Chương 9. Dấu hiệu chán chường mệt mỏi của con người

Chương 9. Dấu hiệu chán chường mệt mỏi của con người

Price:

Read more

Osho - Thiền - Con đường nghịch lý (Tập 1)
Chương 9. Dấu hiệu chán chường mệt mỏi của con người


Một học tăng đến kiếm vị Thiền sư thầy mình để nhờ giúp đỡ về một công án cổ điển mà ông đang tập trung giải quyết: "Ý nghĩa của việc Bồ Ðề Ðạt Ma đến từ Phương Tây là gì?"
Vị Thầy bảo rằng trước khi đi vào vấn nạn này, vị học tăng nên lạy ông một cái lạy thật sâu.
Trong khi vị học tăng đang thực hiện nghi lễ, ông Thầy nhanh chân phóng cho ông một cú đá đích đáng.
Cú đá bất ngờ này đã giải quyết tất cả những mối mê mờ từ lâu đã làm cho ông lúng túng. Khi té nhủi xuống chân vị Thầy, ông ta hoát nhiên đạt ngộ.
Sau này gặp bất cứ ai ông cũng nói: "Từ khi nhận được cái đá của Mã Tổ, tôi đã không thể nào nhịn được cười."
Một câu chuyện ngụ ngôn cổ điển...
Chuyện xưa kể rằng có một người cố đi qua những rặng núi để tìm cho được điểm tận cùng của thế giới. Ông này chắc phải là một đại triết gia -những triết gia được biết thường có những ý tưởng rất điên rồ. Ðâu có nhu cầu phải mở một cuộc tìm kiếm quy mô để tìm cho được điểm tận cùng của thế giới, trong khi thế giới vẫn tươi đẹp xiết bao. Ðâu có nhu cầu phải đi tìm cho được điểm bắt đầu và điểm tận cùng.Khoảng giữa tuyệt diệu như thế -tại sao lại không tận hưởng nó?
Tuy nhiên đây là một đại triết gia. Y không cảm thấy hạnh phúc ở ngay chỗ này. Triết gia chẳng bao giờ cảm thấy hạnh phúc ở đây. BÂY GIỜ không phải là thời gian của họ và Ở ÐÂY không phải là không gian của họ. Họ sống ở một nơi nào đó, họ sống ở một nơi khác.
Y rời bỏ gia đình -vợ con, cha mẹ - để lên đường thực hiện cuộc tìm kiếm điên rồ này, điểm tận cùng của thế giới. Y đã vượt qua không biết bao nhiêu núi non, biển cả. Ðây là một cuộc hành trình rất lâu dài mà có không biết bao nhiêu lần y tưởng rằng mình đã đạt đến. Bất cứ lúc nào bắt đầu thấm mệt y lại nghĩ rằng mình đã đến đích. Bất cứ lúc nào kiệt sức, y lại tự lừa dối mình như thế. Tuy nhiên không sớm thì muộn, sau khi nghỉ ngơi đầy đủ, y lại nhìn rõ vấn đề và cái ý tưởng cũ lại bắt đầu dai dẳng: chưa đến được điểm cuối, y vẫn còn ở khoảng giữa -bởi vì khi nhìn xa về phía trước, chân trời vẫn còn hiện ra ở đó, vẫn xa xôi như trước đây. Thế là y lại bắt đầu tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Cứ tiếp tục như thế y nhận ra rằng bất cứ lúc nào y nghĩ rằng mình đã đạt đến đích thật ra chỉ là sự tự lừa dối mình. Và một khi y biết được sự lừa dối -tự dối mình, cuộc hành trình càng trở nên khổ nhọc hơn -bởi vì có khi y cảm nhận rằng mình đã đi đến đích, nhưng trong tận cùng sâu thẳm nhất y vẫn biết rằng đó chỉ là sự lừa dối. Thế là y lại phải tiếp tục lên đường.
Trên cuộc hành trình này y đã đi qua không biết bao nhiêu đền thờ, gặp không biết bao nhiêu những vị thầy -những người đã đạt đến và những người tưởng là mình đã đạt đến. Tất cả họ đều cho rằng họ là điểm tận cùng của thế giới. Thế thì y còn đi đâu nữa làm gì? Y tin vào họ, ở lại với họ một thời gian nhưng rồi sớm hay muộn mọi ảo tưởng đều tan vỡ. Những người này -những vị thầy- cũng chưa có ai đi đến điểm tận cùng. Và những đền thờ này cũng chỉ là những biểu trưng cho sự mệt mỏi của con người, những hạn chế, những giới hạn của kiếp người -những giới hạn của tâm thức, lý trí và cảm thọ. Thế nên đây vẫn không phải là điểm tận cùng. Và rồi y đã phải bắt đầu lên đường tiếp tục cuộc hành hương.
Câu chuyện kể rằng trải qua không biết bao nhiêu kiếp -có thể là a tăng tỳ kiếp- cuối cùng y đã đến được một nơi trông có vẻ như là điểm tận cùng. Ðặc biệt lần này y đã không cảm thấy mệt mỏi, không bị kiệt sức và như vậy không có dấu hiệu gì là y đã tự dối gạt mình. Hơn thế nữa, ở đây không có đền thờ, không có ai là thầy, tuyệt đối chỉ có một mình y. Và cái đường chân trời cũng bỗng dưng biến mất. Ðã không còn một mục tiêu nào khác nữa. Ngay cả bây giờ nếu muốn tiếp tục cuộc hành trình y cũng không còn phải biết đi đâu. Y đang đối đầu với khoảng không vô tận.
Dĩ nhiên cũng có một tấm bảng viết rằng: "Ðây là điểm tận cùng của thế giới", mà ai đó đến trước do lòng từ bi đã dựng lên cho bất cứ ai dám đến chốn này.
