực nào dung tuyết

Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông

Khoảnh khắc tâm trí biến mất, bạn cũng biến mất - bởi vì bạn tồn tại trong vật lộn. Bản ngã tồn tại trong căng thẳng. Với bản ngã, nhị nguyên được cần. Nó không thể tồn tại với thực tại bất nhị. Cho nên quan sát mà xem: bất kì khi nào bạn tranh đấu, bản ngã của bạn trở thành rất sắc sảo. Quan sát hai mươi bốn giờ và bạn sẽ thấy nhiều đỉnh và nhiều thung lũng của bản ngã của bạn, và nhiều lần bạn sẽ cảm thấy rằng nó không có đó. Nếu bạn không tranh đấu với cái gì, nó không có đó. Nó phụ thuộc vào tranh đấu.

Do đó mọi người liên tục tìm cách thức và phương tiện và cớ để tranh đấu, vì không có tranh đấu họ đơn giản bắt đầu biến mất. Nó cần tạo ra thường xuyên, cũng giống như đạp xe đạp. Bạn phải liên tục đạp; chỉ thế thì xe đạp mới chạy. Một khi bạn thôi đạp, sớm hay muộn xe đạp sẽ đổ kềnh. Đó là phép màu: chỉ trên hai bánh, chống lại mọi sức hút, bạn liên tục chuyển động. Nhưng việc đạp thường xuyên là được cần.

Bản ngã là phép màu: điều ảo tưởng nhất, và dường như là rắn chắc và thực. Mọi người sống vì nó và chết vì nó. Nhưng nó cần đạp thường xuyên - và việc đạp đó là tranh đấu của bạn. Do đó, bạn không thể sống mà không tranh đấu. Bạn sẽ tìm ra cách nào đó này khác. Bạn sẽ bắt đầu tranh đấu với con bạn nếu bạn không thể tìm được ai đó khác. Bạn sẽ bắt đầu tranh đấu với vợ bạn hay chồng bạn, thỉnh thoảng chẳng vì lí do nào cả. Thực ra, chẳng cần lí do nào; mọi lí do đều là việc hợp lí hoá. Nhưng bạn phải tranh đấu, bằng không bạn bắt đầu tan biến, bạn bắt đầu tan chảy. Bạn bắt đầu rơi rụng dường như bạn ở trong vực thẳm, vực thẳm không đáy.

Đến sáng, khi bạn chỉ mới ra khỏi giấc ngủ, có trong vài giây trạng thái của vô ngã. Đó là lí do tại sao bạn cảm thấy thuần khiết và sạch sẽ và trong trắng thế. Nhưng ngay lập từ thế giới bắt đầu. Ngay cả trong đêm, trong giấc ngủ của bạn, bạn liên tục tranh đấu, bạn liên tục tạo ra ác mộng, để cho sợi chỉ với bản ngã sẽ không bị mất hoàn toàn.

Bản ngã là có thể chỉ trong xung đột, vật lộn. Nếu bạn không có gì để tranh đấu, bạn sẽ tạo ra cách nào đó này khác để tranh đấu.

Tôi mới đọc hôm nọ về một người chưa bao giờ có đánh nhau gì với vợ mình, và hàng xóm ngạc nhiên anh ta là kiểu đàn ông gì. Anh ta sẽ về nhà từ xưởng bao giờ cũng cười và hạnh phúc, chưa bao giờ mệt, chưa bao giờ căng thẳng. Ngay cả vợ anh ta đôi khi cũng ngạc nhiên: Anh ta chưa bao giờ đánh nhau, chưa bao giờ giận dữ - chuyện gì vậy?

Thế rồi toàn thể hàng xóm tụ tập lại và dò hỏi, và người này nói, "Chả có gì mấy trong đó đâu. Ở xưởng..." Anh ta làm việc trong xưởng kính nơi mà, bất kì khi nào cái gì đó không đạt chuẩn, nó được đưa cho anh ta và anh ta đập nó thành từng mảnh - đó là việc của anh ta. Đĩa, cốc, chén - cả ngày anh ta đập vỡ chúng. Anh ta nói, "Tôi cảm thấy hạnh phúc thế, không cần đánh nhau với bất kì ai. Nó đã quá nhiều rồi! Tôi cảm thấy ở trên đỉnh thế giới."

