Sợ Hãi - Chương 5. Không Đến Không Đi

Sợ Hãi - Chương 5. Không Đến Không Đi

Price:

Read more

Nhất Hạnh Tăng Thân by Vô Ngã

Sách Thiền Sư Thích Nhất Hạnh

Đọc và download hàng trăm quyển sách của Thầy tại đây.


Sợ Hãi

Chương 5. Không Đến Không Đi












Playlist Gia Đình Chánh Niệm



Nỗi sợ lớn nhất của con người là khi chết, ta sẽ trở thành hư vô. Nhiều người tin rằng tất cả sự hiện hữu của chúng ta đều giới hạn trong một thời gian nhất định. Chúng ta tin rằng cuộc đời bắt đầu từ lúc chào đời và chấm dứt khi chết đi. Chúng ta tin rằng cuộc đời bắt đầu từ lúc ta chào đời, tức là từ không trở thành có, và chấm dứt khi chết đi và trở thành không một lần nữa. Do đó chúng ta tràn ngập nỗi sợ về sự hoại diệt.

Nhưng khi nhìn thật sâu, ta có thể có một hiểu biết rất khác biệt về sự hiện hữu. Chúng ta có thể thấy sinh và diệt chỉ là những ý niệm không có thực. Bụt dạy rằng không sinh cũng không có diệt. Niềm tin của chúng ta cho rằng những ý niệm về sinh và diệt là có thật tạo ra một ảo ảnh mạnh mẽ khiến chúng ta vô cùng đau khổ. Một khi hiểu rằng chúng ta không bị hoại diệt thì ta sẽ được giải phóng khỏi nỗi sợ. Thật là nhẹ nhõm. Chúng ta có thể thưởng thức cuộc sống và trân quý nó theo một cách mới.

Khi mẹ tôi mất, tôi đau khổ rất nhiều. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết vào nhật ký “Tai nạn lớn nhất đời tôi đã xảy ra rồi.” Tôi đau khổ hơn một năm sau khi mẹ qua đời. Nhưng rồi một tối, tôi đang ngủ trong cái cốc sau chùa trên lưng chừng đồi chè ở vùng cao nguyên Việt Nam, tôi nằm mơ thấy mẹ tôi. Tôi thấy tôi ngồi chơi cạnh bà và chúng tôi đã nói chuyện rất vui. Mẹ tôi trông trẻ đẹp, tóc bà thả dài xuống lưng. Tôi sung sướng khi ngồi và nói chuyện với mẹ như thể là bà chưa bao giờ chết vậy.

Khi tôi thức dậy, tôi có cảm xúc mãnh liệt rằng tôi chưa bao giờ mất mẹ. Cảm giác rằng mẹ vẫn còn với tôi rất rõ ràng. Tôi hiểu rằng ý tưởng mất mẹ chỉ là một ý tưởng mà thôi. Rõ ràng lúc đó tôi thấy mẹ luôn luôn còn sống trong tôi.



Tôi mở cửa đi ra ngoài. Tất cả sườn đồi đang tắm trong ánh trăng. Bước thong thả trong ánh sáng dịu qua những luống trà, tôi thấy rằng thật sự mẹ tôi vẫn ở bên tôi. Bà là ánh trăng vuốt ve tôi như đã từng làm, thật dịu dàng âu yếm. Mỗi khi chân tôi chạm mặt đất, tôi biết rằng mẹ tôi vẫn đang ở cạnh. Tôi biết cái thân này không phải là của riêng tôi mà là sự tiếp nối của mẹ, cha, của ông bà, của cụ kỵ, của tổ tiên. Những dấu chân tôi tưởng của tôi, thực ra là của cả hai chúng tôi. Tôi và mẹ cùng để lại những dấu chân trên mặt đất ẩm ướt đó.

Từ lúc ấy, ý nghĩ rằng tôi đã mất mẹ không còn hiện diện trong tôi nữa. Tất cả những gì tôi làm là nhìn vào lòng bàn tay tôi, cảm nhận làn gió mát thổi qua mặt hay mặt đất dưới chân, để nhớ rằng mẹ tôi luôn có mặt với tôi, trong mọi thời điểm.

Khi mất đi một người mình thương thì ta đau khổ. Nhưng nếu bạn biết nhìn sâu, bạn có cơ hội để nhìn ra rằng bản thể của người đó là vô sinh, bất diệt. Chỉ có sự biểu hiện và sự ngừng lại để biểu hiện dưới hình thức khác mà thôi. Bạn phải rất tỉnh thức để nhận ra những biểu hiện mới của một người, nhưng khi thực tập và cố gắng, bạn có thể làm được chuyện này. Hãy để tâm vào vạn vật xung quanh, từng cái lá, từng bông hoa, từng con chim và từng giọt sương nhỏ. Nếu bạn có thể ngừng lại và nhìn sâu thì bạn có thể nhận diện được người thương ở những biểu hiện khác nhau, dưới nhiều hình thái. Bạn sẽ thoát khỏi nỗi sợ hãi và nỗi đau, và một lần nữa đón nhận niềm vui của cuộc sống.

Thực Tại Tự Do

Khi chúng ta không có mặt hoàn toàn ở thực tại, chúng ta không sống một cuộc đời thật sự. Chúng ta cũng không có mặt cho người thân và cho mình. Nếu chúng ta không ở đó thì đang ở đâu? Chúng ta cứ chạy, chạy và chạy, thậm chí cả trong giấc ngủ. Chúng ta chạy vì chúng ta cố gắng trốn khỏi sợ hãi.

Chúng ta không thể thưởng thức cuộc sống nên dùng nhiều thì giờ và công sức để lo âu về những gì đã xảy ra hôm qua hoặc sẽ xảy ra ngày mai. Nếu chúng ta sợ hãi hoài thì không thể biết được giá trị của sự sống và hạnh phúc của hiện tại. Trong đời sống hằng ngày, ta có xu hướng tin rằng hạnh phúc chỉ có khả năng xảy đến trong tương lai. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm điều kiện tốt hơn để làm cho ta hạnh phúc. Ta bỏ qua những gì đang xảy ra trước mắt. Chúng ta cố gắng đi tìm những gì làm cho ta cảm thấy vững vàng hơn, an toàn hơn. Nhưng chúng ta cũng thường xuyên lo sợ về những gì tương lai sẽ đem tới. Chúng ta lo mất việc làm, của cải và những người thương. Vì thế chúng ta cứ chờ đợi và hy vọng một giây phút kỳ diệu xảy ra vào một thời điểm nào đó, khi mọi thứ sẽ diễn ra đúng như ý ta mong muốn. Nhưng đời sống chỉ có trong giây phút hiện tại. Bụt dạy: “Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là những giây phút duy nhất mà ta đang có.”