Người đàn ông đứng đó, trên bờ vực của thế giới -trên một chót đỉnh cao mà bên ngoài không còn gì khác hơn là một khối hỗn mang, là tánh không, là một trống không vĩ đại, một con số không mịt mù. Dĩ nhiên y cảm thấy kinh hoàng. Y đã không bao giờ tưởng tượng ra khối hỗn mang này -có nghĩa là nếu bạn đi đến điểm tận cùng, hoặc cũng có thể là điểm khởi đầu, bạn sẽ phải đụng đầu với một khối hỗn mang như thế. Y đã không hề nghĩ đến chuyện này, một chuyện khá bất ngờ. Không hề có Chúa hay có Phật ở đây, không có niết bàn, không có thiên đàng -chỉ là một khối hỗn mang, hoàn toàn hỗn mang, trống rỗng. Bạn có thể hình dung ra y đang đứng trên cái mỏm đá cuối cùng, không ngớt run rẩy, lảo đảo như một chiếc lá trong ngày gió lớn.
Y đã không thể bước thêm một bước nào nữa. Y quá kinh hoàng đến độ nhảy lùi lại đàng sau để thoát thân, nhảy trở lại cái thế gian này, quên cả việc nhìn những gì ở phía bên kia tấm bảng. Dĩ nhiên ở phía bên kia cũng có một thông điệp. Ở bên này tấm bảng viết: "Ðây là điểm tận cùng của thế giới", còn ở phía bên kia ghi: "Ðây là điểm khởi đầu của một thế giới khác."
Nhưng vì quá kinh hoàng y đã quên rằng phía bên kia của tấm bảng có thể cũng chứa một thông điệp nào đó. Y chỉ nghĩ đến chuyện đào thoát, đào thoát ngay lập tức. Y không dám quay đầu nhìn lại. Y trở về lại với thế giới này, với thế gian, và rồi chìm ngập vào với những hệ lụy của cuộc sống đời thường không còn nhớ đến chuyện xưa, cơn ác mộng về mỏm núi cheo leo kia cũng đã xoá nhòa.
Bạn có thể là người đàn ông đó. Ðây là cảm nghĩ chân thật của tôi về mọi người. Bạn đã sống ở đây qua bao thời đại đến vĩnh cữu. Không thể nào lại không có chuyện trong một khoảnh khắc nào đó chính bạn đã đi ngang qua cái tánh không này. Không thể nào không có chuyện trong một khoảnh khắc nào đó bạn đã đi đến điểm tận cùng của thế giới. Và cũng giống như người đàn ông kia, bạn đã nhảy lùi lại, đào thoát. Bởi vì nó quá đổi kinh hoàng, quá dễ sợ. Thế nhưng nếu bạn mạnh dạn bước tới một bước nữa bạn sẽ trở thành người giác ngộ -chỉ thêm một bước nữa thôi, một bước đơn thuần.
Giáo lý của Thiền không có gì khác hơn là những lời dạy làm sao để bước thêm một bước, một bước nhảy vào tánh không. Cái tánh không đó chính là niết bàn, là Thượng Ðế. Cái khối hỗn mang đó không phải chỉ là khối hỗn mang -đó chỉ là một phía của tấm bảng. Ở phía bên kia cái khối hỗn mang kia là cả một biển sáng tạo. Những vì sao đã được khai sinh ra từ những khối hỗn mang này. Những sáng tạo xảy ra từ những hỗn mang. Hỗn mang chỉ là một mặt của cùng một năng lượng. Hỗn mang là tiềm năng sáng tạo. Tánh không là bề mặt bên kia của cái tất cả.
Thiền là một bước đơn thuần -hành trình của một bước đơn thuần. Bạn có thể gọi đó là bước cuối cùng hay cũng có thể là bước đầu tiên, điều đó không có gì quan trọng. Ðây là cái đầu tiên và cũng là cái cuối cùng - alpha và cũng là omega. Toàn bộ giáo lý của Thiền chỉ bao gồm một điểm: bằng cách nào để làm một bước nhảy vào tánh không; làm cách nào để vươn tới điểm tận cùng của tâm thức bạn -cũng là điểm tận cùng của thế giới; làm sao để đứng vững trên chóp đỉnh kia và đối mặt với vực thẳm mà không hề sợ hãi; làm sao để thu hết can đảm và làm một bước nhảy cuối cùng. Như nhảy vào nổi chết. Như một hành động tự sát. Thế nhưng chính từ chỗ tự sát này mà tâm linh lớn dậy, và cũng chính từ chỗ bị đóng đinh trên thập giá đã dẫn đến sự phục sinh.
Nếu bạn hiểu thấu vấn đề, thì cái biểu tượng của cây thập giá, biểu tượng của người Cơ Ðốc, có thể mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thập giá -và đó cũng tức là cái chóp đỉnh. Trong khoảnh khắc cuối cùng ngài cũng sợ hãi như người đàn ông kia. Và ở cái khoảnh khắc cuối cùng đó ngài ngước nhìn lên trời kêu lớn tiếng rằng, "Ðức Chúa Trời đang làm gì với tôi đây? Ðức Chúa Trời tôi ơi! Ðức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?" Một nỗi run sợ rất người, một nỗi thống khổ lớn lao. Ðối diện với cái chết, đối diện với sự hủy diệt.
Nhưng rồi Ngài đã thu hết can đảm. Ngài hiểu những gì mà mình sắp làm. Ngài đã cố trốn lánh vào với thế gian, ngài đã cố trốn lánh vào tâm thức. Tâm của ngài đã bắt đầu làm việc -"Ðức Chúa Trời đang làm gì với tôi đây?" Ðây là lời thống trách với Thiên Chúa. "Ðức Chúa Trời tôi ơi! Ðức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?" Hình như có một cái gì đó đang đi ngược lại những trông chờ của Chúa Giêsu. Ngài đã hiểu được điều này. Ngài là người cực kỳ thông minh. Nhìn sâu vào đó Ngài không khỏi bật cười cho sự khờ khạo của chính mình. Ta đã nói gì với Thiên Chúa vậy?
