Chương 1. Bạn đơn giản hiện hữu

Chương 1. Bạn đơn giản hiện hữu

Price:

Read more

Con người nguyên bản - Osho

Bài nói về Thiền

Chương 1. Bạn đơn giản hiện hữu



Powered by RedCircle


Thưa thầy kính yêu của chúng tôi,

Bạt Đội nói:

Tưởng tượng đứa con ngủ cạnh bố mẹ nó và mơ nó bị đánh hay bị ốm đau đớn. Bố mẹ không thể giúp đứa con, không thành vấn đề nó khổ thế nào, vì không ai có thể đi vào tâm trí mơ của người khác. Nếu đứa con có thể tự nó thức dậy, nó có thể được tự do khỏi đau khổ này một cách tự động.

Theo cùng cách, người nhận ra rằng tâm trí riêng của mình là phật, tự giải phóng mình ngay lập tức khỏi đau khổ nảy sinh từ dốt nát về luật của thay đổi không ngừng bên trong sáu cõi giới. Nếu phật có thể ngăn cản được điều đó, ông có nghĩ ông ấy sẽ cho phép ngay cả một sinh linh hữu tình rơi xuống địa ngục không? Không có việc tự nhận ra người ta không thể hiểu được những điều như vậy như những điều này...

Trong mơ, ông có thể lạc lối và mất đường về nhà. Ông hỏi ai đó chỉ cho ông cách quay về hay ông cầu nguyện Thượng đế hay chư phật giúp ông, nhưng dầu vậy ông không thể về được nhà. Tuy nhiên, một khi ông đánh thức bản thân ông khỏi trạng thái mơ, ông thấy rằng ông đang trong giường của mình và nhận ra rằng cách duy nhất ông có thể về nhà là thức tỉnh bản thân ông.

Loại thức tỉnh tâm linh này được gọi là "trở về cội nguồn" hay "tái sinh trong thiên đường." Nó là loại nhận ra bên trong mà có thể được đạt tới bằng huấn luyện nào đó. Thực sự tất cả những người thích toạ thiền và làm nỗ lực trong thực hành, dù họ là người thế tục hay sư, có thể trải nghiệm tới mức độ này. Nhưng ngay cả việc thức tỉnh một phần như vậy cũng không thể được đạt tới ngoại trừ việc thực hành toạ thiền. Tuy nhiên, ông sẽ phạm sai sót nghiêm trọng nếu ông giả định rằng đây là chứng ngộ thực trong đó không có hoài nghi gì về bản chất của thực tại. Ông sẽ như một người đã tìm thấy đồng, từ bỏ việc tìm vàng.

Anando, Bạt Đội là đúng rõ ràng, nhưng có khả năng rằng người chứng ngộ có thể tạo ra các phương cách cho người chưa chứng ngộ. Đó chắc chắn là một trong những việc làm không thể được nhất, nói với người ngủ hay đi vào mơ của ai đó. Nhưng tôi nói rằng Bạt Đội chỉ là đúng tương đối, vì tôi thường xuyên đi vào trong mơ của bạn. Sẽ có nhiều nhân chứng cho điều đó.

Ông ấy nói:

Tưởng tượng đứa con ngủ cạnh bố mẹ nó và mơ nó bị đánh hay bị ốm đau đớn. Bố mẹ không thể giúp đứa con, không thành vấn đề nó khổ thế nào, vì không ai có thể đi vào tâm trí mơ của người khác.

Không cần đi vào tâm trí mơ của bất kì người nào. Tình cờ Anando ở đây để đọc lời kinh này thay cho Maneesha nghiêm chỉnh.

(Thầy tiến tới Anando, tay thầy rung rung mạnh trong việc cù "điều khiển từ xa". Anando, bị ngạc nhiên toàn bộ, đổ sập vào trong tiếng cười không thể kiểm soát được. Nhiều người bị tiêm nhiễm cười khúc khích, thế rồi thầy quyết định cù mọi người, và trong vài khoảnh khắc vàng, những đợt sóng cười và tiếng cười rót đầy thính phòng.)

Bố mẹ ít nhất có thể làm được ngần này: họ có thể cù đứa con. Không cần đi vào trong mơ của nó, chỉ đánh thức nó dậy. Sự tồn tại quản lí hay tới mức... Maneesha vắng mặt, tình cờ thôi, và đứa con đúng đang ngủ trước tôi. Và bạn có thể thấy, không chỉ tôi có thể cù cô ấy, cái cù lan rộng khắp chốn. Ngay cả trẻ con nhà hàng xóm sẽ bị thức tỉnh!

Đó là lí do tại sao tôi nói Bạt Đội chỉ là đúng tương đối. Khi có liên quan tới tôi, ông ấy không đúng. Tôi đã cù mọi người, tôi đã đi vào trong mơ của họ. Tôi thường xuyên xâm lấn, vì bạn yêu tôi, bạn tin cậy tôi. Tin cậy của bạn vì cái gì? Nếu tôi không thể xâm lấn được, nếu tôi không thể can thiệp vào mơ của bạn, tình yêu của bạn đối với tôi là gì? Chẳng ích gì mà ở đây chút nào nếu tôi không thể giúp, bằng cách nào đó, để làm thức tỉnh bạn.

Cho nên bao giờ cũng nhớ, có chân lí tương đó và có chân lí tuyệt đối. Bạt Đội đang nói chân lí tương đối: bình thường nó là đúng, nhưng chỉ bình thường thôi. Với thầy phi thường, tạo ra phương cách mà có thể đánh thức bạn chỉ là trò chơi vui đùa, vì mơ của bạn là gì? - chỉ là tưởng tượng. Ngủ của bạn là gì...? Chỉ chút ít nước lạnh vã vào mặt bạn và giấc ngủ sẽ biến mất. Thầy chỉ phải nhận biết về ai được chuẩn bị để nhận món quà, phương cách, một cách biết ơn.

Nhưng về tương đối nó là đúng; không ai có thể đi vào trong mơ của bạn, vào trong khổ của bạn. Bạn phải tự mình đánh thức bạn dậy. Đánh thức bản thân bạn dậy là nhiệm vụ rất khó khăn. Người chứng ngộ không thể đánh thức bạn được, và Bạt Đội đang hi vọng rằng người ngủ sẽ tự đánh thức bản thân mình dậy - chẳng có mấy cơ may đâu! Người ngủ sẽ đi vào mơ khác và mơ khác... Ngay cả việc thức của người đó sẽ là mơ. Cũng như việc ngủ của người đã thức tỉnh là việc thức, việc thức của người ngủ đầy mơ.

Cứ nhắm mắt lại và bạn sẽ thấy mơ đang bồng bềnh. Bạn được tham gia ở bên ngoài cho nên chúng đợi một bên đến khi bạn được kết thúc với công việc của bạn. Nhưng bạn hết mơ ngày tới mơ đêm... một cách liên tục. Bạn có thể đổi tên; bạn có thể gọi nó là tưởng tượng, mơ tưởng, mơ mộng, nhưng đây là  những cái tên cho cùng một chất liệu mà không có đó, nhưng bạn phóng chiếu ra nó.

Bạt Đội nói:

Nếu đứa con có thể tự nó thức dậy, nó có thể được tự do khỏi đau khổ này một cách tự động.

Hiển nhiên, nhưng vấn đề là làm sao đứa con có thể tự nó thức tỉnh. Ngay chỗ đầu tiên, trong mơ của nó không có mơ về thức tỉnh. Nó chưa bao giờ thấy người thức tỉnh. Nó thậm chí không thể mơ về Phật, nó thậm chí không thể mơ về trạng thái không mơ - làm sao nó sẽ thức tỉnh bản thân nó? Điều đó chỉ có thể là ngẫu nhiên, không tự động.