Kho Báu Chôn Cất

Trong Kinh thánh có một câu chuyện về một người nông dân phát hiện một kho báu được chôn cất trên mảnh đất của mình. Khi trở về nhà, ông ta bỏ hết tất cả phần đất còn lại và tất cả thứ khác ông có, ông chỉ giữ lại mảnh đất nhỏ chứa kho báu. Kho báu đó là vương quốc của Thượng Đế. Chúng ta biết rằng chúng ta nên tìm kiếm vương quốc của Thượng Đế trong giây phút hiện tại, bởi vì giây phút hiện tại mới là giây phút thật sự. Quá khứ đã không còn và tương lai thì chưa tới. Vì vậy vùng đất mà bạn tìm kiếm là vương quốc của Thượng Đế hay Tịnh độ trong đạo Bụt, vùng đất mà bạn tìm thấy hạnh phúc, an lạc và vững vàng, phải là giây phút hiện tại. Điều này rất đơn giản và rõ ràng. Nhưng vì chúng ta có xu hướng bị lôi về quá khứ hay kéo tới tương lai, chúng ta phải nhận ra thói quen đó và học cách thoát khỏi nó để có mặt thật sự trong giây phút hiện tại.

Khi Bụt nói chuyện với một đám đông lớn là những người thương gia, thông điệp chính của Bụt là “có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.” Bụt thấy rằng hầu hết những người thương gia đều rất quan tâm về sự thành công trong tương lai của họ và họ không có khả năng thưởng thức giây phút hiện tại. Họ không có thời gian cho bản thân và cho gia đình, thậm chí không có thời gian để yêu thương và làm cho người thân họ hạnh phúc. Họ liên tục bị cuốn vào tương lai.

Cõi Tịnh độ là giây phút hiện tại. Tịnh Độ là bây giờ hoặc không bao giờ. Vương quốc của Thượng Đế cũng vậy. Vương quốc của Thượng Đế không chỉ là một ý tưởng dễ thương. Đó là thực tại. Khi chúng ta thở và đi trong chánh niệm, chúng ta trở về ngôi nhà hiện tại, tiếp xúc với những điều kỳ diệu của cuộc sống xung quanh. Nếu ta đã tìm thấy vương quốc của Thượng Đế, ta không còn chạy theo danh tiếng, sự giàu có và lạc thú.

Khi chúng ta trở về ngôi nhà hiện tại, ta sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt. Ta đã có đủ điều kiện để hạnh phúc. Hạnh phúc hoàn toàn có mặt bây giờ và ở đây.

Lời dạy của Bụt về việc sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại là một niềm vui. Chúng ta có thể hạnh phúc ngay bây giờ. Việc thực tập cũng là một niềm vui. Khi chúng ta cùng leo lên đồi, chúng ta không cần cố gắng mà thưởng thức từng bước chân đi. Đi như vậy, nếu thoát ra khỏi quá khứ và tương lai, ta có thể bước vào vương quốc của Thượng Đế hay cõi Tịnh Độ của Bụt trong từng bước chân.

Bây Giờ Và Ở Đây

Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về nương tựa.

Khi bạn trở về với lúc này và ở đây, bạn sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt. Thực tập chánh niệm là thực tập trở về với hiện tại, lúc này và ở đây, để có thể tiếp xúc sâu sắc với chúng ta, với cuộc sống. Chúng ta phải thực tập để có thể làm được chuyện này. Dù cho ta thông minh và hiểu biết ngay, chúng ta cũng cần được huấn luyện mới sống được như thế. Chúng ta phải luyện tập để thấy được rằng các điều kiện của hạnh phúc đã có mặt tại đây rồi.

Chúng ta có thể đọc bài kệ đó trong khi thở vào và thở ra. Chúng ta có thể đọc bài kệ đó khi lái xe tới chỗ làm. Bạn chưa tới chỗ làm nhưng trên đường đi, bạn đã tới căn nhà của bạn, chính là giờ phút hiện tại. Và khi tới chỗ làm, đó cũng là nhà, vì khi vô đó, bạn cũng đang sống với bây giờ và ở đây. Hãy cứ thực tập câu đầu tiên: “Tôi đã tới, tôi đã về nhà” là bạn đã có thể rất hạnh phúc rồi. Khi ngồi, khi đi hay khi tưới vườn rau, hay cho con ăn, lúc nào bạn cũng thực tập được “đã về, đã tới.” Tôi không còn chạy nữa. Tôi đã chạy suốt đời rồi và nay tôi quyết định dừng lại để thực sự sống cuộc đời mình.

Khi ta thực tập thở vào, chúng ta đọc “đã về,” đó là một thành công. Bây giờ chúng ta hoàn toàn có mặt, chúng ta sống 100%. Giờ phút bây giờ trở thành ngôi nhà thật sự của chúng ta.

Khi thở ra chúng ta nói “đã tới nhà.” Nếu chúng ta không cảm thấy về tới, chúng ta sẽ tiếp tục chạy. Và chúng ta tiếp tục sợ hãi. Nhưng nếu bạn cảm thấy đã tới nhà, thì bạn sẽ cảm thấy không cần phải chạy nữa.

Chúng ta lặp lại bài kệ này “Tôi đã tới, tôi đã về nhà” cho đến khi có cảm giác thật sự. Chúng ta lặp lại thở vào và thở ra, và tiếp bước cho đến khi ta thiết lập sự vững chãi trong giây phút hiện tại và ở đây. Những từ này không phải là trở ngại mà giúp ta chú tâm và giữ vững đời sống tỉnh thức.

Hai Phương Diện Của Thực Tại

Nếu chúng ta về đến nhà thành công và an trú trong hiện tại, ta đã có được tự do và vững vàng, và đó là nền tảng của hạnh phúc. Lúc đó ta mới có khả năng thấy được hai phương diện của thực tại, bản môntích môn.