Thế rồi chỉ trong một khoảnh khắc, đã có sự chuyển hoá... Ngài thư giãn và thốt lên, "Nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện." Ngài thư giản. Ðây chính là bước cuối cùng. Ngài đã chết và đã được phục sinh -trong một tâm thức mới, một sinh thể mới.
Khi bạn chết trong tâm thức bạn được sinh vào cõi ý thức. Khi bạn chết trong thể xác bạn được sinh vào một cái thể xác phổ quát. Khi bạn chết như là bản ngã bạn được sinh ra như một Thượng Ðế, như là Thượng Ðế. Khi bạn chết trong cái lãnh địa nhỏ bé của mình, bạn trải rộng ra cùng vạn hữu -chính bạn cũng trở thành cái vạn hữu đó.
Thế nên cái bước quan trọng này cần phải được thấu hiểu và tôi xin được lập lại lần nữa: điểm cuối của tâm cũng là điểm tận cùng của thế giới -bởi vì Thiền gia nói rằng thế giới do tâm tạo. Bình thường, chúng ta nuôi dưỡng cái tâm, chúng ta củng cố cái tâm, chúng ta làm cho nó trở nên có khả năng, thiện xảo, hữu hiệu. Ðó chính là những gì mà chúng ta đang làm trong các trường học, trường cao đẳng, đại học. Ðó là những gì mà chúng ta gọi là giáo dục, học vấn.
Thiền là sự giải trừ giáo dục, giải trừ học vấn. Nó dạy bạn cách làm thế nào để quẳng bỏ những gì mà bạn đã học được, trở lại là người không còn kỷ năng thiện xảo, trở lại như một đứa trẻ thơ, làm thế nào để bắt đầu hiện hữu trở lại như kẻ không tâm, ngay tại đây và không mang một cái tâm nào cả.
Tâm mang đến cho ta đủ loại khổ nạn. Trước tiên: Tâm không bao giờ an trú ở hiện tại, nó luôn đánh mất hiện tại. Thế nhưng chỉ có hiện tại mới hiện hữu. Cái tâm luôn an trú ở quá khứ -luôn luôn và luôn luôn ở quá khứ. Hoặc luôn luôn an trú ở tương lai -luôn luôn và luôn luôn ở tương lai. Cái tâm cứ tiếp tục nhảy tới nhảy lui từ quá khứ đến tương lai, từ tương lai đến quá khứ. Nó không bao giờ chịu dừng lại NGAY BÂY GIỜ và TẠI ÐÂY. Tâm chẳng khác gì cái quả lắc của chiếc đồng hồ -nó cứ tiếp tục di chuyển từ cực này sang cực khác mà không bao giờ chịu đứng yên ở ngay quảng giữa.
Thiền khẳng định rằng ta phải làm sao loại trừ được chiếc bẩy sập của quá khứ và tương lai này -bởi vì cánh cửa chỉ được mở ra trong thời hiện tại, cánh cửa chỉ được mở ra ngay trong khoảnh khắc này, ngay BÂY GIỜ hoặc là KHÔNG BAO GIỜ. Và cánh cửa đã được mở ra nhưng đôi mắt của ta cứ mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm. Chúng ta cứ mãi nhìn vào quá khứ, chúng ta cứ mãi nhìn vào tương lai trong khi cái hiện tại nằm ở giữa cực kỳ nhỏ bé mà chúng ta không hề nhìn thấy.
Thiền khẳng định rằng trừ phi bạn buông bỏ cái tâm, bạn sẽ không bao giờ hoà điệu được với vạn hữu, bạn sẽ không thể nào rung lên cùng một nhịp đập của vũ trụ. Nếu bạn không buông bỏ cái tâm, bạn sẽ cứ mãi tiếp tục sống trong cái thế giới riêng tư do bạn tạo ra; bạn không bao giờ sống trong thế giới của thực tại, bạn vẫn mãi hoài u mê -idiotic.
Ðó chính là ý nghĩa của chữ 'idiot'. Idiot có nghĩa là sống trong cái thế giới riêng tư biệt lập của mình. Một tên xuẩn động bao giờ cũng sống trong cái thế giới riêng tư của y. Y có ngôn ngữ riêng. Y có cung cách riêng và tự nhốt mình trong cái cung cách riêng biệt đó. Y không bao giờ chịu theo cái chung, cái đã lưu tồn. Y cứ mãi tiếp tục phóng chiếu những ý tưởng riêng của mình. Tâm là tên xuẩn động ... cho dù có thông minh đến mức nào, hãy nhớ như vậy. Tên xuẩn động có thể rất là thông minh, có thể là một nhà chuyên môn, có thể tích lũy rất nhiều kiến thức, có thể có rất nhiều bằng cấp -Tiến sĩ, Thạc sĩ, v.v... - nhưng xuẩn động vẫn là xuẩn động. Chẳng có gì khác biệt cả. Tên xuẩn động chỉ có thể trở thành nguy hiểm hơn.
Trí tuệ không đến từ tâm. Trí tuệ chỉ phát khởi khi nào tâm đã bị liệng bỏ. Khi tâm bị dẹp qua một bên, trí tuệ hiện khởi. Tâm như một viên đá tảng chặn đứng suối nguồn trí tuệ. Tâm luôn luôn là một thứ đồ tồi, ngu xuẩn, thiếu trí tuệ. Hiện hữu gắn liền với tâm là một hiện hữu thiếu trí tuệ. Hiện hữu vượt ra ngoài tâm là một hiện hữu trí tuệ. Trí tuệ không hề là phẩm chất của tâm.