Tôi ghi chép ngay cả  những từ đơn giản mà người ta có thể bỏ qua. Bạt Đội đang nói, Nếu đứa con có thể tự nó thức dậy, nó có thể được tự do khỏi đau khổ này một cách tự động.

Tôi có phản đối của tôi. Thứ nhất, bất kì cái gì bạn được tự do một cách tự động, bạn có thể bị trói buộc lần nữa một cách tự động, vì nó không bao giờ ở trong tay bạn. Sự nô lệ của bạn là từ tay bạn; tự do của bạn cũng là từ tay bạn. Và `một cách tự động' không phải là từ đúng để dùng trong thế giới của tâm thức. Trong thế giới của tâm thức mọi sự có thể xảy ra một cách tự phát, nhưng không tự động. Có lẽ Bạt Đội không thật sành sỏi. Ông ấy là người biết, nhưng ông ấy không là người có thể diễn đạt cái không thể diễn đạt được. Ông ấy đang cố hết sức.

Tôi nói đứa trẻ có thể thức tỉnh một cách ngẫu nhiên, chẳng hạn, nếu chuột chạy trên đứa trẻ. Và nếu, chẳng hạn, đứa trẻ là Anando, bạn có thể  nghĩ cái gì sẽ xảy ra? - sự bùng nổ trong nhà Lão Tử! Chuột không quan tâm tới chứng ngộ của bạn, nhưng bạn sẽ trở nên được chứng ngộ... ít nhất cho khoảnh khắc đó. Và thế rồi bạn có thể đi ngủ lại.

Bất kì cái gì từ bên ngoài cũng có thể quấy rối tâm trí bạn, và mơ của bạn không là gì ngoài tâm trí của bạn. Cho nên điều không thể được nói là đứa trẻ có thể được tự do khỏi khổ của nó một cách tự động. Thỉnh thoảng chuyện đã xảy ra là đứa trẻ đã đi tới kết thúc việc mơ và chán với việc mơ. Đứa trẻ chỉ là biểu tượng cho nhân loại ngủ. Mọi người vào khoảnh khắc  nào đó sẽ phát chán với điều người đó đang làm. Và nó đã từng làm điều đó bao lâu rồi?

Ngay cả trong ngủ... và mọi người là trong ngủ với mắt mở. Ngủ không biểu hiện giấc ngủ bình thường của bạn, nó biểu hiện giấc ngủ tâm linh của bạn. Bạn không nhận biết về bản thân bạn, đó là nghĩa của ngủ. Nhưng được bao lâu? Điều đó tuỳ vào thông minh của bạn. Nếu bạn không có thông minh chút nào thế thì bạn không bao giờ cảm thấy chán. Chán là cách đo. Cứ quan sát con trâu mà xem; bạn không thể thấy trên toàn trái đất một con trâu nào chán, hay ngay cả đã nghĩ về điều đó - chán sao? Điều đó đã không đi vào trong tâm thức của trâu.

 Trong nhân loại, những người với thông minh rất cao nhất - như Jean-Paul Sartre, hay Jaspers, hay Martin Heidegger, hay Soren Kierkegaard - đột nhiên nảy ra  ý tưởng mới mà nhân loại chưa bao giờ nghĩ tới. Đó đã là ý tưởng về chán. Vấn đề thực của con người là chán và con người liên tục né tránh nó. Con người liên tục hi vọng một ngày tốt lành sẽ tới, rằng đêm sẽ qua đi, rằng sớm hay muộn sẽ có mặt trời mọc. Nhưng khi có liên quan tới chán, nó đã từng tích tụ lại từ vĩnh hằng.

Nhưng chỉ vài người rất thông minh - những người có thể được đếm trên mười ngón tay, từ khắp thế giới - đã chạm tới cảm giác về chán. Và đặc biệt những người đã tạo ra triết học về chủ nghĩa hiện sinh đã đặt nó dựa trên vấn đề về chán: con người là chán tới mức ngoại trừ tự tử dường như không có lối thoát.

Trong Anh em nhà Karamazov của Dostoevsky, có lẽ tác phẩm quan trọng nhất đã từng được viết ra, một trong những người anh - nó là lịch sử của ba anh em nhà Karamazov - là người vô thần và em khác là người hữu thần rất thành tâm. Anh người vô thần nói với anh ta, "Nghe đây, nếu tình cờ em chứng minh là đúng và em gặp Thượng đế... anh không tin rằng điều này sẽ xảy ra, vì không có Thượng đế trong quan niệm của anh, nhưng em khăng khăng rằng có Thượng đế, vậy làm ít nhất một phục vụ cho anh của em. Cứ bảo với Thượng đế của em, `Anh tôi muốn thoát ra khỏi sự tồn tại này. Ngài đã làm anh ấy đủ chán rồi.'"

Tự tử dường như là lối ra duy nhất - không phải rất bạo dạn, không phải rất dũng cảm, nhưng nó có vẻ như một lối thoát. Trong giới hiện sinh điều này đã từng là vấn đề liên tục, rằng nếu chúng ta cảm thấy rằng tự tử là điều duy nhất thế thì chúng ta nên tự tử. Và câu trả lời bao giờ cũng là, "Ai biết? Sau khi tự tử mọi sự có thể thậm chí tồi hơn. Chúng ta không có bất kì cách nào để so sánh, chúng ta không có bất kì phương án nào, chúng ta không thể quay lại. Nếu chúng ta tự tử và thế rồi chúng ta nghĩ, `Trời, mình đã làm gì thế này? Đây là địa ngục lớn hơn nhiều điều mình đã đi vào.' Bây giờ không đường lui... Cho nên chúng ta không thể sống một cách an bình, và chúng ta không thể chết một cách an bình." Điều đó không phải là cái gì đó mới. Ở phương Tây nó là mới, nhưng ở phương Đông, xa về sau như chúng ta có thể thấy, vấn đề này đã từng được hỏi nhưng đã lấy lối rẽ khác toàn bộ. Ở phương Tây họ nghĩ, "Làm sao thoát ra khỏi nỗi phiền não chán này mà chúng ta đã được bảo là sự sống?" Ở phương Đông chúng ta cũng đã nghĩ về sự sống - nhưng không đi ra khỏi nó, đi ra ngoài nó.

Đó là khác biệt giữa chủ nghĩa hiện sinh phương Tây và chủ nghĩa hiện sinh phương Đông. Ở phương  Đông không bao giờ tồn tại một trường phái đặc thù vì mọi người tìm kiếm đều đi tìm cõi bên kia. Duy nhất nhiều sự sống hơn có thể xua tan cái chán - sự sống rạng ngời hơn, sự sống rung động hơn, sự sống vĩnh hằng hơn.

Chủ nghĩa hiện sinh phương Tây dường như là theo tư tưởng chủ bại, thất bại: sự sống này không xứng đáng, cách duy nhất là nhảy vào trong hồ. Nhưng bạn phải nhận biết rằng toàn thể phương Đông,  trong lịch sử lâu dài của nó - mà lâu dài hơn lịch sử phương Tây - không bao giờ nghĩ về tự tử như một giải pháp, vì sự sống tiếp tục. Bằng tự tử bạn đơn giản bỏ lỡ cơ hội lớn để siêu việt. Mọi thầy ở phương Đông đã từng chống lại tự tử vì nếu bạn sẵn sàng thế để tự tử, thế thì sao không thử nhảy ra ngoài sự sống? Bạn chẳng có gì để mất; nhiều nhất nó có thể là tự tử.