Để biểu diễn hai phương diện của thực tại, ta sử dụng hình ảnh của sóng và nuớc. Nhìn về phương diện sóng, bản môn, chúng ta thấy rằng sóng có bắt đầu và có kết thúc. Sóng có thể cao hoặc thấp. Con sóng có thể đẹp nhiều hay đẹp ít. Sóng có thể có hoặc không, lúc này thì có nhưng lúc sau biến mất. Khi ta chạm vào bản môn, tất cả các ý niệm sau xuất hiện: sinh và diệt, thấp và cao, có mặt và không có mặt, đến và đi... Nhưng chúng ta biết rằng khi chúng ta tiếp xúc sâu vào sóng, ta tiếp xúc nước. Nước là phương diện khác của sóng. Nước đại diện cho tích môn.

Trong bản môn, chúng ta đề cập về các khái niệm có sinh, có diệt, có trước, có sau, có trong, có ngoài, có lớn, có nhỏ. Nhưng trong tích môn, tất cả các khái niệm này đều bị loại bỏ. Nếu sóng có khả năng tiếp xúc được với nước, sóng có thể sống cùng với nước thì sóng không còn sợ những khái niệm về bắt đầu, kết thúc, thấp, cao, sinh và diệt. Không sợ hãi mang đến sự vững vàng và niềm vui. Vì bản chất thật của sóng là không sinh không diệt, không có bắt đầu và không có kết thúc. Đó là bản chất của nước.

Tất cả chúng ta đều giống như sóng. Chúng ta có bản môn của chúng ta. Chúng ta thường nói về việc bắt đầu ở một thời điểm và kết thúc ở một thời điểm khác. Chúng ta tin rằng hiện tại chúng ta đang hiện hữu và trước khi ra đời chúng ta không có. Chúng ta bị chìm vào trong các khái niệm, đó là lý do chúng ta sợ hãi, ganh tị, ham muốn, và chúng ta có tất cả xung đột và đau khổ bên trong. Ngay bây giờ, nếu chúng ta có thể trở về vững chãi, tự do, chúng ta có thể tiếp túc với bản chất thật của chúng ta, là bản môn của chúng ta. Chạm vào bản môn, chúng ta vượt thắng khỏi những khái niệm khiến chúng ta đau khổ.

Khi nỗi sợ vơi đi, chúng ta có thể nhìn sâu vào nguồn gốc của nỗi sợ từ phương diện tích môn. Trong bản môn, chúng ta thấy sinh, diệt, tuổi già nhưng trong tích môn, sinh và diệt không phải là bản chất thật của sự vật. Bản chất thật sự của mọi vật thoát ra khỏi sinh và diệt. Bước đầu tiên là thực tập trong bản môn, bước thứ nhì là thực tập trong tích môn. Ở bước đầu, ta chấp nhận có sinh và diệt, nhưng trong bước thứ hai, vì ta đã tiếp xúc với tích môn, ta nhận biết rằng sinh và diệt đến từ những khái niệm của chúng ta chứ không phải từ bất kỳ thực tại nào. Bằng cách tiếp xúc với tích môn, chúng ta có khả năng tiếp xúc được với bản chất vô sinh bất diệt.

Thực tập trong bản môn rất quan trọng cho việc thực tập thành công trong tích môn. Thực tập trong tích môn nghĩa là chạm vào bản chất không sinh không diệt của chúng ta, giống như ngọn sóng chạm vào bản chất thật của nó là nước. Chúng ta có thể hỏi “Sóng từ đâu tới và sóng đi đâu?” Và chúng ta có thể tự trả lời “Sóng đến từ nước và trở về nước.” Thực tế, không có đến cũng không có đi. Sóng cũng là nước, nó chẳng đến từ đâu mà cũng chẳng đi đâu. Sóng cũng không bao giờ tách khỏi nước, vì thế ta nói sóng “đến từ” nước cũng không thật sự chính xác. Vì nó là nước, ta cũng không thể nói rằng nó “trở về” nước. Tại thời điểm sóng là ngọn sóng, nó đã là nước rồi. Sinh và diệt, đến và đi cũng chỉ là những ý niệm. Khi tiếp xúc được bản chất không sinh không diệt, ta không còn sợ hãi.

Bản Chất Của Vô Sinh Bất Diệt

Đám mây không thể trở thành hư không. Mây biến thành nước, tuyết hay mưa đá. Đó là lý do nói rằng nhìn nhận sự hoại diệt là một nhìn nhận sai. Nếu bạn là một nhà khoa học và bạn nghĩ rằng sau khi thân thể này phân rã bạn chẳng còn lại gì hết – bạn trở thành không, bạn chuyển đổi từ có thành không, thì bạn không phải là một nhà khoa học giỏi, vì cách nghĩ đó phản khoa học.

Vì sinh và diệt là một cặp ý niệm, giống như đến và đi, tồn tại và hoại diệt, cái này và cái khác. Đám mây xuất hiện trên bầu trời là một biểu hiện mới. Trước khi ra đời, mây là hơi nước sinh ra từ đại dương và sức nóng của mặt trời. Bạn có thể gọi đó là kiếp trước của mây. Mây chỉ là một sự tiếp nối. Đám mây không tới từ hư không mà luôn đến đến từ thứ gì đó. Vì vậy không có sự sinh ra mà chỉ là sự tiếp nối. Đó cũng là bản chất thật của vạn vật: không sinh không diệt.

Nhà khoa học người Pháp ở thế kỷ 18, ông Antoine Lavoisiter đã từng tuyên bố “Không có gì được sinh ra, cũng không có gì mất đi.” Lavoisiter đã thấy được chân lý mà Bụt đã thấy. Chỉ khi nào ta chạm được vào bản chất chân thực đó, chúng ta mới chuyển đổi được nỗi sợ mình không hiện hữu, chuyển đổi được cái lo trở thành hư không.

Khi đầy đủ nhân duyên thì sự việc biểu hiện, và chúng ta nói nó hiện hữu. Khi thiếu một hoặc hai điều kiện, sự việc đó không biểu hiện như trước thì ta nói nó không hiện hữu. Nói rằng thứ này có hay không có đều sai. Trong thực tại, không có thứ gì hoàn toàn có hay hoàn toàn không hiện hữu.

Không Đến Không Đi

Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệm sinh – diệt, đến – đi. Chúng ta nghĩ rằng người thương của ta đã đến từ một nơi nào đó và và nay sẽ đi tới một nơi nào đó. Nhưng bản chất của thực tại là không đến không đi. Chúng ta không từ đâu tới mà cũng không đi tới đâu cả. Khi nhân duyên đầy đủ thì ta biểu hiện dưới một hình thức, khi nhân duyên không còn đầy đủ thì chúng ta không biểu hiện dưới hình thức đó nữa. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không hiện hữu. Chúng ta sợ chết, bởi vì không hiểu rằng vạn vạt không thật sự mất đi.