Tất cả nỗ lực của thiền định là đi tìm kiếm cái trí tuệ này -làm thế nào để giải trừ học vấn, làm thế nào để giải trừ kiến thức, làm thế nào để giải trừ tất cả cái quá khứ tích lũy của bạn. Một khi đã được tích lũy, nó càng trở nên rất khó khăn để giải trừ, và mỗi ngày nó lại càng lớn mãi thêm ra. Sự chồng chất cứ tăng dần. Gánh nặng trên lưng bạn cứ tiếp tục tăng trưởng trong từng khoảnh khắc. Không phải là tuổi tác đã giết chết bạn mà chính là cái gánh nặng này.
Một người không-tâm sống vượt ra ngoài cái chết bởi vì y chết trong từng khoảnh khắc. Y không hề tóm thu, y không hề nhìn lại đằng sau, y không hề nhìn về phía trước -y an trú ngay tại đây, y an trú ngay tại đây cùng với tiếng gáy "cúc-cu" của con chim cu ở ngoài kia. Y an trú ngay tại đây. Cái sinh thể của y hiện hữu ở ngay khoảnh khắc này. Y tuôn chảy trong từng khoảnh khắc. Y không hề bị đóng băng, không bị nhốt cứng vào quá khứ. Sự thực, y không có quá trình và cũng không hề mơ mộng về tương lai. Y sống như là đang sống.
Thiền cũng khẳng định một điều rằng tâm có thể hữu dụng cho thế gian nhưng không hề ích lợi gì đối với thực tại rốt ráo. Tâm hữu dụng cho cuộc sống đời thường nhưng thực tại tuyệt đối thì không. Thực tại rốt ráo là không thể nghĩ bàn bởi vì nó ở dưới và vượt ra ngoài trí tưởng. Bạn chính là cái thực tại rốt ráo đó thì làm sao mà bạn suy tưởng về nó được? Trước khi trí tưởng có mặt bạn đã là nó rồi. Trí tưởng chỉ mới được thêm vào sau này. Khi một đứa trẻ được sinh ra -nó là một thực tại rốt ráo. Rồi theo thời gian, trí tưởng xuất hiện dần; nó sẽ bắt đầu tích lũy kiến thức; nó sẽ bắt đầu viết đủ thứ lên trang sách đời của mình. Và rồi nó sẽ trở thành một người có kiến thức -biết cái này cái nọ- sẽ được gắn chặt với một cái danh hiệu nào đó, một bác sĩ, kỹ sư hay giáo sư... Thế nhưng cái giây phút mới sinh ra đời, nó là một tỉnh thức, mới mẻ, một trang giấy trắng chưa hề được viết lên chữ nào, ngay cả cái tên của chính mình. Nó không tên không tuổi và không hề có ý niệm mình là ai.
Ðây là sự trong sáng thơ ngây nguyên thủy, và đó chính là bản thể rốt ráo của chúng ta. Cái bản thể rốt ráo này hiện hữu trước và sau trí tưởng. Không phải là nó biến mất khi trí tưởng xuất hiện, nó chỉ bị che mờ -cũng giống như mặt trời bị bao quanh bởi quá nhiều đám mây, những đám mây đen. Ta tưởng như mặt trời biến mất. Chúng ta không bao giờ mất cái bản thể rốt ráo của mình, không thể nào. Ðó là ý nghĩa của bản thể rốt ráo -nó không thể bị mất. Ðó là cái bản tánh sâu sắc nhất của chúng ta. Không cách gì để mất được nó. Thế nhưng nó có thể đã bị những đám mây mờ bao phủ. Ngọn lửa có thể bị khói che và ta tưởng rằng đã mất ngọn lửa. Mặt trời có thể bị mây che khiến ta có cảm tưởng như đang ở trong đêm đen. Tình huống là như thế. Chúng ta hiện hữu trước khi có trí tưởng, đồng thời và sau khi nó biến mất -chúng ta luôn hiện hữu ở đó. Thế nhưng khi trí tưỏng xuất hiện, quả là điều khó khăn để biết rằng ta là ai, cái ý thức này đích xác là gì. Trí tưởng đã làm cho phân tâm, một loạn động.
Chỉ khi nào trí tưởng không còn có mặt ở đó ta mới có thể nối lại mối liên lạc với cái bản thể rốt ráo này. Còn nếu như chúng ta cứ suy nghĩ về nó, chúng ta cứ việc suy nghĩ suốt đời nó vẫn tránh né trí tưởng. Nó vẫn tiếp tục tìm cách tuột ra ngoài. Rồi khi thấy rằng suy nghĩ mãi cũng chẳng dẫn đi đến đâu, nó tự động ngưng lại.Nếu một người cứ tiếp tục suy nghĩ cho đến tận cùng, trạng thái ngưng suy tưởng sẽ tự động xuất hiện. Sự chấm dứt suy tưởng sẽ đến một cách rốt ráo và tự nhiên -đó là những gì mà Thiền đề xuất.
Phương pháp của Thiền được gọi là công án. Ðây là một phương pháp rất đặc biệt, một công hiến lớn lao nhất của Thiền cho thế gian này. Công án là một phương pháp đặc biệt của Thiền cũng giống như những phương pháp khác của các trường phái khác -cụ thể như, thiền minh sát, tuệ giác, đều là những phương pháp của Ðức Phật mà Ngài đã cống hiến cho thế gian -sự chú tâm cao độ. Jalaluddin, môt bậc thánh của giáo phái Sufi, cũng đã cống hiến một phương pháp khác -sự thẩm thấu, hòa nhập vào Thượng Ðế, đánh mất giác quan cuả một sinh thể. Sufi cũng còn nhiều phương pháp khác -jikra chẳng hạn, sụ nhớ tưởng đến danh hiệu của Thượng Ðế hay là quay về, xoáy vào. Những phương pháp này rất giống với tư thế Patanjali của yoga -một cống hiến đặc biệt khác. Tất cả những tôn giáo lớn đều có những cống hiến cách này hay cách khác.