Thiền là cú nhảy ra ngoài sự sống. Nó không phải là thoát ra khỏi sự sống, nó là đi tới chính trung tâm của sự sống. Những người đã đi vào chính trung tâm của sự sống đã chứng tỏ duyên dáng, đẹp đẽ, hiện diện tới mức họ thậm chí đã trở thành nguồn hứng khởi vô cùng cho hàng triệu người.

 Chính sự hiện diện của họ đã làm biến đổi mọi người. Vấn đề không phải là thời gian mà là hiểu biết.

Mọi người có thể được tự do khỏi ác mộng, khỏi đau khổ, khỏi khổ sở, nhưng tất nhiên không trực tiếp. Vấn đề là ở chỗ bạn không thể được tự do khỏi khổ một cách trực tiếp vì bạn đang bám lấy nó. Không phải khổ là vấn đề, chính bạn người đang bám vào mới là vấn đề. Bạn không muốn bỏ nó. Bạn khoe khoang về nó, bạn nói về nó. Bạn thậm chí nói về cách thoát ra khỏi khổ này. Nhưng người có mắt có thể thấy rằng bạn đang bám lấy khổ chắc nhất có thể.

Chỉ sự hiện diện của thầy có thể giúp bạn thấy liệu khổ đang bám lấy bạn, hay bạn đang bám lấy khổ. Đó là điểm rất quyết định. Một khi bạn thấy rằng bạn đang bám lấy khổ, bạn được tự do. Chỉ nhìn thấy nó, chính việc hiểu, là tự do.

Nhìn sâu vào trong tâm trí bạn, bạn sẽ thấy bạn đang bám thế nào. Ai đó xúc phạm bạn mười năm trước và bạn vẫn nhớ điều đó dường như nó là cái gì đó quí giá. Thực ra chính vấn đề của người đó là người đó đã la hét và đã giận, nó đã không phải vấn đề của bạn. Nếu bạn đã đơn giản vẫn còn là người quan sát, chắc đã không có vết xước nào trong tâm trí bạn trong mười năm này... và bất kì khi nào bạn thấy người này, vết xước trở nên sâu hơn...

Mọi điều được cần là đi qua sự sống như tấm gương phản xạ, không như  bộ phim máy ảnh. Phim máy ảnh bắt giữ bất kì cái gì được phản xạ lên nó - đó là chức năng của nó. Gương cũng phản xạ nhưng nó không bao giờ bắt giữ cái phản xạ. Mọi thứ liên tục đi qua - máy ảnh liên tục trút đầy với những  ảnh mới, các phản xạ, nhưng gương vẫn còn trống rỗng.

Vẫn còn trống rỗng trong thế giới này không ôm giữ bất kì cái gì, và bạn đã đi vào trong trường năng lượng mới mà là của riêng bạn. Bạn chỉ quên nó đi vì bạn đã quá bận bịu với những điều không bản chất không cần thiết.

Theo cùng cách, người nhận ra rằng tâm trí riêng của mình là Phật, tự giải phóng mình ngay lập tức khỏi đau khổ nảy sinh từ dốt nát về luật của thay đổi không ngừng bên trong sáu cõi giới. Nếu vị phật có thể ngăn cản được điều đó, ông có nghĩ ông ấy sẽ cho phép ngay cả một sinh linh hữu tình rơi xuống địa ngục không?

Ông ấy đang làm những phát biểu theo cách hiểu thông thường. Nó là đúng, nếu Phật có thể ngăn cản được điều đó thế thì không một người nào sẽ rơi vào ngọn lửa địa ngục. Nhưng điều đó không ngụ ý rằng Phật không làm mọi nỗ lực. Vấn đề là ở chỗ bạn cũng được tham gia trong nó; Phật không thể quấy rối tự do của bạn. Nếu bạn muốn xuống địa ngục ông ấy sẽ  đơn giản chỉ cho bạn con đường. Từ từ bi ông ấy sẽ làm rõ ràng cho bạn địa ngục là gì: "Ông có biết...?" Nhưng nếu bạn nhất quyết đi xuống địa ngục - đó là một kinh nghiệm...!

Phật - bất kì người nào được thức tỉnh - không có bất kì nỗ lực nào tạo ra trường năng lượng. Nói rằng ông ấy tạo ra nó là không đúng, ông ấy tìm ra trường năng lượng bao quanh bản thân ông ấy. Bất kì người nào bị chạm bởi trường năng lượng đó sẽ không còn là cùng người đó nữa. Người đó sẽ bắt đầu thay đổi và biến đổi theo cách huyền diệu. Đôi khi ngay cả mặc cho bản thân mình, người đó sẽ làm những điều mà chỉ Phật có thể làm. Những thói quen cũ của người đó, dốt nát của người đó, vô ý thức của người đó, mọi thứ sẽ chống lại điều đó, nhưng tình cảm của vị Phật, sự hiện diện của ông ấy... Nó có thể là kinh nghiệm rất mong manh, ngọn lửa rất nhỏ, nhưng nó là đủ để xua tan bóng tối của hàng triệu năm.

Đừng nghĩ rằng nó là nhỏ. Chỉ việc thiền một tối, nếu bạn thực sự chạm tới trung tâm bên trong, là mạnh hơn so với mọi dốt nát của bạn mà bạn đã sống trong nhiều thế kỉ, là mạnh hơn mọi thói quen của bạn, là mạnh hơn mọi nhân cách của bạn. Chỉ một ngọn lửa, và dần dần nó trở thành lửa lớn trong đó mọi cái là giả bị thiêu cháy, và chỉ vàng ròng còn lại đằng sau.

Không có việc tự nhận ra người ta không thể hiểu được những điều như vậy như những điều này...

Trong mơ, ông có thể lạc lối và mất đường về nhà. Ông hỏi ai đó chỉ cho ông cách quay về hay ông cầu nguyện Thượng đế hay chư phật giúp ông, nhưng dầu vậy ông không thể về được nhà.

Trong mơ, bất kì cái gì bạn làm đều là một phần của mơ. Nó là cõi rất huyền bí. Bạn có thể có trong mơ giấc mơ khác. Chẳng hạn, trong mơ bạn nghĩ về bạn gái của bạn. Bạn đi tới nhà bạn gái và bạn thấy rằng cô ấy đã đi xem phim, và bạn đi xem phim. Và bạn ngạc nhiên rằng bạn và bạn gái của bạn cả hai đang đóng một phần trong bộ phim Mơ có thể rất phức tạp.

Bạn có thể mơ rằng bạn đã về nhà và đi ngủ, và rằng bạn đang mơ. Mơ bên trong mơ bên trong mơ là có thể nó

chỉ cần một tâm trí rất vô ý thức. Bạn cũng có thể mơ việc gặp Thượng đế hay gặp Phật, nhưng các thượng đế của mơ của bạn và Phật của mơ của bạn chẳng có giá trị chút nào. Chúng vẫn là mơ, tốt hay xấu. Khi bạn thức dậy bạn biết. Bạn có thể đã là một vua lớn hay bạn có thể đã là kẻ ăn xin - không thành vấn đề. Khi bạn thức dậy cả hai đã biến mất.

Trong mơ, ông có thể lạc lối và mất đường về nhà. Ông hỏi ai đó chỉ cho ông cách quay về hay ông cầu nguyện Thượng đế hay chư phật giúp ông, nhưng dầu vậy ông không thể về được nhà.

Tuy nhiên, một khi ông đánh thức bản thân ông khỏi trạng thái mơ…

Ở điểm này ông ấy đã không cho giải thích tại sao bạn phải đánh thức bản thân bạn. Phải có nhân quả nào đó; bằng không việc mơ có thể dịu ngọt thế.