Một số người có khuynh hướng cho rằng họ có thể loại bỏ thứ mà họ không muốn: họ có thể đốt cháy một ngôi làng hay giết người. Nhưng giết hại cũng không làm cho người đó biến thành hư không. Họ đã giết Mahatma Gandhi. Họ bắn Martin Luther King, nhưng những người này vẫn còn trong chúng ta. Họ tiếp tục biểu hiện dưới nhiều hình thức khác. Tinh thần của họ ở khắp nơi. Vì thế, khi chúng ta nhìn sâu vào bản thân – vào thân thể, vào cảm xúc, sự hiểu biết của chúng ta, khi ta nhìn vào ngọn núi, dòng sông hay nhìn vào người khác, ta phải có khả năng thấy được và tiếp xúc được cái bản chất không sinh không diệt. Đó là một trong những phép thực tập quan trọng nhất trong đạo Bụt.

Vô Thường

Theo tuệ giác đạo Bụt, nhìn nhận về bất diệt (bất tử) là một nhìn nhận sai trái. Vạn vật đều vô thường, vạn vật đều thay đổi. Không có gì là mãi mãi. Bất diệt không phải là bản chất thật của bất kì thứ gì. Nhưng nói rằng nếu ta chết đi thì không còn gì cũng là một nhìn nhận sai. Bất diệt (immortality) và đoạn diệt (annihilation) là một cặp đối nghịch. Bất diệt là một nhìn nhận sai, vì cho tới giờ chúng ta chưa thấy bất kỳ điều gì như vậy. Tất cả mọi thứ ta thấy đều là vô thường, luôn luôn thay đổi. Nhưng đoạn diệt cũng là một nhìn nhận sai trái.

Giả sử ta nói về cái chết của đám mây. Bạn nhìn lên bầu trời và không thấy đám mây yêu thích của bạn nữa, và bạn than khóc “Trời ơi đám mây không còn ở đó nữa, làm sao tôi có thể sống đây?” Và bạn rơi nước mắt. Bạn đã nghĩ rằng đám mây đã chuyển đổi từ không thành có, từ không hiện hữu thành hiện hữu.

Nhưng sự thực là đám mây không chết đi. Chết có nghĩa là đang là cái gì đó, đột ngột không còn là gì hết. Chết có nghĩa là từ ai đó, bạn đột ngột không còn là ai nữa. Nhưng những gì ta thấy thì không phải vậy. Đó là lý do khi tổ chức sinh nhật, thay vì hát “mừng ngày sinh nhật”, ta có thể hát “mừng ngày tiếp nối.” Sự ra đời của bạn không phải là bắt đầu mà là một sự tiếp nối. Bạn đã biểu hiện rồi, dưới hình tướng khác.

Chúng ta hãy nhìn vào một tờ giấy. Trước khi tờ giấy biểu hiện dưới hình thức này, nó là thứ khác. Nó không đến từ hư không, vì nếu từ hư không thì không thể đột nhiên biến thành có. Nhìn sâu vào tờ giấy, bạn có thể thấy cây cối, đất đá, mặt trời, mưa và đám mây đã nuôi dưỡng rừng cây; bạn có thể thấy người tiều phu và xưởng sản xuất giấy. Bạn có thể thấy kiếp trước của tờ giấy. Hình thức của tờ giấy chỉ là một biểu hiện mới, không phải thật sự sinh ra. Vì vậy bản chất của tờ giấy là không sinh không diệt.

Cũng không thể nói là tờ giấy chết đi. Khi bạn đốt tờ giấy, nó chuyển thành khói, thành hơi nước, thành tro và sức nóng. Tờ giấy tiếp tục biểu hiện dưới hình thức khác. Vì vậy cho rằng sau khi phân rã, sự vật không còn lại gì là một cách nhìn sai, còn gọi là cách nhìn đoạn diệt.

Nếu chúng ta mất đi một người rất gần gũi và chúng ta đau khổ vì sự mất mát ấy thì cần phải nhìn lại. Người thương đó vẫn tiếp tục bằng cách nào đó. Và chúng ta có thể giúp người thương bằng cách làm cho họ đẹp hơn. Người đó vẫn còn sống bên trong chúng ta và quanh chúng ta. Nhìn bằng cách này, ta vẫn có thể nhận ra người thương dưới những biểu hiện khác, giống như ta nhận ra đám mây trong tách trà. Khi bạn thưởng thức tách trà trong chánh niệm và chú tâm, bạn hiểu rằng đám mây đã có mặt ngay trong tách trà của bạn. Bạn không bao giờ mất đi người thương. Người ấy chỉ thay đổi hình tướng mà thôi.

Đó là cách nhìn nhận sáng suốt cần có để vượt qua nỗi đau. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta mất đi người thương nhưng người ấy không chết, cũng không biến mất. Người ấy vẫn tiếp tục ở những hình tướng mới. Chúng ta phải thực tập nhìn cho sâu sắc để nhận ra sự tiếp nối của người thương và hỗ trợ cho họ: “Anh yêu dấu ơi, em biết là anh đang ở đó, anh có rất thật với em. Em đang thở cho anh đây. Em đang đi dạo cùng anh và thưởng thức cuộc sống với anh đây. Em biết rằng anh đang ở rất gần với em và anh đang ở trong em.” Chúng ta chuyển nỗi đau và sợ hãi của chúng ta vào trong nhận thức, chúng ta sẽ cảm thấy tốt hơn.

Khi thoát khỏi những ý niệm về sinh và diệt, chúng ta không còn bị nó chi phối. Ý niệm hiện hữu và hay không hiện hữu có thể đem tới nỗi sợ rất lớn. Khi đám mây biến mất khỏi bầu trời, nó không chuyển từ hiện hữu thành không hiện hữu, mà nó vẫn luôn tiếp tục. Bản chất của đám mây là không sinh không diệt. Bản chất người thương của bạn cũng như vậy, và bản chất của bạn cũng giống như vậy.

Trân Quý Nơi Này (Appreciating Where You Are)

Giả sử có hai phi hành gia lên mặt trăng. Khi tới nơi, họ bị tai nạn và con tàu không thể trở về trái đất. Họ chỉ còn đủ dưỡng khí trong hai ngày. Không hy vọng gì việc sống sót.