Bạn biết rõ: bất kì khi nào vợ cảm thấy không thoải mái, nhiều đĩa sẽ bị đập vỡ, nhiều cốc sẽ đổ xuống. Nó phải vậy. Bản ngã tìm ra cách nào đó này khác, bất kì cái gì - tưởng tượng, ngay cả tưởng tượng - sẽ có tác dụng, nhưng cái gì đó phải bị đập vỡ. Cho nên đánh nhau nảy sinh.

Người chẻ củi, tiều phu, là những người rất im lặng. Tâm lí của họ là khác: cả ngày chẻ củi, giận của họ bị tống ra. Họ thường xuyên trong tẩy rửa. Họ không cần Thiền Động. Và bạn sẽ thấy họ là người rất đáng yêu.

Thợ săn là người rất đáng yêu; toàn thể công việc của họ là bạo hành, nhưng họ là người rất đáng yêu - bạn sẽ không tìm thấy người tốt hơn thợ săn. Họ không cần đem bản ngã của họ ra chống lại bạn; họ đã có đủ nó với con vật rồi.

Nếu bạn vào nhà tù và nhìn các tội nhân ở đó, bạn sẽ đơn giản ngạc nhiên rằng các tội nhân có đôi mắt im lặng hơn cái gọi là thánh nhân của bạn. Cái gọi là thánh nhân của bạn đang ngồi trên núi lửa, thường xuyên kìm nén cái gì đó. Tội nhân đã không kìm nén cái gì, đó là lí do tại sao họ là tội nhân. Họ không mang núi lửa bên trong họ. Họ là người tốt theo cách nào đó - im lặng hơn, đáng yêu hơn, chân thành hơn. Bạn có thể tin cậy vào họ. Nhưng bạn không thể tin cậy vào các thánh nhân của bạn được - họ là những người nguy hiểm, và họ liên tục tích luỹ nhiều chất độc. Và họ cũng phải tạo ra tranh đấu tưởng tượng.

Bạn phải đã nghe về các thánh nhân: quỉ tới cám dỗ họ. Nó chẳng ở đâu cả; quỉ không tồn tại, nó là tưởng tượng riêng của họ. Họ cần tranh đấu nào đó, bằng không họ cảm thấy khó chịu. Bản ngã của họ không thể tồn tại được: họ không còn là một phần của chợ. Cạnh tranh tàn khốc không còn cho họ; họ đã bỏ nó rồi. Bây giờ, duy trì bản ngã ở đâu, làm sao duy trì được bản ngã? Họ không trong chính trị - duy trì bản ngã ở đâu? Họ không là nhà thơ, hoạ sĩ - duy trì bản ngã ở đâu? Họ không làm gì cả, không tranh đấu với bất kì đối thủ cạnh tranh nào, cho nên họ tạo ra kẻ thù tưởng tượng - quỉ - và họ bắt đầu tranh đấu với quỉ.

Ở Ấn Độ, chúng ta có nhiều câu chuyện trong Puranas, trong kinh sách cổ, rằng bất kì khi nào các thánh nhân đang thiền, đàn bà đẹp tới từ trời để cám dỗ họ. Nhưng tạo sao bất kì ai cũng phải lo nghĩ? Họ không làm cái gì xấu cho thiền. Sao bất kì ai phải quan tâm tới việc làm sao lãng họ theo bất kì cách nào? Nhưng apsaras, các thiếu nữ đẹp từ trên cõi trời, tới và nhảy múa quanh họ. Và họ làm việc tranh đấu lớn lao! Họ cố gắng chinh phục cám dỗ.

Bây giờ điều này toàn là tưởng tượng. Họ đã bỏ kẻ thù thực, bây giờ họ đang tạo ra kẻ thù tưởng tượng, bởi vì bản ngã không thể tồn tại mà không có kẻ thù. Tranh đấu được cần; thực, không thực, không phải là vấn đề. Nếu tranh đấu có đó, bạn có thể hiện hữu. Nếu không có tranh đấu, bạn biến mất. Do đó thông điệp lớn nhất mà tôi có thể cho bạn là - nhớ lấy nó - bạn phải đi tới điểm mà mọi tranh đấu đều bị loại bỏ. Chỉ thế thì bạn sẽ siêu việt lên trên bản thân bạn. Chỉ thế thì bạn sẽ không bao giờ lại là cái ta nhỏ bé, tí hon, cái ta xấu xí mà bạn đang là. Bạn sẽ siêu việt lên nó và bạn sẽ trở thành một với cái toàn thể.