Một người nói với bạn của anh ta, "Đêm qua... Lạy Trời mơ hay làm sao! Tớ đi câu cá và tớ bắt được cá lớn tới mức tớ phải mang chúng về, khó khăn lắm, mỗi lúc mang từng con về nhà tớ. Cả đêm tới câu cá và câu cá, nhưng cá lớn và khổng lồ thế... cậu đáng phải xem chúng. Đó là mơ thế kỉ."

Người kia nói, "Điều này không là gì cả. Đêm qua tớ mơ rằng Sophia Loren và Marilyn Monroe cả hai ngủ trong giường tớ, và tớ ở giữa. Tớ đã nghĩ, Trời, mình là người nghèo và mình không bao giờ nghĩ rằng vận may lớn thế... Marilyn Monroe một bên và Sophia Loren bên kia...!"

Người kia trở nên giận. Anh ta nói, "Cậu nói cậu là bạn tốt nhất của tớ - sao cậu không gọi tớ?"

Anh ta nói, "Đợi đã! Tớ đã gọi cậu đấy. Tới lập tức gọi điện thoại và vợ cậu nó cậu đã đi câu cá."

Mơ của bạn chỉ là phản xạ của thế giới thực của bạn. Bạn không thể thức dậy mà không có phương cách đặc biệt đã được tạo ra cho bạn. Thỉnh thoảng một người đi tới điểm người đó chán với mọi thứ, kể cả việc mơ. Nhưng điều đó xảy ra rất hiếm hoi - trong nhiều thế kỉ, sau khi hàng triệu người đã tới và đi. Cho nên người ta không thể phụ thuộc vào nó. Nó không thể được làm thành nguyên lí, nó ngoại lệ thế. Nó chỉ chứng minh cho qui tắc. Nó không làm mất uy tín cho qui tắc.

Qui tắc vẫn còn như cũ, rằng đó là việc truyền chiếc đèn từ thầy sang đệ tử. Điều đó có thể tiếp tục được truyền trong hàng nghìn năm. Thầy chỉ phải rõ ràng trước khi thầy truyền nó, rằng đệ tử sẽ có khả năng mang nó.

Tôi sẽ kể cho bạn một giai thoại nhỏ từ lịch sử không cạn của những sự vụ Thiền hay...

Một Thiền sư lớn người Trung Quốc đã sẵn sàng rời khỏi thân thể, cho nên ông ấy triệu tập cuộc tụ hội các sư. Thiền viện có hai chái, mỗi chái có năm trăm sư.

Cho nên tất cả là một nghìn sư tụ tập lại và ông ấy bảo họ, "Tuần này lúc nào đó, ta sẽ rời khỏi thân thể. Ta đã không quyết định ngày, vì ta phải chọn người để truyền ngọn lửa. Phương pháp chọn của ta là ở chỗ ngay trước lều của ta, bất kì ai nghĩ rằng mình có năng lực nhận ngọn lửa phải viết ra một câu mô tả điều tinh tuý của Thiền."

Trong một nghìn sư, đã có vài học sĩ lỗi lạc, và mọi người nghĩ rằng một trong bốn người nhất định thắng trò này. "Chúng tôi biết nhiều, nhưng trong mỗi một câu nói điều rất tinh tuý... và thầy không phải là thầy thường, ông không thể lừa được thầy."

Ngay cả các học sĩ cũng không sẵn sàng phơi bầy bản thân họ, vì đó sẽ là việc phơi bầy lớn nếu thầy nói rằng điều ông đã viết không phải là điều đúng. Nhưng một học sĩ người nổi tiếng nhất trong thiền viện và vùng xung quanh, nửa đêm đi để không ai biết rằng ông ấy đã viết. Ông ấy đã viết một bài thơ hay mà bình thường chắc đã được chấp nhận. Ông ấy nói, "Vô trí và khải lộ của Phật là tinh tuý của Thiền."

Bạn không thể nói được bất kì cái gì chống lại nó. Anh chàng đáng thương đã làm hoàn toàn tốt. Nhưng đến sáng khi nhìn thấy nó, thầy đã nói, "Thằng ngốc này là ai? Bắt lấy nó... nó đã không kí tên mình."

Từ sợ, học sĩ này đã không kí tên mình. Ông ta chờ đợi để cho nếu thầy ca ngợi nó ông ta sẽ bước ra, còn nếu thầy không chấp nhận nó trong một nghìn sannyasins thầy chắc sẽ không có khả năng tìm ra ai là người đã viết nó.

Thầy bảo người hầu xoá bức tường. Có thảo luận lớn trong khắp thiền viện, "Điều này là  kì lạ. Câu này rõ ràng chỉ ra chính tinh tuý của Thiền: Vô trí, khám phá của Phật. Đây là điều tinh tuý của Thiền."

Khi nó càng được thảo luận nhiều... nó là cực kì quan trọng cho người muốn là người kế tục. Hai sư đã thảo luận nó khi đi qua một sư đã từng ở đó trong mười hai năm, không làm gì ngoài việc vo gạo cho thiền viện từ sáng sớm khi ông ấy dậy, cho tới muộn trong đêm. Chuẩn bị cơm cho một nghìn sư không phải là việc dễ dàng.

Mười hai năm trước khi ông ấy còn trẻ, ông ấy đã tới thầy và thầy đã nhìn vào mắt ông ấy và đã nói, "Nếu ông thực sự muốn ở đây, chỉ giữ vài thứ rõ ràng. Đừng bao giờ tới ta, cứ đi vào bếp làm. Người thường làm việc vo gạo mới chết, cho nên ông nhận chỗ của ông ấy. Từ sáng tới đêm vo gạo, chuẩn bị cơm. Ông không tham gia vào bất kì bài giảng nào, vào bất kì việc thiền nào, hay nghe bất kì kinh sách nào."

Những điều kiện kì lạ... người ta tới thiền viện để biết chân lí không để chuẩn bị gạo. Nhưng người này đã nói, "Một khi tôi đã  chấp nhận thầy làm thầy tôi, bất kì cái gì thầy nói đều là con đường của tôi. Thầy sẽ không bao giờ thấy mặt tôi nữa, chừng nào thầy chưa tới tôi."

Và mười hai năm là thời gian dài. Toàn thể thiền viện đã gần như trở nên vô nhận biết về sư đáng thương này, vì ai chú ý tới người có toàn thể công việc chỉ là chuẩn bị gạo hết ngày nọ tới ngày kia, hết năm nọ tới năm kia? Ông ấy không là học giả, ông ấy không thảo luận bất kì cái gì với bất kì người nào, ông ấy không nói chuyện với bất kì người nào, ông ấy không có bạn bè. Ông ấy đã được chấp nhận gần như cái máy tự động. Không ai để ý gì tới ông ấy.

Nhưng sáng hôm đó thầy đã tới người này, nhìn vào mắt ông ấy lần nữa và nói, "Ông có thể cải tiến điều này không? `Vô trí, khám phá ra Phật. Đây là chính tinh tuý của Thiền?'"

Ông ấy cười và ông ấy nói, "Kẻ ngốc nào đó đã làm nó. Tôi đã nghe... chỉ mọi người đi qua đây đó thảo luận về nó..."

"Ý tưởng của ông là gì?" thầy hỏi.

Người này nói, "Vô trí, vô Phật, hư không thuần khiết. Cần gì nói điều này là tinh tuý của Thiền? Nó hiện hữu. Nhưng vô trí, vô Phật..."