Nếu bạn hỏi họ lúc đó “Bạn mong ước điều gì nhất?” Họ có thể trả lời: “Trở về nhà và được đi trên hành tinh trái đất.” Thế là đủ, họ sẽ không cần gì khác. Họ không cần là chủ nhân một công ty lớn, một người có tiếng tăm hoặc làm tổng thống Hoa Kỳ. Họ sẽ không muốn gì khác hơn là được trở về mặt đất, bước trên đó và thưởng thức từng bước chân, nghe các âm thanh của thiên nhiên và cầm tay người thương, nhìn ngắm mặt trăng.

Chúng ta nên sống mỗi ngày như những người được cứu thoát từ mặt trăng trở về. Chúng ta hiện đang sống trên mặt đất, nên ta cần biết thưởng thức từng bước chân trên mặt địa cầu quý giá, đẹp đẽ này. Thiền sư Lâm Tế đã dạy: “Phép lạ không phải là đi trên mặt nước mà là đi trên mặt đất.” Tôi rất quý lời dạy đó.  Bước đi là hạnh phúc của tôi, dù đi tại những nơi đông người như phi trường hay ga xe lửa. Đi như thế, mỗi bước chân hôn lên mặt đất mẹ, chúng ta có thể gây hứng khởi cho người khác làm theo. Chúng ta vui sống từng giây phút của cuộc đời.

Đi Tìm Đất Mẹ Vững Chãi

Trong đời sống hằng ngày, nỗi sợ làm cho ta đánh mất chính mình. Thân xác ta ở đây, nhưng tâm thì ở nơi khác. Thỉnh thoảng chúng ta chìm ngập vào một quyển sách, và quyển sách đưa ta ra khỏi thân xác và thực tại ta đang ở. Sau đó, ngay khi rời khỏi quyển sách, ta lại cuốn vào lo lắng và sợ hãi. Nhưng hiếm khi ta quay về với niềm an lạc, sự hiểu biết và tính Bụt bên trong mỗi người, để chúng ta có thể chạm vào Đất Mẹ.

Nhiều người lãng quên thân xác mình. Họ sống trong thế giới ảo. Họ có quá nhiều kế hoạch và lo lắng, quá nhiều suy tính và mơ ước, họ không sống trong thân xác của họ. Trong khi chìm vào những nỗi sợ và cố tìm cách thoát khỏi nó, chúng ta không có khả năng nhìn thấy tất cả vẻ đẹp mà Đất Mẹ ban tặng. Chánh niệm nhắc nhở bạn trở về với hơi thở vào và có mặt hoàn toàn với hơi thở vào, có mặt hoàn toàn với hơi thở ra, mang tâm của bạn quay về với thân thể của bạn và an trú trong hiện tại. Hãy nhìn sâu vào giây phút hiện tại mầu nhiệm đang ở trước mặt. Đất Mẹ thật mạnh mẽ, bao la và luôn nâng đỡ. Thân thể bạn có rất nhiều mầu nhiệm. Khi bạn thực tập và đã vững vàng như mặt đất, bạn có thể đối mặt trực tiếp với khó khăn và nó sẽ bắt đầu tan đi.

Thực Tập Hơi Thở Chánh Niệm

Hãy dành thời gian thưởng thức bài tập đơn giản về hơi thở chánh niệm: “Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào. Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra.” Nếu bạn làm điều đó với một ít chú tâm thôi, bạn sẽ có khả năng thật sự có mặt. Giờ phút mà bạn bắt đầu tập thở chánh niệm, thân và tâm bạn bắt đầu quay về một chỗ. Chỉ cần 10, 20 giây để đạt được sự kỳ diệu này, thân tâm sẽ có mặt ở hiện tại. Tất cả chúng ta đều có thể làm được, ngay cả một đứa trẻ cũng có thể làm được.

Bụt dạy “Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, sự sống chỉ có mặt duy nhất trong giờ phút hiện tại.” Tập thiền với hơi thở chánh niệm sẽ đưa thân và tâm ta quay về giờ phút hiện tại, để ta không lỗi hẹn với cuộc sống.

Chương 6. Món Quà Vô Úy

(Không-Sợ-Hãi Là Món Quà Có Thể Dành Tặng Cho Người Khác)

Nếu bạn có người thân đang đối mặt với cái chết, người đó có lẽ rất sợ hãi. Nếu bạn muốn có khả năng giúp đỡ được người thân, bạn phải học cách nuôi dưỡng hạt giống không-sợ-hãi (vô úy).

BVô úy là nền tảng của hạnh phúc đích thực, và nếu bạn có thể đem lại không-sợ-hãi cho người khác thì bạn đã dành tặng cho người ấy món quà tốt nhất. Nếu bạn có thể cùng ngồi vững chãi với người thân trong những thời khắc khó khăn này thì bạn có thể giúp người ấy chết bình an và không sợ hãi. Vô úy là phần tinh túy nhất trong bài giảng của Bụt.

Thiền tập giúp bạn có thể chế tác được năng lượng chánh niệm và sự tập trung (định). Những năng lượng này trở lại giúp chúng ta hiểu biết rằng không có gì thật sự sinh ra hay mất đi. Chúng ta hoàn hoàn có thể loại bỏ nỗi sợ về cái chết. Một khi hiểu rằng chúng ta không thể bị hoại diệt thì chúng ta thoát khỏi sợ hãi. Đó là một niềm tin to lớn. Không-sợ-hãi còn là niềm vui tuyệt đối.

Nếu chúng ta cứ lo sợ thì không thể nào có được hạnh phúc hoàn toàn. Nếu ta vẫn tiếp tục chạy theo vọng tưởng, ta vẫn còn có nỗi sợ. Nỗi sợ luôn theo cùng với dục vọng. Vì muốn an toàn và hạnh phúc, chúng ta mơ tưởng đến ai đó, đạt được một mục tiêu nào đó như tiền bạc hay danh tiếng mà chúng ta cho là đảm bảo được hạnh phúc. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn hài lòng với những mơ tưởng nên vẫn mãi theo đuổi và cảm thấy sợ hãi. Nếu bạn biết dừng lại, cho dù là một ai đó, một mục tiêu nào đó, thì nỗi sợ tự khắc tan biến. Không sợ hãi, bạn sẽ được bình an. Với bình an trong thân và tâm, bạn sẽ không bị sợ hãi vây quanh, và thực tế rằng bạn sẽ ít bị tai nạn hơn. Bạn được tự do.