Roi dây, người trâu thảy đều không

Một tính không lớn nảy sinh trong đó mọi thứ đều mất đi. Trống rỗng này không có tính phủ định: nó là chính cội nguồn của mọi sinh linh. Nhưng nó không có giới hạn.

Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông

Lò hồng rừng rực nào dung tuyết

Như bông tuyết sẽ biến mất trong ngọn lửa dữ dội, trong năng lượng vô cùng này của cái toàn thể mọi thứ biến mất - roi, dây, người và trâu.

Đến đó mới hay hiệp Tổ Tông

Ở đây bạn tìm thấy, lần đầu tiên, nơi chư phật đã chuyển đi. Ở đây bạn tìm thấy, lần đầu tiên, hương thơm của người chứng ngộ, ý nghĩa của hiện hữu của họ, của việc nhận ra của họ. Ở đây bạn lắng nghe bài ca của họ. Một chiều mới mở cánh cửa của nó ra. Gọi chiều này là niết bàn, moksha, vương quốc của Thượng đế - bất kì cái gì bạn thích - nhưng cái gì đó tuyệt đối khác với thế giới bạn đã biết mãi cho tới giờ mở ra. Đây là dấu chân của các tổ sư, tất cả những người vĩ đại đã từng bước đi trong tính không và biến mất trong nó.

Lời bình văn xuôi cho lời kinh thứ bẩy:

Tất cả là một luật, không hai. Chúng ta chỉ lấy trâu làm đối thể tạm thời. Nó hệt như quan hệ của thỏ và bẫy, của cá và nơm. Nó hệt như vàng và xỉ, hay trăng ló ra từ mây. Một con đường sáng rõ chiếu suốt thời gian vô hạn.

Tất cả là một luật, không hai - tính một là chính bản tính của sự tồn tại. Tính hai là tưởng tượng của chúng ta. Do đó, cả đời chúng ta khao khát về yêu. Việc khao khát về yêu này không là gì ngoài triệu chứng rằng nơi tính một tồn tại, chúng ta đã tạo ra tính hai, điều là giả.

Bạn không thể tìm được một người không trong nhu cầu sâu sắc về yêu... người muốn yêu và người muốn được yêu. Tại sao nhiều ham muốn thế về yêu? Phải là cái gì đó bắt rễ rất sâu. Đây là thứ bắt rễ sâu: cuộc sống là cái một; chúng ta đã tưởng tượng bản thân mình là tách rời. Bây giờ tách rời đó trở thành nặng nề. Nó là giả và là gánh nặng. Yêu không là gì ngoài ý tưởng về trở thành cái một lần nữa với cái toàn thể. Do đó mới có ham muốn được yêu; do đó mới có ham muốn được cần; do đó mới có ham muốn rằng ai đó nên chấp nhận yêu của bạn. Dường như khó trở thành một với cái toàn thể. Ít nhất người nào đó sẽ chấp nhận bạn; ít nhất từ cánh cửa của một người bạn sẽ có khả năng bắc cầu qua kẽ hở.

Đó là lí do tại sao nếu bạn không trong yêu, bạn thường xuyên nghĩ về yêu. Điều đó trở thành nỗi ám ảnh; nó ám bạn. Nó liên tục lơ lửng quanh bạn. Và nếu bạn đang trong yêu, thế thì điều thứ hai nảy sinh: yêu, dù sâu và mãnh liệt thế nào, dường như không đủ; cái gì đó dường như thiếu. Những người không trong yêu, họ tìm yêu; những người đang trong yêu, họ trở nên nhận biết rằng cái gì đó nhiều hơn được cần tới. Những người yêu lớn bị thất vọng lớn sâu bên dưới, rằng họ đi tới gặp gỡ, thế rồi họ đi tới điểm dường như mọi thứ sẽ biến mất... nhưng lần nữa họ bị ném trở lại bản thân họ. Họ có thoáng nhìn về sự gần gũi, nhưng không của sự thống nhất. Nếu bạn đã yêu đúng, thế thì ham muốn về lời cầu nguyện hay thiền nảy sinh.