Thầy đã chấp nhận ông ấy làm người kế tục, đưa cho ông ấy cà sa của thầy, thiền trượng của thầy - đó là truyền thống trong Thiền - và bảo ông ấy, "Trốn khỏi thiền viện xa nhất có thể được, vì ta đã tạo ra một nghìn kẻ thù cho ông. Họ muốn giết ông vì họ nghĩ, `Sư gạo kia... kẻ ngốc kia người không bao giờ thốt ra một lời...'"

Thế là  ông ấy nhận cà sa và thiền trượng, nhưng ông ấy nói với thầy, "Vì thầy bảo tôi, tôi làm điều đó; bằng không tôi không quan tâm tới việc là người kế tục. Mười hai năm này đã là im lặng thế. Thầy có thể nghĩ gì từ sáng tới tối, không nói với bất kì người nào, không một lời? Chỉ vo gạo, chuẩn bị gạo, mọi thứ đã biến mất. Và tôi nói với thầy rằng khi tâm trí tôi biến mất hoàn toàn, chính ý tưởng rằng

`ta là Phật' cũng biến mất vì đó là một phần của tâm trí, phần cuối cùng... chỉ hư không...

"Tôi không quan tâm, nhưng nếu thầy nói, tôi sẽ nhận cà sa và thiền trượng. Nhưng tôi muốn thầy biết rằng nếu bất kì người nào đòi tôi đưa cho họ cà sa và thiền trượng, tôi sẽ không chống lại, tôi  sẽ đơn giản đưa nó. Ai quan tâm? Tôi đã về tới nhà. Bây giờ không thành vấn đề liệu tôi là người lãnh đạo của thiền viện lớn với hàng nghìn sư và danh tiếng lớn và sự kính trọng. Điều đó không thành vấn đề. Tôi được hoàn thành cho bản thân tôi chỉ bằng việc vo gạo. Để tôi một mình đi."

Nhưng thầy khăng khăng, "Ông phải nhận chúng, vì không có người nào khác mà ta có thể truyền đèn."

Toàn thể thiền viện cười vào điều đó, nhưng họ phải chấp nhận "sư gạo" - vì ông ấy đã trở nên nổi tiếng. Họ chưa bao giờ nhìn vào ông ấy, họ chưa bao giờ bận tâm về ông ấy. Lần đầu tiên họ thấy rằng sự hiện diện của ông ấy là lớn hơn nhiều sự hiện diện của thầy, im lặng của ông ấy là sâu hơn nhiều so với im lặng của thầy, gần như sờ mó được. Bạn có thể chạm vào im lặng của ông ấy. Bạn có thể cảm thấy xung quanh ông ấy một loại năng lượng khác, trống rỗng khác. Bạn có thể nhìn vào mắt ông ấy. Không người nào khác đã thử lấy cà sa và thiền trượng, cho dù ông ấy sẵn lòng đưa.

Sư gạo tập hợp các sư lại và bảo họ, "Ta đã được chọn làm người kế tục. Đây là cà sa và thiền trượng. Nếu bất kì người nào quan tâm, người đó có thể lấy chúng, nhưng chính sự quan tâm sẽ chỉ ra rằng người đó không là người đúng. Chính động cơ, ham muốn quyền lực sẽ chỉ ra rằng người đó không phải là người đúng. Nhưng dầu vậy ta sẽ đưa chúng cho người đó vì ta không muốn bận tâm với mọi loại đồ vật về thiền viện. Ta hoàn toàn hạnh phúc - ta sẽ quay lại bếp."

Nhưng các sư nhận ra rằng họ đã sai về anh chàng nghèo này: "Ông ấy không nghèo. Ông ấy là sư giầu nhất, mặc dầu ông ấy không biết gì về kinh sách. Nhưng vì ông ấy cũng đã bỏ Phật với vô trí, ông ấy chứng tỏ sáng suốt của ông ấy."

Khoảnh khắc bạn bỏ tâm trí, mọi thứ bị bỏ. Bạn biến mất như gợn sóng trên hồ, không để lại dấu vết đằng sau.

Tuy nhiên, một khi ông đánh thức bản thân ông khỏi trạng thái mơ, ông thấy rằng ông đang trong giường của mình và nhận ra rằng cách duy nhất ông có thể về nhà là thức tỉnh bản thân ông.

Ví dụ này là đúng, nhưng rất hiếm khi xảy ra. Khi bạn thức dậy, phần lớn các bạn thấy bản thân bạn trong giường của ai đó khác. Để là thực, rất hiếm khi bạn thấy bạn ở trong giường riêng của bạn! Phần lớn mọi người dậy và đi về nhà.

Ai ở nhà? Nếu bạn mà ở nhà thế thì ngay cả khả năng mơ cũng sẽ không tồn tại. Bạn đã từng du hành lâu, hết kiếp nọ tới kiếp kia. Cho dù bạn xoay xở bằng cách nào đó ngẫu nhiên đi qua nhà bạn, bạn sẽ không nhận ra nó. Bạn đã ở xa khỏi nó lâu tới mức ngay cả trí nhớ, việc nhớ phải bị đánh vào đầu bạn rằng đây là nhà bạn! Bạn đang tìm cái gì... bạn đang đi đâu...?

Thầy là  gần như tuyệt đối cần thiết. Bạn đã không đi rất xa khỏi nhà. Bạn có thể đã đi xa đến đâu, nó không rất xa. Bạn chỉ cần lực từ kéo bạn lại.

 Thầy chỉ là lực từ. Thầy không nói gì, nhưng không nói, từ lực vẫn kéo. Thầy mô tả nhà để cho bạn có thể nhận ra nó khi bạn đã tới gần nó. Thầy mô tả các kinh nghiệm sẽ xảy ra trên đường về nhà, phúc lạc, an bình, im lặng, cực lạc, hoàn toàn thảnh thơi. Thầy mô tả mọi thứ chỉ để nhắc nhở bạn rằng khi bạn tới gần nhà hơn những điều này sẽ bắt đầu xảy ra. Chúng sẽ giúp bạn tìm ra nhà.

Không có thầy, không có ai đó người đã  đạt tới nhà của mình và biết loại kinh nghiệm nào xảy ra trên con đường, gần như không thể đánh thức  bạn theo cách riêng của bạn.

Loại thức tỉnh tâm linh này được gọi là "trở về cội nguồn" hay "tái sinh trong thiên đường." Nó là loại nhận ra bên trong mà có thể được đạt tới bằng huấn luyện nào đó. Thực sự tất cả những người thích toạ thiền và làm nỗ lực trong thực hành, dù họ là người thế tục hay sư, có thể trải nghiệm tới mức độ này. Nhưng ngay cả việc thức tỉnh một phần như vậy cũng không thể được đạt tới ngoại trừ việc thực hành toạ thiền. Tuy nhiên, ông sẽ phạm sai sót nghiêm trọng nếu ông giả định rằng đây là chứng ngộ thực trong đó không có hoài nghi gì về bản chất của thực tại. Ông sẽ như một người đã tìm thấy đồng, từ bỏ việc tìm vàng.

Bạt Đội dường như là một người đã thức tỉnh nhưng không đủ tài nói để truyền đạt điều ông ấy đã trải nghiệm bên trong. Đã từng có ba loại thầy. Loại thứ nhất không bao giờ nói, vẫn biết hoàn toàn rõ rằng ông ấy không đủ tài nói để dùng từ cho kinh nghiệm vô lời. Tốt hơn cả là im lặng thay vì nói bất kì cái gì mà không chỉ đúng tới trăng. Ông ấy biết việc không có năng lực của mình; ông ấy vẫn còn im lặng. Ông ấy được gọi là a la hán. Ông ấy đã chinh phục được kẻ thù. A la hán nghĩa là người đã chinh phục kẻ thù, dốt nát, vô ý thức, nhưng là người không có khả năng truyền đèn cho bất kì người nào khác.