Nếu chúng ta có thể chế tác được khả năng hiện diện của sự không-sợ-hãi và buông bỏ, thì điều đó quý hơn bất cứ tiền bạc và của cải vật chất. Sợ hãi làm hỏng cuộc sống của ta và làm ta khổ sở. Chúng ta bám vào thứ gì và vào ai đó, như người chết đuối bám lấy bất cứ vật gì đang trôi. Bằng cách thực tập buông bỏ và chia sẻ tuệ giác này với những người khác là chúng ta ban tặng cho họ món quà của vô úy. Vạn vật đều vô thường. Giây phút này rồi sẽ qua đi. Vọng tưởng rồi cũng qua đi, nhưng chúng ta biết rằng hạnh phúc thì luôn luôn có mặt.

Những Thứ Độc Hại

Chúng ta không muốn sợ hãi, giận dữ, đau khổ, vì vậy ta ngăn chặn nó bằng cách sa vào những phương tiện giải trí như lướt web, chơi game, xem phim ảnh, ca nhạc. Tất cả những thứ này có thể chứa độc hại làm tăng bệnh tật và nỗi sợ.

Giả sử bạn xem tivi trong một giờ đồng hồ. Điều này tưởng chừng rất nhỏ, nhưng bạn biết rằng có rất nhiều cảnh bạo lực, có rất nhiều nỗi sợ và rất nhiều độc tố trong chương trình một giờ đó. Và bản thân bạn bị đầu độc hằng ngày. Bạn nghĩ rằng bạn vừa có được một ít niềm tin, nhưng trong khi giải trí, bạn lại tiếp tục mang vào sâu trong ý thức nhiều yếu tố gây đau khổ. Vì vậy nỗi đau nằm sâu trong bạn tiếp tục lớn hơn. Chúng ta đầu độc bản thân bằng những gì chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Chúng ta biến cái tivi thành người trông coi trẻ, và trẻ con bị đầu độc hằng ngày bởi những gì chúng xem và nghe ở đó. Bụt gọi đó là những thứ độc hại. Những thứ độc hại đã sẵn có trong ta rồi, nằm sâu trong ý thức và thậm chí chúng ta lại mở lòng ra để đón nhận thêm nhiều thứ độc hại nữa.

Môi trường của chúng ta bị ô nhiễm nặng bởi nhiều chất độc. Tập thiền nghĩa là nhận ra tất cả những gì đang diễn ra, không chỉ thấy trong thân xác này mà còn thấy cả vạn hữu ngoài kia. Chúng ta và con cháu chúng ta đang nạp vào những thứ độc hại. Đó là những gì đang xảy ra trong hiện tại. Nếu bạn để ý, bạn sẽ thức tỉnh với sự thật rằng chúng ta đang tự đầu độc mình trong một thời gian dài. Chúng ta phải tìm cách dừng lại việc nạp những chất độc đang nuôi dưỡng nỗi sợ của chúng ta.

Tương Tức

Khi chúng ta nhìn sâu vào tờ giấy, chúng ta thấy đầy đủ vạn vật trong vũ trụ: ánh nắng, rừng cây, đám mây, mặt đất, chất khoáng và mọi thứ – trừ một thứ, đó là tự tính riêng rẽ. Tờ giấy không thể là riêng mình nó. Đó là sự tương tức của tất cả vạn vật trong vũ trụ. Đó là lý do từ “tương tức” (inter-be) có ý nghĩa hơn từ “be” (hiện hữu). Sự thật “hiện hữu” có nghĩa là “tương tức.” Tờ giấy không thể có mà không có mặt của ánh nắng mặt trời và không thể không có sự có mặt của cánh rừng. Tờ giấy phải tương tức với ánh nắng và tương tức với cánh rừng.

Nếu bạn hỏi làm thế nào thế giới này tồn tại, Bụt sẽ nói rất đơn giản “Cái này có vì cái kia có. Cái này không vì cái kia không.” Bởi vì có ánh nắng mặt trời nên ta có tờ giấy. Bởi vì có cái cây nên ta có tờ giấy. Bạn không thể tự là chính bạn, mà bạn phải có sự tương tức với vạn vật khác trong vũ trụ. Đó là bản chất của tương tức. Tôi không nghĩ rằng từ “inter-be” có trong tự điển, nhưng tôi tin sẽ sớm có thôi, bởi vì nó giúp chúng ta thấy được bản chất thật của vạn vật, bản chất của tương tức.

Nếu bạn bị nhốt vào ý nghĩ của tự tính riêng biệt, bạn có nỗi sợ rất lớn. Nhưng nếu bạn nhìn cho sâu và có khả năng thấy “bạn” ở khắp nơi, bạn sẽ không sợ hãi.

Là một người đi tu, tôi thực tập nhìn sâu mỗi ngày. Tôi không chỉ hướng dẫn tu tập mà tôi có thể thấy tôi trong các học trò của mình. Tôi thấy tôi trong các vị tổ tiên. Tôi thấy sự tiếp nối của tôi ở khắp nơi trong giây phút này. Mỗi ngày tôi cố gắng truyền đạt cho học trò của mình những điều tốt đẹp nhất mà tôi đã học được từ những người thầy và từ sự tu tập của mình.

Tôi không tin rằng vào một ngày nào đó tôi sẽ bị ngừng lại. Tôi nói với những người bạn rằng thế kỷ hai mươi mốt như một ngọn đồi xinh đẹp mà tôi và tăng thân cùng nhau đi lên. Tôi sẽ cùng với tăng thân đi hết ngọn đồi đó. Tôi không thấy có một chút trở ngại nào hết vì tôi thấy tất cả mọi người ở trong tôi và tôi ở trong họ. Đó là phép thực tập nhìn sâu, quán tưởng tính không, thực tập tương tức.

Câu Chuyện Về Ông Cấp Cô Độc (Anathapindika)

Ông Cấp Cô Độc – sống cách đây 2600 năm, là một đệ tử rất thân cận với Bụt. Ông Cấp Cô Độc là một thương gia có tấm lòng rộng rãi, ông dùng thì giờ và công sức của mình để giúp những người nghèo đói. Ông ban tặng rất nhiều của cải cho người nghèo, nhưng không vì thế mà ông bớt giàu đi. Tên thật của ông là Sudatta, nhưng ông được gọi là ông Cấp Cô Độc, có nghĩa là “người chu cấp, thương tưởng tới những kẻ nghèo đói.” Ông cũng nhận được rất nhiều hạnh phúc. Ông có nhiều bạn bè trong giới thương gia và tất cả họ đều yêu mến ông.