Cống hiến đặc biệt của Thiền là công án. Công án là một loại câu đố bí hiểm, một loại câu đố rất đặc biệt -một loại câu đố mà xem chừng như không thể nào giải đáp được, đặc biệt là giải đáp theo cách thức thông thường. Bạn cứ việc tiếp tục suy nghĩ. Bạn cứ vẫn phải suy nghĩ, đào sâu, và không ngừng quán tưởng về nó.
Hãy lấy một thí dụ, một thiền sinh nhận được một công án là quán tưởng về tiếng vỗ của một bàn tay. Nhưng một bàn tay thì không thể nào vỗ được -thế là ngay từ khởi thủy, lời giải xem như đã bị chặn lại, đã bị bác khước. Một bàn tay không thể nào gây ra tiếng vỗ. Muốn vỗ phải cần tối thiểu hai bàn tay. Vỗ có nghĩa là hai cái chạm vào nhau, nó cần một sự xung đột, nó không thể nào xảy ra với chỉ một bàn tay.
Câu đố, như thế, đã đưa ra một vấn đề không thể giải quyết. Ðây không phải là loại câu đố thông thường mà người ta chỉ cần bỏ thời gian ra suy nghĩ là có thể tìm ra lời giải đáp, không phải như vậy. Lời giải đáp không hề hiện hữu. Nó đã bị phủ định ngay từ lúc ban đầu. Một công án thường được kết cấu theo cách thức như thế để cho tâm của bạn không có cách gì nghĩ về nó được. Thế nhưng bạn bị buộc phải suy nghĩ về nó.
Thế là thiền sinh cứ phải ngồi thiền và tiếp tục suy nghĩ. Y chỉ có một việc duy nhất là suy nghĩ, suy nghĩ và suy nghĩ. Tháng này tiếp nối tháng kia và y bắt đầu khùng lên thấy rõ -tiếng vỗ của một bàn tay? Thế rồi y mang đến trình Thầy không biết bao nhiêu là kiến giải và chắc chắn là sẽ bị ông Thầy cho ăn đòn. Ðiều này cũng khá đặc biệt trong Thiền. Với tâm từ lớn lao, ông Thầy thấy rằng nếu đánh mà có thể giúp được cho học trò là ông cũng đánh ngay. Nếu ông Thầy cảm thấy cần đá, ông ta cũng sẽ sẵn sàng đá liền. Hoặc giả nếu ông Thầy thấy cần phải liệng người học trò qua khỏi cửa sổ, ông cũng không ngần ngại làm chuyện đó. Ông ta sẽ làm tất cả mọi chuyện mà ông nghĩ là có thể giúp cho người học trò đạt ngộ. Những hành động của ông thường là không hề chuẩn bị trước -ông ta nhìn suốt vào người học trò và bất cứ chuyện gì xảy ra trong tâm thức của y, ngay trong khoảnh khắc đó, ông liền ra tay tức thời. Thái độ của ông Thầy tuyệt đối sẽ không bao giờ biết trước.
Một vị Thiền sư thường rất khó đoán trước việc ông ta sẽ ứng xử ra sao. Nếu bạn đến với một ông swami Ấn giáo, bạn có thể dự đoán được những gì xảy ra. Nếu bạn nêu một câu hỏi, bạn cũng có thể đoán biết được phần nào câu trả lời. Ông ta sẽ trích dẫn kinh Vệ Ðà, Upanishads, chẳng khác gì một con vẹt. Bạn có thể biết trước được câu trả lời của ông ta. Với một vị Thiền sư thì không như thế. Nếu bạn đến với một vị Thiền sư bạn sẽ không bao giờ biết trước được chuyện gì sẽ xảy đến. Không ai có thể biết trước được. Ngay cả sau hàng ngàn năm, họ cũng vẫn có cái thái độ đột xuất đó cho nên không có gì có thể nói trước được về chuyện họ sẽ phản ứng như thế nào trước câu hỏi, câu trả lời của bạn. Môn đồ thì thường đưa ra rất nhiều kiến giải. Nhưng những kiến giải của họ cũng chỉ thuộc loại bình thường -bởi vì hầu như không thể có lời giải đáp cho một công án.
Thế nên thỉnh thoảng ngay cả khi chưa kịp nghe những kiến giải mà môn sinh mang lại, ông Thầy đã tặng cho học trò một trận đòn.
Có một lần xảy ra... Một anh môn sinh đến gặp Thầy. Trong suốt ba tháng qua mỗi ngày anh ta đều mang đến trình Thầy một vài kiến giải về công án. Hôm nay anh ta mang đến Thầy lời giải đáp rằng anh ta sẽ đập tay mình vào bức tường. Dĩ nhiên đây cũng không thể là lời giải đáp. Anh ta cũng vẫn cần đến hai -bàn tay và bức tường- tuy rằng không phải là hai bàn tay nhưng đây cũng không phải là trọng điểm của công án. Và anh ta lại bị ăn đòn.
Câu chuyện cứ tiếp tục như thế... Mỗi ngày anh ta đều trình lên Thầy một kiến giải mới, cách này hay cách khác. Lần nào anh ta cũng tưởng là kiến giải này sẽ là lời giải đáp, nhưng không. Ba tháng lại tiếp tục trôi qua và lần này anh ta đến gặp Thầy, hoàn toàn im lặng không nói một lời nào cả. Lần này ông Thầy lại tặng cho anh một cái tát đích đáng. Anh ta ngạc nhiên: "Bạch Thầy, con chưa nói gì cả mà!" Vị Thầy trả lời: "Như vậy sẽ muộn rồi. Nếu ngươi nói cái gì đó, nó sẽ muộn quá rồi."