Phân loại thứ hai là về bồ tát, người đủ tài nói để điều khiển các lời theo cách mà chúng bắt đầu chỉ tới cái gì đó bên ngoài lời, người có năng lực về những phương cách tuỳ tiện để cho bạn có thể trở nên thức tỉnh.

Loại thứ ba chưa được công nhận trong kinh sách cổ ở bất kì chỗ nào, nhưng tôi muốn bạn biết rằng Bạt Đội thuộc về phân loại thứ ba. Điều đáng là tốt hơn cho ông ấy là im lặng và là a la hán. Thay vì là im lặng ông ấy đang cố là bồ tát. Đó là lí do tại sao ông ấy phạm phải nhiều sai sót thế. Mặc dầu ông ấy biết, ông ấy không có khả năng diễn đạt nó, hay thậm chí chỉ ra nó theo cách đúng và thích hợp.

Phân loại này đã không được công nhận, nhưng chắc chắn đã có nhiều người, và tôi sẽ nói cho bạn ai là những người thuộc vào phân loại này. Điều có lẽ là tốt hơn cho họ là vẫn còn im lặng như a la hán, nhưng có lẽ do từ bi họ đã cố hết sức. Ý định không thành vấn đề; cách diễn đạt của họ là ấu trĩ. Họ không thể là bồ tát. Mọi lời của họ đều được vay mượn, mặc dầu họ có kinh nghiệm riêng của họ. Cho nên tôi sẽ không gọi họ là thầy giáo.

Điều kì lạ là phân loại này đã không được công nhận một cách tách rời. Có lẽ rất hiếm người đã thử cách thức mà Bạt Đội đang thử - với mọi ý định tốt, với từ bi - nhưng ông ấy không có năng lực. Bạn có thể có ý định tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn có thể chơi ghi ta. Bạn có thể có mọi ý định tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn có thể múa. Điều đó cần phẩm chất khác toàn bộ, thiên tài nào đó, điều bị thiếu.

 Bất kì cái gì ông ấy đang nói đều ít nhiều đúng, nhưng không rất sắc bén... như kiếm chém đi mọi cái là giả trong một nhát. Ông ấy là loại bồ tát rất nhạt nhoà, bồ tát nhạt.

Chúng ta hãy gọi phân loại mới này là bồ tát nhạt.

Ryokan đã viết:

Không chút tham vọng còn lại ta để bản tính của ta tuôn chảy tới nơi nó muốn đi.

Có gạo cho mười ngày trong túi ta,

và trước lòng lò sưởi, một đống củi.

Ai buôn chuyện về ảo vọng hay niết bàn?

Quên bụi tương đương của tên tuổi và may mắn,

nghe mưa đêm

trên mái lều của ta, ta ngồi thoải mái, hai chân duỗi ra.

Bây giờ, đây là một người tựa chiếc kiếm sắc đang nói mọi thứ một cách rõ ràng...

"Không chút tham vọng còn lại ta để bản tính của ta tuôn chảy tới nơi nó muốn đi" - không định hướng, không định mệnh. Ta để cho bản tính của ta tự do toàn bộ.

"Có gạo cho mười ngày trong túi ta" - đủ rồi. Ai sống với sự chắc chắn hơn mười ngày? Đủ rồi. Tự nhiên đã chăm lo mãi cho tới giờ, nó sẽ chăm lo sau mười ngày. Cho nên ta không thu thập, thế là đủ.

"Và trước lòng lò sưởi, một đống củi" - giầu làm sao! Mãn nguyện làm sao trong cái nghèo hoàn toàn! Ngay cả vua sẽ ghen tị với người này.

"Ai buôn chuyện về ảo vọng hay niết bàn?" - và ai bận tâm liệu ta được thức tỉnh hay không thức tỉnh, liệu ta đang trong ảo vọng, trong mơ, hay trong niết bàn...? Trong thức tỉnh, "ai buôn chuyện?"

"Quên bụi tương đương của tên tuổi và may mắn" - mọi thứ là bụi của tên tuổi và may mắn.

"Lắng nghe mưa đêm trên mái lều ta... cả  hai chân duỗi ra." Thảnh thơi, lắng nghe điệu vũ của mưa trên mái - đây là cách đúng của diễn đạt cái không thể diễn đạt nổi. Ông ấy đang diễn đạt thảnh thơi hoàn toàn, không quan tâm ngay cả về niết bàn, im lặng thế...

Ông ấy đang nói, "Ta ngồi thoải mái, cả hai chân duỗi ra" dường như thời gian đã dừng lại, không cái gì thành vấn đề. Đây là không gian mà bạn có thể nói bạn đã về tới nhà.

Đạo Nguyên viết:

Thế giới?

Ánh trăng rơi

bị rung từ mỏ sếu.

Chỉ người quan sát, ngồi im lặng, quan sát thế giới...

"Ánh trăng rơi bị rung từ mỏ sếu" - không cái gì để làm, không đâu để đi, chỉ im lặng... quan sát toàn thể vở kịch.

 Anando đã hỏi:

Thưa thầy kính yêu của chúng tôi,

Là nguyên bản là gì? Người đã thức tỉnh, người của thiền, có là người nguyên bản thực sự duy nhất không?

Anando, là nguyên bản đơn giản có nghĩa là hệt như bạn được sinh ra - tươi tắn, không bị tắc nghẽn bởi bất kì rác nào, thượng đế học, tôn giáo, chính trị, xã giao, cách xử sự. Khi bạn lớn lên, quanh bạn nhiều rác tăng lên. Xã hội giúp nó tăng lên; toàn thể hệ thống giáo dục tồn tại để hỗ trợ cho nó. Đến lúc bạn vẫn còn trẻ, bạn đã đánh mất nhà nguyên thuỷ của bạn. Bạn biết nhiều thế, nhưng thực ra bạn không biết bất kì cái gì. Bạn giả vờ nhiều thế, bạn thậm chí tin vào việc giả vờ của bạn, nhưng điều đó không làm cho chúng thành thực. Toàn thể xã hội mãi cho tới giờ đã từng tạo ra những người đạo đức giả.

Người nguyên bản chính là đối lập cực của người đạo đức giả. Người đó đơn giản là tự nhiên, không thể dự đoán được. Người đạo đức giả là dự đoán được. Bạn biết người đó sẽ làm gì - phản ứng của người đó, đáp ứng của người đó. Bạn biết tương lai của người đó, vì người đó là thực thể giả không phải là thực vật sống. Bạn không thể dự đoán được cành sẽ mọc theo hướng nào, hoa sẽ tới trên cành nào. Mọi thứ là không dự đoán được, nhưng với thực vật nhựa mọi thứ là được biết và dự đoán được. Xã hội muốn bạn là dự đoán được, vì toàn thể kinh doanh của nó phụ thuộc vào tính dự đoán được.

Ngày tôi vào Mĩ, câu hỏi đầu tiên bộ phận nhập cư đã hỏi tôi là: "Ông có là người vô chính phủ không?" Tôi đã được bảo trước rằng những người vô chính phủ không được phép vào Mĩ.

Tôi bảo người này, "Tôi là cái gì đó hơn nữa."

Ông ta nói, "Trời, với cái gì đó nhiều hơn thì không có qui chế." Ông ta có cuốn sách để mở: người cộng sản, người vô chính phủ là không được phép… nhưng cái gì đó hơn nữa...?