Ham muốn về lời cầu nguyện là thế này: rằng tôi đã thử và tôi đã thấy rằng yêu cho những thoáng nhìn. Nhưng những thoáng nhìn làm cho bạn thậm chí còn khát khao hơn trước đây. Người ta khao khát và thế rồi người ta đi tới có những thoáng nhìn về dòng sông đẹp, suối nước - mát mẻ. Và người ta nghe bài ca của dòng suối, và thế rồi nó biến mất - người ta thậm chí trở nên khao khát hơn bao giờ so với trước. Những người không trong yêu, họ khổ; nhưng khổ của họ không là gì khi so với những người thực sự trong yêu. Khổ của họ là mênh mông; khổ của họ là rất xuyên thấu và rất mãnh liệt, bởi vì họ là ở gần và vậy mà xa xăm. Dường như vương quốc chỉ quanh góc này, và họ càng lại gần, nó lại càng ra xa hơn. Điều đó có vẻ giống như chân trời lùi xa dần.

Yêu là bước đầu tiên hướng tới Thượng đế; lời nguyện là bước cuối cùng - hay thiền, bước cuối cùng. Yêu dạy bạn khao khát mới, cơn đói mới, do đó yêu là đẹp. Mọi người tới tôi và họ hỏi tôi về yêu, và tôi nói với họ: Đi vào trong nó - biết rõ rằng tôi đang phái họ vào nguy hiểm. Tôi không phái họ vào yêu sâu để cho họ có thể được thoả mãn. Không ai đã bao giờ được thoả mãn. Tôi đang phái họ vào chuyện tình sâu để làm cho họ thực sự khát khao, để làm cho họ khát khao tới mức chỉ Thượng đế sẽ đủ, không cái gì khác.

Yêu chuẩn bị bạn cho khao khát lớn lao, khao khát về điều thiêng liêng, bởi vì bạn đã có những thoáng nhìn vào trong người khác, đã có những khoảnh khắc khi bạn đã thấy thượng đế hay nữ thượng đế. Trong người khác bạn đã nhìn sâu và bạn đã thấy niềm an ủi; sự thanh thản đã tới với bạn. Nhưng nó là tạm thời, nhất thời, tới rồi đi; giống nhiều với chất liệu mơ hơn chất liệu thực tại.

Một người tới Ramanuja, một nhà huyền môn lớn, và người đó nói, "Tôi muốn rơi vào tình yêu với Thượng đế. Chỉ cho tôi con đường đi!"

Và Ramanuja nói, "Trước hết nói cho ta một điều: ông đã bao giờ yêu người nào khác chưa?"

Người này nói, "Tôi không quan tâm tới thế giới này và những chuyện trần tục, và yêu và những thứ kiểu như thế. Tôi muốn Thượng đế."

Ramanuja nói, "Lần nữa, xin nghĩ về điều đó. Ông đã bao giờ yêu người đàn bà nào, đứa trẻ nào - bất kì ai không?"

Người này nói, "Tôi nói với ông: tôi là người tôn giáo; tôi không phải là người trần tục, và tôi không yêu ai cả. Chỉ cho tôi con đường đi, làm sao tôi có thể đạt tới Thượng đế."

Tương truyền Ramanuja bắt đầu khóc. Nước mắt trào ra mắt ông ấy, và ông ấy nói, "Thế thì điều đó là không thể được. Đầu tiên ông sẽ phải yêu ai đó. Đó là bước thứ nhất. Ông đang hỏi bước cuối cùng và ông thậm chí còn chưa lấy bước đầu tiên? Đi và yêu ai đó đi!"

Chỉ khi yêu không làm dịu đi cơn khát của bạn thì Thượng đế mới trở thành nhu cầu. Nhưng cả hai nhu cầu này là trên cùng một con đường. Lí do cơ bản là ở chỗ chúng ta không tách rời khỏi cái toàn thể trong thực tại, nhưng chúng ta nghĩ chúng ta tách rời. Do đó, ham muốn này nảy sinh: Làm sao trở thành một với cái toàn thể?

Bước đầu tiên là để được cùng ai đó bạn có thể rơi vào trong yêu với người đó, và thế rồi bước thứ hai sẽ nảy sinh ra từ nó theo cách riêng của nó. Yêu thực tất yếu dẫn tới lời nguyện. Và nếu yêu không dẫn tới lời nguyện, nó chưa phải là yêu; nó không phải là yêu thực, bởi vì yêu thực tất yếu chứng minh rằng nó là không đủ. Nhiều hơn là được cần. Yêu thực đem bạn tới cánh cửa của ngôi đền - phải vậy. Đó là tiêu chí của yêu thực.