Ngày hôm đó, có một cái gì đó đã xảy ra cho người môn sinh. Anh ta đã không hề nói gì cả. Trước đây, mỗi ngày anh ta đều đã nói một cái gì đó và dĩ nhiên, bị đánh -đây là điều hợp lý. Bởi vì anh ta đã nghĩ rằng bất cứ điều gì mình nói ra đều sai lầm cả, thế nên mới bị ông Thầy đánh. Bây giờ thì cái lý do đó không còn nữa. Anh ta đã không nói một lời nào -tức là không còn sợ bị sai lầm- nhưng lần này vẫn cứ bị ông Thầy đánh, coi bộ còn nặng hơn. Thật là hoàn toàn vô lý, tuyệt đối vô lý. Bây giờ thì tâm của anh ta không thể nào đương đầu nổi nữa.
Khi cái tâm không còn đương đầu nổi với một cái gì đó, nó buông xuôi. Khi cái tâm cho thấy là bất lực về một vấn đề gì đó, nó buông xuôi.
Công án là câu đố bí hiểm không lời giải đáp -thế nhưng bạn bị buộc phải quán tưởng về nó. Bạn phải vật lộn với nó trong một thời gian -sáu giờ, tám giờ, mười giờ, mươi hai giờ, có khi mười tám giờ- người môn sinh chỉ ngồi đó nghiền ngẫm, nhìn vấn nạn trên mọi góc cạnh, mọi khả năng; cố gắng tìm cách nhập vào bằng ngỏ này hay ngỏ khác. Từ mọi hướng nhìn, thông qua các chiều kích khác nhau, y cố gắng giải quyết cái vấn nạn, tìm kiếm lời giải đáp. Y đến trình Thầy, và rồi bị quăng ngược trở lại với chính mình... Cái gì sẽ xảy ra?
Ngày qua ngày, những lời giải của y sẽ cạn kiệt dần. Tất cả những gì có thể là đáp số y đều đã nghĩ qua. Bây giờ có vẻ như không còn một lời giải đáp nào nữa, không còn một nơi nào để đi đến nữa. Vào cái ngày đó, y nhìn vào cái bài toán bí hiểm và chẳng còn thấy một ý tưởng nào khơi dậy ở trong đầu. Ðây chính là lằn mức -khi bạn đang nhìn vào công án và không còn một ý tưởng nào trổi dậy. Và khi không còn một ý tưởng nào khởi dậy bạn có thể nhìn xuyên suốt vào công án -đó chính là sự phi lý.
Vâng, đúng thế. Trước đây rất nhiều lần bạn cũng đã có cảm giác rằng đó là sự phi lý -thật ra, bạn đã biết hai năm rõ mười rằng đó là chuyện phi lý, rằng nó không thể nào có được lời giải đáp- nhưng đó là cái biết đến từ tâm bạn, không phải từ tuệ giác. Ðó là giải đáp của tâm bạn -rằng, nó không thể nào giải quyết được, tại sao lại phải bận tâm? Hãy quẳng nó đi. Hãy quên nó đi. Nó sẽ không bao giờ được giải quyết. Nhưng đây cũng là chuyện của tâm. Cho đến một ngày, khi cái tâm không còn gì để lên tiếng, khi nó ngưng hoạt động vì mọi nguồn mạch hoàn toàn cạn kiệt, khi nó mất đi tất cả những sở trường chuyên môn, tất cả những hiệu năng của nó, khi mà tất cả những gì là thông minh của nó cho thấy chỉ là vô dụng, lúc đó cái tâm biến mất. Trong cái lỗ hổng đó... tuệ giác. Trong cái lỗ hổng đó bạn nhìn xuyên suốt vấn đề, bạn chứng nghiệm lần đầu tiên. Trong cái lỗ hổng đó, suy nghĩ không còn có mặt nhưng tuệ giác xuất hiện -đó chính là điểm thăng hoa.
Khi suy tưởng ngừng và tuệ giác xuất hiện, khi ý tưởng biến mất và mọi sự trở nên trong suốt là lúc bạn có thể thấy được chân lý không phải là một cái gì đó có thể nghĩ bàn, chân lý phải được nhìn thấy. Ðó là lý do tại sao chúng ta gọi những người đạt đến chân lý là những kẻ giác ngộ -không phải là những nhà tư duy. Họ đã được thấy vấn đề. Họ đã nhìn xuyên suốt vào đó chứ không phải là suy nghĩ về nó -họ không phải là những đại triết gia, những nhà luận lý. Họ là những người không tâm, họ vượt ra ngoài tâm. Họ nhìn một cách trực tiếp. Không có một ý tưởng nào chen lẩn giữa họ và thực tại. Thực tại là gì, nó sẽ được phơi bày ra y như thế, như thị. Tâm của họ không còn ở đó để thực hiện chức năng thông qua tư duy. Tâm sẽ không còn gợn lên những làn sóng lăn tăn mà là một tấm gương trong suốt. Nó chỉ đơn thuần phản chiếu; dội lại nguyên dạng những gì được soi.
Nếu một người còn có một cái gì đó để suy tưởng thì chưa phải là một kết thúc đích thực. Nếu bạn nghĩ rằng vẫn còn lại một cái gì đó để nghĩ đến thì đây không phải là điểm cuối thực sự, tâm vẫn sẽ không chịu bỏ đi. Bạn không thể làm công việc đó một cách cố ý; bạn không thể nói rằng, "OK, nếu không còn gì để có thể suy nghĩ nữa tôi sẽ để tâm của tôi qua một bên và sẽ cố gắng để nhìn." Bạn không thể nào làm được như vậy. Cái tâm vẫn còn ở đó. Ðiều này phải để cho tâm tự làm lấy và bất cứ cái gì do tâm thực hiện chỉ củng cố nó thêm. Nếu bạn vẫn còn một cái gì đó để suy nghĩ, nếu bạn nghĩ rằng tâm của bạn vẫn còn cho bạn những lời giải đáp, và ngay cả một niềm tin mỏng manh còn sót lại trong tâm, thì đấy vẫn chưa là điểm tận cùng thực sự.