Ông ta nhìn tôi và ông ta nói, "Ông có vẻ như cái gì đó hơn nữa, nhưng ông sẽ bị rắc rối và ông sẽ tạo rắc rối cho chúng tôi."

Tôi nói, "Tôi là người im lặng. Tôi thậm chí không rời khỏi phòng của tôi."

Ông ta nói, "Điều đó là nguy hiểm, nhưng bởi vì trong các qui tắc không có điều khoản nào cấm cái gì đó hơn người vô chính phủ, tôi phải cho phép ông."

Và từ chính khoảnh khắc đó cuộc vật lộn đã bắt đầu mà kéo dài trong năm năm.

Người nguyên bản đơn giản là người tự nhiên không được nuôi dưỡng bởi xã hội. Người đó đã giữ bản thân mình tách rời và là cá nhân. Người đó đã không cho phép bất kì người nào ước định người đó.

Bố tôi thường đi tới đền để nghe các sư và thầy tu người Jaina, và ông ấy hay hỏi tôi, "Con ngồi đây một cách vô ích, sao con không đi với bố?"

Tôi nói, "Bố đi tìm cái gì đó mà con đã tìm thấy rồi." Ông ấy nói, "Rất khó nói chuyện với con."

Tôi nó, "Nó là vậy."

 Ông ấy đã cố gắng thuyết phục tôi nhiều lần: "Một sư rất uyên bác nói hôm nay trong đền."

Tôi nói, "Chẳng thành vấn đề ai nói trong đền, trong đền của con có im lặng tuyệt đối. Việc học toàn là rác rưởi."

Nhưng ông tôi là loại người khác. Khi bố tôi đã đi tới đền, ông ấy sẽ nói, "Giờ lại đây. Chúng ta chơi chút trò vui đi."

Ông già rồi những rất giống trẻ con. Ông sẽ khích tôi, "Chúng ta quấy rối cuộc họp đi. Vào tuổi ông điều đó có vẻ không đúng, nhưng ông sẽ là người bảo vệ cháu."

Và ông đã là một trong những người già nhất trong cộng đồng. Cho nên ông nói, "Cháu đừng lo nghĩ, cháu cứ tạo ra hỗn độn nhiều nhất có thể được. Ông sẽ không hỗ trợ cháu trực tiếp đâu, nhưng ông sẽ ở đó để xem không việc hại nào được làm cho cháu."

Tôi nói, "Điều đó thì được."

Thế rồi bố tôi sẽ thấy rằng tôi đã tới cùng ông tôi, và thế thì ông ấy trở nên sợ rằng bây giờ...

Và những câu hỏi nhỏ sẽ tạo ra rắc rối. Những sư uyên bác kia... Tôi sẽ đứng dậy ở giữa mọi người, và mọi người bắt đầu kêu lên, "Không được đứng ở giữa!"

Và ông tôi sẽ nói, "Nó sẽ đứng đấy. Không ai có thể bắt con tôi không được hỏi câu hỏi có liên quan."

Và tôi thường hỏi mọi loại câu hỏi mà những anh chàng đáng thương kia không có khả năng trả lời... chỉ những thứ nhỏ bé. Trong Jaina giáo đàn bà không thể đi vào tự do tối thượng, và nếu người này mà nói về điều đó tôi sẽ hỏi ông ta, "Làm sao ông biết? Ông có là đàn bà không?"

Ông ta nhìn đây đó… tìm hỗ trợ nào đó...?

 "Trên nền tảng nào ông nói rằng đàn bà không thể vào cõi trời?"

Mọi điều ông ta có thể nói là, "Điều đó được viết trong kinh sách."

Tôi nói, "Thế thì nó không phải là kinh nghiệm của ông. Ông đã ở cõi trời chưa? Ông có thấy rằng không có đàn bà ở đó không?"

Ông ta nói, "Trời, không ai đã hỏi về điều này, và không quay lại từ cõi trời."

"Thế thì," tôi nói, "ai đã viết kinh sách đó? Người nào đó đã không đến cõi trời lại viết ra rằng đàn bà không thể vào cõi trời, và ông đang lặp lại điều đó như con vẹt...?"

Uyên bác của anh chàng đáng thương bị kết thúc, và ông tôi sẽ giữ tôi và nói, "Con, chúng ta đi."

Trở về nhà bố tôi nói, "Bố đã yêu cầu con đi nhưng vào lúc đó con đã nói triết lí lớn. Tại sao con đi cùng với ông con?"

Tôi nói, "Con không bao giờ từ chối ông, ông già thế. Và con muốn ông đi cùng con; bằng không bố chắc đã ngăn cản con. Trong sự hiện diện của ông, bố không thể ngăn cản con. Con không tin cậy rằng bố sẽ đi ngược lại với cái gọi là cách xử sự của xã hội của bố. Con tin cậy ông. Thực ra ông là người cách mạng."

Ông thường mang tôi tới các cuộc họp tôn giáo. Ông già thế và được kính trọng bởi cộng đồng, nhưng thấy tôi đi cùng ông, mọi người trở nên thấp thỏm rằng "cái gì đó sẽ xảy ra đây. Cả hai người này không nên được thấy cùng nhau." Và ông bao giờ cũng sẵn sàng.

Bất kì khi nào tôi thấy rằng cái gì đang xảy ra, ai đó đang nói về Thượng đế, tôi sẽ bảo ông, "Đây không phải là lúc để phí hoài. Ông mệt rồi, nhưng ông phải tới, vì một mình cháu, cháu quá nhỏ và tất cả họ sẽ bắt đầu quát cháu và cố làm cháu im."

Ông nói, "Đừng lo. Chừng nào mà ông còn sống không ai có thể bắt cháu thôi không hỏi câu hỏi. Chủ định cơ bản của những cuộc họp đó là để  tìm ra, để truy hỏi, để truy vấn."

Và với người đang nói về Thượng đế, tôi sẽ hỏi, "Ông đã thấy Thượng đế bằng chính mắt ông chưa?"

Ông ấy sẽ nhìn khắp xung quanh...

Tôi sẽ nói, "Ông đang tìm nhân chứng sao? Đặt tay lên tim, và nhân danh Thượng đế là trung thực: Ông đã thấy Thượng đế chưa?"

Và trong ngôi đền những người tin đáng thương này không thể nói dối! Ông ta sẽ nói, "Không, tôi đã không thấy ngài Tôi tin vào Thượng đế."

Tôi nói, "Niềm tin chẳng ngụ ý cái gì. Người ta có thể tin vào bất kì cái gì. Ông có can đảm nào đó để nói về Thượng đế mà chẳng nhìn thấy ngài. Ông có nghe nói rằng ngài bị ốm không?"

Ông ấy nói, "Tôi chưa bao giờ nghe điều như vậy.

Thượng đế  mà ốm sao?"

Tôi nói, "Sao khôngt? Tôi vừa chuẩn bị cho ông về tin dữ."

 Ông ấy nói, "Cháu ngụ ý cái gì?"

Tôi nói, "Friedrich Nietzsche nói Thượng đế chết rồi.

 Niềm tin của ông có thể bảo vệ được Thượng đế khỏi chết không? Mọi việc cho bài giảng này về Thượng đế, thậm chí không biết ABC về kinh nghiệm Ông đang lừa và dối mọi người."

 Thế rồi mọi người sẽ rơi vào im lặng và ông tôi sẽ nói, "Công việc này được làm xong. Ông ấy sẽ không bao giờ tới thị trấn này nữa."

Và điều thường xảy ra là những người đó không bao giờ tới lần nữa, biết hoàn toàn rõ rằng tôi sẽ có đó.