Tất cả là một luật, không hai. Chúng ta chỉ lấy trâu làm đối thể tạm thời.

Bây giờ lời kinh nói: Trâu không tách rời khỏi bạn; nó chỉ là đối thể tạm thời. Trong hiểu lầm của bạn, nó phải được nghĩ theo cách đó. Nó chỉ là một giả thuyết, được dùng và rồi bị vứt vào đống rác, được dùng và thế rồi bị siêu việt lên. Cho nên đừng cứ tranh đấu liên tục.

Tranh đấu phải không trở thành chuyện vĩnh hằng. Tranh đấu chỉ là phương cách. Nhớ điều này.

Tôi đã thấy những người đã từng tranh đấu cả đời họ; không chỉ trong kiếp này mà còn trong các kiếp sống quá khứ họ cũng đã tranh đấu và tranh đấu - họ đã trở thành chiến binh. Bây giờ họ đã hoàn toàn quên mất chính mục đích. Bây giờ bản thân tranh đấu đã trở thành mục đích! Bây giờ họ liên tục tranh đấu, và qua tranh đấu họ cứ tích luỹ bản ngã tinh vi - có thể rất ngoan đạo, nhưng dẫu sao vẫn độc hại. Họ liên tục tích luỹ bản ngã rất tinh vi. Những người khổ hạnh, các sư... quan sát họ và bạn sẽ thấy bản ngã rất sắc, như thép. Nó không sắc thế trong phàm nhân, vì phàm nhân biết rằng họ là người dốt nát.

Tôi đã nghe một câu chuyện:

Ngược với đánh giá tốt hơn của mình, một người, một người rất già, ưng thuận đi cùng đứa con thiếu niên và đứa cháu trai trên cuộc chạy thử của chiếc xe máy được độ lại, việc họ đã cùng nhau gắn nó lại. Khi chiếc xe máy cọc cạch không vào cua được, và chung cuộc nảy dựng lên và sa vào trong một cánh đồng đã cày vỡ, ông ấy gục đầu vào trong đôi tay run rẩy.

"Bố có đau không bố?" đứa con hỏi. "Bố có cần đi bác sĩ không?"

"Không," lời đáp có suy nghĩ đưa tới. "Vì chỉ đồ ngốc mới ngồi trong cái máy kì cục này, đem tao tới nhà giải phẫu thú y."

Phàm nhân biết rằng mình là đồ ngốc. Bản ngã của người đó không thể rất sắc. Người đó biết rằng người đó đã đi theo những thứ ngu xuẩn. Người đó biết điều đó! - biết điều đó rõ rằng người đó đã từng đi theo những thứ ngu xuẩn, nhưng cảm thấy yếu đuối. Cũng có chủ ý, người đó liên tục đi vào trong cái bẫy cũ, theo lối mòn cũ, trong thường lệ cũ. Người đó là người yếu đuối - điều đó người đó biết, hối hận. Nhiều lần người đó quyết định không đi vào trong cái bẫy cũ lần nữa, nhưng lần nữa lại đi vào. Người đó biết yếu điểm của mình, giới hạn của mình. Bản ngã của người đó không thể rất sắc.

Chuyện xảy ra: Mulla Nasruddin đi tới nhà tâm thần. Anh ta nói, "Tôi không có nhiều tiền đâu, tôi không có thời gian để phí hoài vào cái tràng kỉ đó. Mọi điều tôi muốn làm là hỏi ông chỉ hai câu hỏi thôi."

Nhà tâm thần nói rằng đó không phải là cách ông ta thường làm việc của mình, nhưng trong trường hợp này ông ấy sẽ làm một ngoại lệ: "Câu hỏi của anh là gì?"

Mulla nói, "Câu hỏi thứ nhất của tôi là thế này: Liệu có khả năng cho một người yêu voi không?"

Nhà tâm thần nghĩ điều đó quá nghiêm trọng phải nghĩ một chút. Cuối cùng ông ta nói, "Không, không thể có khả năng cho một người yêu với voi được."

Mulla có vẻ thất vọng. Bác sĩ có chắc chắn không? Bác sĩ nói không có hoài nghi về điều đó.

"Thôi được, vậy thì," Mulla nói, "câu hỏi thứ hai của tôi là thế này: Ông có biết người nào có thể dùng nhẫn đính hôn quá cỡ không?"