Khi một người đi đến điểm tận cùng thực sự, suy tưởng chấm dứt và tuệ giác bắt đầu. Trong tuệ giác này là cả một cuộc cách mạng, một sự thay đổi đến tận gốc rễ, là sự đột biến, một sự tỉnh thức.
Cũng giống như khi bạn dùng một cái khoan máy. Bạn có thể hỏi những anh bạn thợ mộc của chúng ta ở đây -Asheesh, Christos, Siddhesh. Thiền gia ví von việc hành thiền cũng chẳng khác gì dùng cái khoan. Bao lâu mà bạn còn khoan được thì có nghĩa là chưa đến điểm tận cùng. Khi nào không còn gặp phản ứng, khi bạn không còn gì để khoan nữa -nó kêu zzzzzzzz- thì đó mới là tới mức. Tôi không phải là thợ mộc nhưng tôi biết nó đã đi xuyên sâu vào trong như thế nào. Tôi chưa hề dùng cái khoan nhưng đây là là cách mà mũi khoan đi sâu vào trong. Và đột nhiên cái khoan không còn gặp sức đối kháng. Thế là không còn gì để khoan nữa. Tư duy trở nên bất lực.
Khi bạn không còn khoan được nữa, có nghĩa là đã tới điểm tận cùng; khi bạn không thể suy tưởng được nữa, điểm cuối đã đạt đến. Lúc đó sẽ không còn lời, không còn ý tưởng, không còn hình ảnh, không còn gì cả, chỉ là tánh không. Bạn đã đến điểm tận cùng của tâm, hay cũng có thể gọi là điểm tận cùng của thế giới. Bạn sẽ đi ngang qua tấm bảng ở đấy có hàng chữ: "Ðây là điểm tận cùng của thế giới" -nhưng tới chỗ đó rồi bạn chớ vội bỏ chạy. Còn có phía bên kia của nó nữa.
Cái phía bên kia mới là thực. Cái phía tận cùng thế giới ở bên này là ảo. Khởi đầu Thượng Ðế là thực. Tận cùng thế giới chỉ có nghĩa là giai đoạn bệnh hoạn kết thúc; ở phía bên kia lành mạnh bắt đầu. Ðây là lần đầu tiên bạn khỏe mạnh thực sự, là một tổng thể, thánh thiện.
Thế nên đừng bỏ chạy. Ðây là một kinh nghiệm kinh hoàng. Khi cái mũi khoan của tâm không còn khoan được nữa thì quả là một mối kinh hoàng. Từ lâu bạn đã quá gắn bó với tâm đến độ bạn nghĩ rằng tâm với bạn là một. Thế nên bây giờ cái tâm không còn làm việc nữa, không thể hoạt động nữa, bạn cảm thấy như mất mát cái gì -"Phải chăng ta đã khùng rồi hay cũng gần như thế?"
Vâng, nó gần giống như khùng. Tôi nói 'giống như khùng' thế nhưng nó không tương tự, không giống y hệt như khùng. Khi khùng, tâm vẫn tiếp tục làm việc. Thật ra, khi khùng tâm còn hoạt động hơn mức bình thường -nó làm việc không ngưng nghỉ trong suốt hai mươi bốn tiếng. Nó bắt đầu hoạt động một cách nghịch lý. Nó trở nên khác thường. Nó không còn ở trong vòng luận lý, lý trí, ngay cả không theo những gì mà người ta gọi là hợp lý. Cái tâm đó như tỏa ra khắp mọi hướng; nó trở nên mâu thuẫn, nó mất hết tất cả những mối liên hệ với thực tại -nhưng nó vẫn thực hiện chức năng của mình. Hãy để ý điểm này: người khùng có cái tâm phong phú hơn là của bạn. Thế nên bạn sống với tâm mình quá mức, một ngày nào đó bạn cũng sẽ phát khùng. Người khùng chỉ đứng ở trước bạn một tí trong cái hàng người sắp hàng nối đuôi đó. Họ đã dùng đến cái tâm quá nhiều hơn là bạn. Họ đã sử dụng nó tối đa cho nên mới phát khùng. Họ là những người có cái tâm cực kỳ phong phú.
Khi đại ngộ xảy ra hay là khi mũi khoan tâm dừng lại không còn hoạt động nữa, ngay khoảnh khắc đó có thể là bạn có cảm giác mình đang phát khùng; nhưng thực ra sẽ không bao giờ có chuyện như vậy bởi vì khi bạn còn mang một cái tâm thì mới có chuyện phát khùng. Bây giờ không còn tâm nữa thì làm sao bạn có thể khùng được? Vâng, ngay trong khoảnh khắc đó ý tưởng bị phát khùng có thể đến với bạn -cũng dễ hiểu thôi, bởi vì bạn sống gắn bó với cái tâm trong một khoảng thời gian dài, bây giờ bỗng dưng nó ngưng hoạt động. Bạn sẽ rơi hụt hẩng vào một khoảng trống không. Khoảng trống không này rất là kinh khiếp. Nó giống như cái chết. Tự dưng bạn biến mất, mất hết mọi ý niệm về gốc nguồn. Một sự tê liệt hoàn toàn -trong khoảnh khắc đó.