Khi tôi rời  khỏi thì trấn và vào đại học, tôi thường quay lại vào những ngày nghỉ. Ông tôi sẽ nói,  "Ông nhớ cháu lắm vì những kẻ ngốc già kia, biết rằng cháu không ở đây, đã bắt đầu quay lại. Còn ông quá già rồi không thể tạo ra phá rối được. Cháu đã là sự giúp đỡ lớn lao cho ông vì ông muốn phá huỷ tất cả những niềm tin vô nghĩa này."

Người ta phải hoặc biết, hoặc phải biết rằng người ta không biết.

Người nguyên bản đơn giản là người tự nhiên, người đã sống còn qua ước định của xã hội, những cách cư xử của xã hội; người đã hỏi mọi thứ trước khi chấp nhận bất kì cái gì; người đã truy hỏi vào trong chân lí của bất kì cái gì trước khi chấp nhận nó. Người đó không bao giờ là người đạo đức giả.

Thiền nhân chắc chắn là người nguyên bản. Đó là việc tìm kiếm người nguyên bản, chính bản tính của bạn, nơi bạn không là đàn ông, không là đàn bà, không là người Hindu, không là người Ki tô giáo; nơi bạn đơn giản hiện hữu - tự do được giải phóng, bầu trời không rạn nứt. Cái đẹp của nó và phúc lành của nó là vô hạn.

Bây giờ là lúc dành cho người nguyên bản thực sự...

Sardar Gurudayal Singh nắm được vấn đề! Anh ấy bao giờ cũng nắm được nó trước khi bất kì ai khác nắm được. Anh ấy là bồ tát.

 (Sardar đội khăn xếp, sâu trong việc cười bụng, vì bây giờ là việc xuất hiện ban đêm, đã gửi những gợn sóng cười tới mọi góc thính phòng. Thầy đã quay sang hướng của Sardar và cũng đã tham gia vào tiếng cười.)

Paddy ở trong thị trấn để tham dự bữa tiệc lớn tại quán rượu Wonky Donkey Pub. Đến năm giờ sáng, Paddy đã thấy đủ. Anh ta rời đám tiệc và tìm đường quay về khách sạn của mình. Loạng choạng xung quanh, anh ta trèo lên ba đợt cầu thang trước khi nhớ rằng có thang máy. Kéo mở cửa thang máy ra, Paddy bước vào trong đường thông thang máy để mở và rơi thẳng xuống tầng ngầm.

Run rẩy, anh ta đứng dậy, phủi bản thân mình và chỉnh lại mũ.

"Mẹ kiếp!" Paddy kêu lên, "Mình đã nói lên cơ mà!"

Olga Kowalski thức dậy muộn buổi sáng. Tóc cô ấy đầy cái cuộn tóc, mắt cô ấy sưng húp và mặt cô ấy còn mĩ phẩm dưỡng da từ đêm hôm trước.

Cô ấy lê bước xuống cầu thang tới bếp trong bộ quần áo xuềnh xoàng cũ và một cặp dép mềm đã sờn cũ.

Nhìn lờ mờ từ cửa sổ nhà bếp, Olga thấy rằng xe rác sắp đi trên phố. Cô ấy vớ lấy túi rác, vứt mạnh ra khỏi nhà và phi nhanh tới một trong những người thu rác, vừa thở hổn hển.

"Tôi có quá trễ không?" Olga nói hổn hển.

"Không đâu, thưa bà," người này đáp, "cứ nhảy ngay vào đi!"

 Zabriski gọi cậu con trai nhỏ, Albert, và đưa nó năm đô la. "Albert," anh ta nói, "đi ra cửa hàng và mua một cân rưỡi bơ."

Albert lao ra, tóm lấy con chó gia đình, Bucko, đem nó đi cùng mình. Trên đường tới cửa hàng tạp hoá, Albert đi qua cửa hàng kẹo ưa thích của mình và nảy ra ý tưởng hay hơn về làm gì với tiền.

Nó chạy vào cửa hàng kẹo và mua kẹo. Sau đó, nó lẻn về nhà và giấu sô cô la dưới giường của nó. Thế rồi bé Albert làm ra vẻ mặt buồn và đi vào gặp bố nó. "Cái gì xảy ra vậy?" Zabriski hỏi. "Bơ đâu rồi?"

"Con chó," Bé Albert nói, vừa trỏ vào Bucko. "Đồ chó đẻ đó vồ lấy bơ chạy đi khỏi con và ăn hết rồi!"

Zabriski tóm lấy con chó nhỏ và để nó lên cân. Cân chỉ ra đích xác một cân rưỡi.

Zabriski gãi đầu Polack của mình, quay sang bé Albert và nói, "Này, có bơ rồi, giờ con chó chết tiệt ở đâu nhỉ?"

Bây giờ, Nivedano... (Tiếng trống)

(Nói lắp bắp)

Nivedano... (Tiếng trống)

 Im lặng, cảm thấy thân thể bạn bị đông cứng. Nhắm mắt lại và mọi cánh cửa mở ra ngoài.

Thu sinh lực của bạn vào bên trong; đi sâu nhất có thể được. Ở đó, con người thực của bạn, vị phật đang đợi.

Hân hoan khoảnh khắc này - kinh nghiệm về việc là phật. Mây trên đầu rất hạnh phúc.

Đi mỗi lúc một sâu hơn, để cho kí ức của bạn trở nên được khắc hoạ với thực tại của con người bạn.

Về bản chất mọi người là phật. Vấn để chỉ là nhớ tới điều đó.

Để làm cho cảm nhận này rõ ràng hơn...

Nivedano...

(Tiếng trống)

Thảnh thơi. Bỏ thân thể, bỏ tâm trí, bỏ mọi thứ.   Chỉ vẫn còn là người quan sát.

Việc chứng kiến này là kinh nghiệm tối thượng của sự sống vì nó mở ra những cánh cửa màu nhiệm. Phép màu đầu tiên là, nó làm bạn nhận biết về tính nguyên bản của bạn. Nó lấy đi mọi bụi đã tụ lại trên gương của bạn. Nó chùi sạch mọi ý nghĩ và để lại đằng sau chỉ con người nguyên bản.

Con người nguyên bản là vị phật - chúng là  đồng nghĩa.

 Nhớ tới cái ngã tự nhiên của bạn hai mươi bốn giờ - im lặng chạy như dòng chảy ngầm  trong mọi hoạt động của bạn. Không bao giờ làm mất dấu vết của con người nguyên bản của bạn và bạn đã tìm thấy cái vĩnh hằng, và bạn đã tìm thấy điều thiêng liêng, và bạn đã tìm thấy mọi kho báu của thế giới.

Là tự nhiên, là nguyên bản chính là trong hoà hợp với sự tồn tại. Và dần dần, dần dần ngay cả sự phân tách này cũng biến mất. Bạn không trong hoà hợp, bạn không còn nữa. Chỉ vũ trụ lớn, với mọi cực lạc của nó, với niềm vui của nó, với mọi phúc lành của nó.

Nivedano... (Tiếng trống)

Quay lại, nhưng không quay lại như cái ngã cũ của bạn. Quay lại với tính nguyên bản mới này, với cái mới này, cái tự nhiên...

Ngồi xuống trong vài phút, chỉ hân hoan với sự kiện về phật tính của bạn, con người nguyên bản của bạn.

Được chứ,  Anando? Vâng, thưa Thầy kính yêu.

Chúng ta có thể mở hội mười nghìn chư phật tụ tập được không?

Vâng!

Xem tiếp Chương 2 - Quay về Mục lục

..............................

0 Đánh giá

Ads Belove Post

Powered by RedCircle