Phàm nhân bình thường biết rằng bằng cách nào đó mình là ngu và đần. Chuyện tình của anh ta là chuyện đần; anh ta yêu voi: tiền, quyền, danh. Anh ta biết rõ rằng điều này là không thể được; anh ta biết rằng bằng cách nào đó anh ta sẽ sai, nhưng cảm thấy không có khả năng chống lại, cảm thấy không có khả năng dừng bản thân mình lại, cảm thấy yếu đuối. Anh ta không thể có bản ngã lớn, sắc sảo.

Nhưng người khổ hạnh tôn giáo, người đã đi xa khỏi thế giới và đã đi lên Himalayas, cảm thấy cực kì bản ngã. Bản ngã của người đó rất sắc sảo, như chiếc kiếm. Tất nhiên, nó chẳng chém ai vì người đó đã bỏ thế giới. Điều tốt là người đó đã bỏ thế giới. Nó chém bản thân người đó, nó là tự huỷ diệt.

Những người đang trong thế giới, bản ngã của họ làm hại người khác. Những người đã rời bỏ thế giới, bản ngã của họ làm hại chỉ bản thân họ. Họ trở thành kẻ tự bạo. Họ bắt đầu tranh đấu với bản thân họ và phá huỷ bản thân họ. Thực ra họ bắt đầu một niềm vui tinh vi, suy đồi trong những nỗi khổ mà họ tạo ra, trong đau khổ mà họ áp đặt lên bản thân họ. Một mê đắm rất suy đồi.

Nhớ điều này: nếu tôi nói với bạn phải nhận biết, đó chỉ là phương cách. Nếu tôi nói với bạn phải có kỉ luật, đó chỉ là phương cách, một biện pháp hữu dụng cho bạn; đừng làm nó thành mục đích. Bao giờ cũng nhớ: một ngày nào đó nó phải được siêu việt lên, cho nên đừng lâm vào gắn bó sâu với nó.

Điều đó rất khó. Đầu tiên tôi phải dạy mọi người cách thiền; thế rồi khó chuyển họ vào thiền. Một cách ngần ngại... họ tạo ra đủ mọi loại khó khăn, nhưng bằng cách nào đó tôi buộc họ vào thiền. Thế rồi một ngày nào đó tới khi tôi muốn họ bỏ nó đi; thế rồi họ không muốn bỏ nó. Đầu tiên họ chưa bao giờ muốn đi vào con đường này, thế rồi họ trở nên quá gắn bó với con đường này.

Bây giờ họ nghĩ nếu con đường này bị bỏ đi toàn thể cuộc đời của họ bị phí hoài - dường như bây giờ họ níu bám lấy cầu thang, chiếc thang. Đầu tiên họ sợ đi trên nó; bây giờ họ không sẵn sàng rời bỏ nó.

Thiền là tốt, nó là thuốc. Từ 'meditation-thiền' tới từ cùng gốc như từ 'medicine-thuốc'. Nó là thuốc. Thuốc được cần khi bạn ốm. Khi bạn mạnh khoẻ, thuốc phải được siêu việt lên. Nó không phải là mục đích. Bạn không phải luôn luôn mang chai thuốc cùng bạn. Và không cần tự hào về thuốc của bạn.

Thiền phải được siêu việt lên.

Nhận biết phải được siêu việt lên.

Kỉ luật phải được siêu việt lên.

Một khoảnh khắc tới khi người ta phải sống một cách tự phát - chẻ củi, mang nước từ giếng về, ăn khi đói, ngủ khi cảm thấy buồn ngủ, di chuyển tuyệt đối bình thường; không còn thế gian, không còn thế gian khác; không còn duy vật, không còn tôn giáo. Chỉ đơn giản, bình thường. Con người thực của phẩm chất này không thể được phân loại. Bạn không thể gọi người đó là trần tục hay tôn giáo. Người đó ở bên ngoài các phân loại. Người đó đã đi ra ngoài logic.

Chúng ta chỉ lấy trâu làm đối thể tạm thời. Nó hệt như quan hệ của thỏ và bẫy, của cá và nơm. Nó hệt như vàng và xỉ, hay trăng ló ra từ mây.

Khi trăng ló ra từ mây, chỉ ngẫu nhiên mà mây có đó. Nó không phải là một phần của bản tính của trăng. Khi trăng bị che kín sau mây, thế nữa nó vẫn còn là cùng trăng. Khi nó ló ra khỏi mây, nó là cùng trăng đó. Không cái gì đã thay đổi. Mây chỉ là một sự tạm thời, hoàn cảnh nhất thời.