Ông Cấp Cô Độc có nhiều niềm vui trong việc phụng sự Bụt. Ông từng dùng của cải của mình để mua tặng Bụt một khu vườn và xây dựng một trung tâm tu học tên là Kỳ Viên (Jeta Grove), nơi Bụt cùng tăng đoàn tu tập. Kỳ Viên đã trở một trung tâm tu học rất nổi tiếng, và mọi người đến đây nghe Bụt giảng pháp mỗi tuần.

Một ngày Bụt nghe tin người môn đồ yêu mến của mình là ông Cấp Cô Độc bị bệnh rất nặng. Người đi thăm ông và nhắc ông thực tập thở chánh niệm ngay trên giường bệnh. Sau đó Người cử Thầy Xá Lợi Phất (Shariputra) – người bạn thân của Cấp Cô Độc hãy đến chăm sóc cho ông.

Thầy Xá Lợi Phất và một người em đồng tu nhỏ tuổi hơn là Thầy Ananda cùng đi thăm ông Cấp Cô Độc. Khi hai vị tăng đến, ông Cấp Cô Độc quá yếu đến nỗi không thể ngồi dậy chào họ. Xá Lợi Phất bảo “Ông bạn ơi, ông đừng cố dậy làm gì, hãy nằm đó nghỉ ngơi. Chúng tôi sẽ mang ghế tới ngồi cạnh ông đây.”

Rồi Xá Lợi Phất hỏi ông “Ông bạn cảm thấy thế nào? Có đau lắm không? Cái đau nó tăng hay giảm?” Ông Cấp Cô Độc trả lời “Thưa Thầy, hình như cái đau trong thân tôi không giảm mà tăng lên hoài.”

Thầy Xá Lợi Phất nghe vậy quyết định hướng dẫn ông Cấp Cô Độc thực tập vài bài thiền quán. Là một trong những vị đệ tử xuất sắc nhất của Bụt, Thầy Xá Lợi Phất biết rất rõ rằng việc giúp ông Cấp Cô Độc tập trung tâm thức vào Bụt – người mà ông ta yêu kính, sẽ cho ông rất nhiều an lạc. Thầy Xá Lợi Phất đã tưới tẩm hạt giống hạnh phúc bên trong ông Cấp Cô Độc. Thầy biết rằng nhắc tới những việc đã làm ông Cấp Cô Độc hạnh phúc trong cuộc đời ông ấy sẽ tưới tẩm những hạt giống tốt lành bên trong ông và làm giảm cái đau trong giờ khắc nguy cấp này.

Thầy Xá Lợi Phất mời ông Cấp Cô Độc thở vào và thở ra trong chánh niệm và chú tâm vào những điều hạnh phúc nhất của ông ấy: những việc ông đã làm cho người nghèo, rất nhiều hành động rộng rãi, tình thương và lòng từ bi mà ông đã chia sẻ với gia đình ông và những người bạn đồng tu với Bụt.

Trong chỉ 5-6 phút sau đó, nỗi đau mà ông Cấp Cô Độc đang phải gánh chịu trong thân thể dần dần giảm đi, bởi vì những hạt giống an lạc trong ông đã được tưới tẩm, và ông mỉm cười. Tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc là việc làm rất quan trọng cho người đau ốm hay người sắp lìa đời. Tất cả chúng ta đều có những hạt giống hạnh phúc trong mình. Trong những lúc khó khăn như đau ốm hay sắp chết, cần có bạn bè ngồi với ta để giúp ta tiếp xúc được với những hạt giống tốt đó. Nếu không thì các hạt giống sợ hãi, hối tiếc hay thất vọng sẽ xâm chiếm chúng ta dễ dàng.

Khi ông Cấp Cô Độc có khả năng mỉm cười, Thầy Xá Lợi Phất biết rằng phương pháp thiền tập đã hiệu nghiệm. Thầy Xá Lợi Phất tiếp tục mời ông Cấp Cô Độc tiếp tục thiền quán theo Thầy hướng dẫn. “Này ông bạn, đây là lúc thiền quán 6 giác quan. Cùng thở vào và thở ra với tôi nào.”

“Đôi mắt này không phải là tôi, tôi không kẹt vào hai mắt đó.

Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.

Tôi là sự sống thênh thang.

Tôi chưa bao giờ từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt.”

Khi một người sắp lìa đời, họ bị kẹt vào cái ý niệm thân thể này là của mình, bị kẹt vào ý niệm sự hoại diệt của thân thể này là hoại diệt của mình. Tất cả chúng ta đều sợ trở thành hư vô. Nhưng sự hoại diệt của cái thân người không thể đụng tới bản chất thật sự của người đó. Chúng ta phải có khả năng nhìn sâu để thấy những hình thức khác, không chỉ trong thân xác này, điều đó rất quan trọng. Mỗi người chúng ta đều có một đời sống không có giới hạn.

“Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.

Tôi là sự sống thênh thang.

Đôi mắt này không phải là tôi, tôi không kẹt vào hai mắt ấy.

Đôi tai này không phải là tôi, tôi không kẹt vào đôi tai ấy.

Cái mũi này không phải là tôi, tôi không kẹt vào cái mũi ấy.

Cái luỡi này không phải là tôi, tôi không kẹt vào cái lưỡi ấy.

Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.

Tâm thức này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào tâm thức ấy.”

Hai Thầy đã hướng dẫn ông Cấp Cô Độc thiền quán các đối tượng của 6 giác quan. Người sắp lìa đời có thể vướng víu vào những hình tướng, âm thanh, thân thể, tâm thức… và cho rằng những đối tượng này là của họ, họ đang mất những thứ đó, họ mất cả chính họ. Những bài thiền tập này đem lại rất nhiều lợi lạc cho một người bị bệnh hoặc hấp hối.

“Những gì tôi thấy không phải là tôi. Tôi không kẹt vào những gì tôi thấy.

Những âm thanh này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào những âm thanh ấy.

Khức giác này không phải là tôi, tôi không kẹt vào những khứu giác ấy.

Vị giác này không phải là tôi, tôi không kẹt vào những vị giác ấy.

Xúc giác này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào xúc giác ấy.

Những ý nghĩa này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào những ý nghĩ ấy.”