Tâm trí là mây. Suy nghĩ tựa mây. Bạn là trăng. Thế giới giống như mây; nó đã không tạo ra bất kì khác biệt nào cho bạn. Trong bản tính cố hữu của bạn nó đã không ảnh hưởng tới bạn chút nào. Bạn vẫn còn thuần khiết, bạn vẫn còn thiêng liêng.

Đó là lí do tại sao tôi liên tục nhấn mạnh rằng các bạn là những thượng đế ngay bây giờ. Không cần trì hoãn nó. Có thể có mây, nhưng điều đó không tạo ra khác biệt nào. Bạn có thể nhận ra tính thượng đế của bạn ngay cả bị ẩn sau mây. Trăng vẫn còn là trăng... Một con đường sáng rõ chiếu suốt thời gian vô hạn.

Lời bình văn xuôi cho lời kinh thứ tám:

Tính phàm mất rồi.Tâm không giới hạn. Ta không tìm trạng thái chứng ngộ. Ta không còn ở chỗ không tồn tại chứng ngộ. Vì ta không nấn ná trong điều kiện nào, mắt không thể thấy được ta. Nếu hàng trăm chim rải hoa trên đường ta, lời ca ngợi như thế sẽ là vô nghĩa.

Tính phàm mất rồi... Tâm trí là tầm thường. Mọi người nói rằng ai đó có tâm trí tầm thường; điều đó là sai, vì mọi tâm trí đều tầm thường. Tâm trí như nó vậy là tầm thường. Nhớ điều đó: tính tầm thường là phẩm chất của bản thân tâm trí.

Thông minh không phải là của tâm trí, thông minh là của cõi bên kia. Khi tâm trí không có đó, thế thì có thông minh. Khi trăng không ẩn sau mây, thế thì bạn có thể thấy được nó - chiếu sáng, ánh lên. Khi nó bị ẩn sau mây, mây xen vào việc chiếu sáng; nó không thể tới được bạn. Thế thì bạn không thể thấy được chói sáng của nó. Mọi tâm trí đều là trăng chói sáng ẩn đằng sau mây. Mây là tâm trí: bạn là vô trí.

Tính phàm mất rồi.Tâm không giới hạn.

Và khi không có giới hạn, có vô trí.

Ta không tìm trạng thái chứng ngộ.

Trong khoảnh khắc của nhận ra, ai bận tâm về chứng ngộ? Có hàng trăm câu chuyện hay trong Thiền...

Ai đó tới một thầy và người đó hỏi, "Tôi muốn trở thành phật" - và thầy đánh cho người đó rõ đau.

Người này nói, "Nhưng tại sao? Tại sao thầy đánh tôi? Tôi đã hỏi cái gì sai?"

Và thầy nói, "Anh là phật rồi, và anh muốn trở thành phật sao? Điều đó là không thể được!"

Phật cố gắng trở thành phật là điều không thể được. Do đó cú đánh đau là cần để đem bạn trở về nhà, để đem bạn trở lại ý thức của bạn... rằng bạn đang hỏi điều vô nghĩa. Bạn là phật.

Đôi khi chuyện xảy ra là chỉ một cú đánh và người này đã trở nên chứng ngộ. Nó phải là đúng lúc. Nó phải là việc người này đã từng tìm kiếm trong nhiều kiếp và mệt mỏi về toàn thể cuộc hành trình, mòn mỏi về toàn thể cuộc hành trình, và sẵn sàng - dường như cọng rơm cuối cùng được cần để cho lạc đà sụp xuống, và cú đánh này có tác dụng như cọng rơm cuối cùng.

Nhưng điều này là đúng - bạn đã là cái bạn tìm kiếm rồi.

Người tìm kiếm là cái được tìm.

Và mục đích không ở đâu đó xa xôi trong tương lai. Nó chỉ ở ngay dưới chân bạn. Nó ở đích xác chỗ bạn đang đứng. Bạn có thể mất thời gian để nhận ra nó, bạn có thể mất nhiều kiếp để nhận ra nó, nhưng điều đó không tạo ra khác biệt nào. Ngày bạn nhận ra, bạn sẽ cười vào toàn thể cái ngu xuẩn của nó - rằng nó ở ngay dưới chân bạn.