Ông Cấp Cô Độc hiểu hai Thầy rất rõ. Cả hai Thầy đều là những vị đệ tử tín cẩn của Bụt, và họ đang ngồi đây hỗ trợ cho mình. Vì vậy ông có khả năng thiền quán một cách dễ dàng, thậm chí trong khi ông đang bị bệnh nghiêm trọng. Sau đó Thầy Xá Lợi Phất hướng dẫn ông tiếp tục thiền quán về thời gian:

Quá khứ không phải là tôi, tôi không kẹt vào quá khứ.

Hiện tại không phải là tôi, tôi không kẹt vào hiện tại.

Tương lai không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào tương lai.

Cuối cùng, họ hướng dẫn ông thiền quán về tính có và không, đến và đi. Họ hướng dẫn ông rất kỹ. Thầy Xá Lợi Phất nói “Ngày ông bạn Cấp Cô Độc, vạn vật hiện hữu khi nó có đủ nguyên nhân và điều kiện. Bản chất của vạn vật là vô sinh bất diệt, không đến cũng không đi.”

Khi thân thể đến lúc có mặt thì có mặt. Điều này không đến từ đâu cả. Khi nhân duyên đầy đủ, thân thể biểu hiện. Khi những điều kiện nhân duyên không còn đầy đủ, bạn không nhận thấy nó nữa, và bạn nghĩ rằng nó không hiện hữu. Sự thật, bản chất của mọi vật là vô sinh bất diệt.

Ông Cấp Cô Độc là một người thực tập giỏi. Khi ông thực tập đến điểm này, ông cử động và bừng sáng. Ông đã có khả năng tiếp xúc được bình diện của vô sinh bất diệt. Ông đã giải phóng khỏi ý niệm ông chỉ là thân xác. Ông giải phóng ra khỏi ý niệm sinh tử, ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu, và ông có khả năng tiếp nhận món quà không-sợ-hãi.

Vạn vật có mặt vì có sự kết hợp của nhiều nguyên nhân. Khi nguyên nhân và điều kiện đầy đủ, thân xác ta biểu hiện. Khi nguyên nhân và điều kiện chưa đầy đủ, thân xác ta vắng mặt. Cũng giống như mắt, tai, mũi, lưỡi, tâm ý, thân, âm thanh, mùi vị, xúc giác... Điều này có vẻ trừu tượng, nhưng chúng ta đều có khả năng hiểu sâu nó. Bạn phải biết bản chất thật sự của cái chết để hiểu bản chất thật sự của sự sống. Nếu bạn không hiểu về cái chết, bạn cũng không hiểu về sự sống.

Bụt dạy cho chúng ta bớt khổ. Cơ sở của nỗi sợ là do không biết bản chất chân thật của mình và của thế giới xung quanh. Nếu bạn không hiểu biết, bạn sẽ sợ hãi, và nỗi sợ đó làm bạn nhiều đau khổ. Vì thế, không-sợ-hãi là món quà tốt nhất bạn có thể dành tặng cho mình và cho bất cứ người nào khác.

Không-sợ-hãi là một phép thực tập quan trọng, yêu cầu bạn phải nhìn cho sâu để giảm bớt nỗi sợ sẵn có trong mỗi người. Nếu bạn không sợ hãi, cuộc sống của bạn sẽ hạnh phúc và đẹp đẽ hơn, và bạn sẽ có khả năng giúp được nhiều người, như Ngài Xá Lợi Phất đã giúp ông Cấp Cô Độc. Năng lượng vô úy là nền tảng tốt nhất cho những hoạt động xã hội, những hoạt động từ bi bảo vệ con người, bảo vệ trái đất, thỏa mãn nhu cầu yêu thương và phụng sự của bạn.

Sống hạnh phúc, chết bình an là chuyện có thể làm được. Ta sẽ được như thế khi ta nhìn thấy mình tiếp tục biểu hiện trong các hình thái khác. Ta cũng có thể giúp người khác chết bình an nếu ta có những yếu tố vững chãi và vô úy trong ta. Bao nhiêu người trong chúng ta có cái sợ sẽ thành hư vô. Vì sợ hãi mà ta rất đau khổ. Vì vậy mà ta cần giúp người sắp chết hiểu được cái chân lý: “ta chỉ là sự tiếp nối trong nhiều biểu hiện.” Như vậy ta sẽ không bị chuyện sống chết làm cho ta hoảng sợ, vì ta hiểu đó chỉ là những khái niệm mà thôi. Sự hiểu biết này có thể giúp ta vượt thoát sợ hãi.

Nếu chúng ta biết thực tập và chú tâm vào thực tại của vô sinh bất diệt và ta nhận ra rằng đến-đi cũng chỉ là những ý niệm, và nếu chúng ta có mặt vững vàng và bình an, chúng ta sẽ giúp người đang hấp hối không còn lo sợ và đau khổ nhiều. Chúng ta có thể giúp người ấy chết bình an. Chúng ta có thể giúp bản thân sống không sợ hãi và chết bình an khi hiểu được rằng không có gì là mất đi, đó chỉ là sự tiếp nối. Trong những giây phút cuối đời, ông Cấp Cô Độc đã nhận được món quà quí nhất – không sợ hãi, và ông đã chết nhẹ nhàng, bình an mà không còn đau đớn hay sợ hãi.

Trong một tác phẩm khác, Sư Ông có viết:

“Tôi đã lấy những lời lẽ của bài “Kinh Dành Cho Người Hấp Hối” (Anguttara Nikaya) để làm thành một bài hát. Đó là một điệu ru, có thể hát cho người sắp chết nghe, khi họ sắp thở hơi cuối cùng:

“Thân này không phải là tôi

Tôi không kẹt vào nơi thân ấy

Tôi là sự sống thênh thang

Tôi chưa bao giờ từng sinh và cũng chưa bao giờ từng diệt

Này kia biển rộng trời cao

Muôn ngàn tinh tú lao xao

Tất cả đều biểu hiện tôi, từ nguồn linh tâm thức

Tự muôn đời tôi vẫn tự do

Tử sinh là cửa ngõ ra vào

Tử sinh là trò chơi cút bắt

Hãy cười cùng tôi

Hãy nắm tay tôi

Hãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lại

Gặp lại hôm nay

Gặp lại ngày mai

Chúng ta sẽ gặp nhau nơi suối nguồn

Chúng ta sẽ gặp lại nhau trên muôn vàn nẻo sống.”

Kết Thúc Quyển 'Sợ Hãi' - Quay Về Mục Lục



..............................

0 Đánh giá

Ads Belove Post