Tính phàm mất rồi. Tâm không giới hạn. Ta không tìm trạng thái chứng ngộ. Ta không còn ở chỗ không tồn tại chứng ngộ.

Mọi trạng thái đều được siêu việt: chứng ngộ, không chứng ngộ; thế giới, niết bàn - tất cả đều được siêu việt lên.

Vì ta không nấn ná trong điều kiện nào, mắt không thể thấy được ta.

Bức tranh thứ tám này chẳng có gì trong nó: một vòng tròn không có gì bên trong; không trâu không người tìm kiếm theo trâu. Roi, dây, trâu, người tranh đấu, tất cả đều đã biến mất. Trống rỗng thuần khiết.

Bức tranh thứ tám này là bức tranh Đạo cuối cùng, vì Đạo giáo không thể thấy được cái gì hơn có thể xảy ra. Được kết thúc! Mọi thứ đã biến mất. Cái không đã xảy ra, bây giờ cái gì hơn nữa có thể xảy ra? Mọi thứ đã được siêu việt lên. Siêu việt thuần khiết đã xảy ra, bây giờ cái gì hơn có thể xảy ra được? Nhưng Khuếch Am đã tạo ra hai bức tranh nữa - phải đã là một người sáng tạo lớn - và những bức tranh này sẽ vẫn còn là hai bức tranh chúng ta sẽ thảo luận. Nhưng đây là bức tranh Đạo cuối cùng.

Đây là khác biệt giữa Đạo và Thiền, và đây là khác biệt giữa Phật giáo và Thiền nữa. Phật cũng sẽ thích bức tranh thứ tám là bức cuối cùng. Đệ tử của ông ấy, Bồ đề đạt ma và Khuếch Am và Baso, đã đi xa thêm chút ít hơn thầy. Thiền không chỉ là Phật giáo, nó còn nhiều hơn Phật giáo. Nó là việc nở hoa tối thượng - dường như Phật cũng đã được cải tiến. Vài nét vẽ, nét vẽ chính, và cả bộ mặt đã thay đổi.

Thiền đem dạng mới toàn bộ của tôn giáo cho thế giới.

Thiền sẽ là tôn giáo của tương lai của nhân loại, bởi vì nó dạy cách từ bỏ và nó dạy từ bỏ việc từ bỏ nữa. Nó dạy cách đi ra ngoài thế giới, và nó dạy cách đi ra ngoài cái bên ngoài. Điều đó có vẻ ngược đời nhưng không phải vậy đâu, bởi vì khi bạn đi ra ngoài cái bên ngoài, bạn trở lại trong thế giới; vòng tròn là đầy đủ.

Với Phật vòng tròn có chút ít không đầy đủ. Niết bàn vẫn còn là niết bàn, thế giới vẫn còn là thế giới - bị tách rời. Người chứng ngộ vẫn còn chứng ngộ, người không chứng ngộ vẫn còn không chứng ngộ - tách rời. Thiền bắc cầu qua họ. Việc nở hoa tối thượng là khi một người không chứng ngộ, không không chứng ngộ - bên ngoài các phân loại. Người đó sống trong thế giới và vậy mà không sống trong thế giới. Người đó sống trong thế giới nhưng thế giới không sống trong người đó. Người đó đã trở thành hoa sen.

Là hoa sen đi. Ở trong nước, và không để nước dính vào bạn.

Đi lên Himalaya và là thuần khiết thì không phải là rất khó. Bạn có thể làm gì khác được? Bạn phải thuần khiết; điều đó gần như là bất lực.

Đem Himalaya của bạn trở lại trong thế giới đi. Để Himalaya của bạn là ở đây bây giờ trong thế giới này, trong bãi chợ, và thế thì có tiêu chí, phép thử.

Tiêu chí thực là trong thế giới. Nếu bạn đã thực sự đạt tới niết bàn bạn sẽ quay lại thế giới, vì bây giờ không có sợ. Bây giờ bạn có thể ở bất kì chỗ nào. Bây giờ thậm chí địa ngục là cõi trời và tối là sáng và chết là sống. Bây giờ không cái gì có thể làm sao lãng được bạn. Việc đạt tới của bạn là toàn bộ, hoàn hảo, tối thượng.

Là hoa sen đi!

Đủ cho hôm nay.

Xem tiếp Chương 9 - Quay về Mục lục


0 Đánh giá

Ads Belove Post

Powered by RedCircle