Ðây chính là trọng điểm mà bạn cần một vị Thầy để đẩy bạn vượt qua. Nếu ông ta cảm thấy cần đá, ông ta sẽ đá. Nếu ông ta cảm thấy cần đánh, ông ta sẽ đánh. Nếu cần ôm hôn bạn, ông ta sẽ ôm hôn. Không ai biết trước được. Ngay cả chính vị Thầy cũng không biết được một cách chính xác cái gì cần thiết cho cái khoảnh khắc đó. Chính cái khoảnh khắc đó sẽ quyết định. Rồi chỉ với một cử chỉ nhỏ thế là bạn được đẩy qua bờ. Bạn đã thực hiện bước đầu tiên và cũng là bước cuối. Và một khi bạn đã thực hiện bước nhảy này, thấy rõ được bờ bên kia của hiện tượng và đọc được phía bên kia của tấm bảng, tại khởi điểm này là bắt đầu Thượng Ðế. Bạn an lạc. Không còn một vấn nạn nào.
Mọi vấn nạn đã rời xa. Thật ra, những đầu mối của tất cả mọi vấn nạn -cái tâm của bạn- đã rời xa. Bạn bắt đầu khởi sự sống một đời sống không vướng mắc hệ lụy. Bạn bắt đầu được sống lần đầu tiên.
Tuy nhiên nếu bạn còn tìm kiếm Thượng Ðế, hay Phật, hay Chúa Giêsu hay bất cứ cái gì khác thì như vậy bạn vẫn chưa đến được điểm cuối, hãy nhớ như vậy. Nếu bạn đã tới được điểm này rồi bỗng dưng bạn thấy Chúa Giêsu đứng trước mặt mình ban rải lòng từ và yêu thương của Ngài đến bạn, thì có nghĩa là bạn vẫn chưa đến được điểm cuối cùng thực sự. Tâm của bạn vẫn còn cố gạt gẫm bạn một lần cuối cùng. Hoặc giả bạn trông thấy Krishna với cái ống sáo quen thuộc đang tấu lên một bản nhạc tuyệt vời... Ðây vẫn là những nỗ lực cuối cùng của tâm nhằm cám dỗ, đánh lạc hưóng bạn. Hoặc giả bạn trông thấy Thiên Chúa đang ngự trên chiếc ngai vàng, chung quanh là những thiên thần, thế là bạn lạc lối rồi. Ðây vẫn chưa là điểm cuối thực sự.
Ðây cũng vẫn là những phóng chiếu của ý tưởng. Bạn phải hiểu rõ điều này bởi vì Thiền không dung thứ những chuyện như vậy. Bởi vì nếu bạn còn có một cái gì đó để thấy, có nghĩa là bạn vẫn còn đối tượng để nhắm đến, và như vậy bạn vẫn chưa đến đích thật sự. Vẫn còn một cái gì đó để bạn tiếp tục khoan.
Ðó là lý do tại sao mà Huệ Năng, một vị đại Thiền sư từng nói rằng, "Trên hành trình của bạn, nếu gặp Phật, hãy giết Phật ngay lập tức. Nếu gặp Tổ, Bồ Ðề Ðạt Ma, bạn phải giết Tổ ngay lập tức." -Phùng Phật sát Phật, phùng Tổ sát Tổ.
Không nên có sự khoan dung nào. Cứ tiếp tục khoan tới. Khoan luôn cả Phật. Trừ phi bạn đạt đến tánh không, vẫn cứ phải tiếp tục khoan.
Ở cái đất nước này, đây là điều vô cùng khó khăn bởi vì đất nước này đã từng đạt đến điểm này không biết bao nhiêu lần nhưng rồi vẫn bị kẹt cứng ở đó. Chỉ có một mình Ðức Phật là người đã đi được bước đầu tiên và là bước cuối cùng -chẳng có ai đi đến được điểm cuối ngoại trừ một người. Người ta dừng lại khi thấy Thượng Ðế đứng ở đó tuyệt vời biết bao... Quá đổi tuyệt vời! Ðâu có ân sủng nào bằng khi được thấy Thượng Ðế ban rãi thánh sủng khắp nơi hay thấy kundalini khởi hiện. Ðó là một kinh nghiệm tuyệt vời, quá đổi tuyệt vời, bạn chưa hề trãi qua những gì như thế trước dây. Hoặc giả ánh sáng đang tràn ngập trong bạn, luồng ánh sáng vô tận như có hàng ngàn mặt trời đang chiếu soi cùng một lúc. Những luồng ánh sáng thật huy hoàng, thật chói lọi, thật khó tưởng tượng nổi. Hoặc giả bạn trông thấy đoá sen, một đoá sen ngàn cánh đang nở ra trong huyệt sahastrar của bạn, trong đầu bạn. Bạn như được chuyển nhập vào một thế giới khác.
Nhưng Thiền bảo rằng bạn cứ vẫn phải tiếp tục khoan. Kudalini khai mở, chưa phải là điểm cuối. Bạn trông thấy ánh sáng, chưa phải là điểm cuối. Ðoá sen mở ra, chưa phải là điểm cuối. Vẫn cứ phải tiếp tục khoan. Cho đến khi nào không còn gì để khoan. Những kinh nghiệm vừa qua là một trở ngại bởi vì những kinh nghiệm đó chỉ là những trò chơi do tâm tạo. Mà tâm thì cực kỳ thông minh thế nên nếu nó thấy bạn đang tìm kiếm Thượng Ðế, nó cung cấp Thượng Ðế. Ðó là luật cung cầu. Nếu thấy bạn đang mê đắm Krishna, tâm sẽ mang Krishna đến. Tâm sẽ bảo bạn, "OK. Này đây là Krishna. Hãy giữ lấy." Thế nên chớ vội dừng lại, bằng không bạn sẽ không bao giờ đi được đến đích cuối cùng -bạn lại đánh mất mình trong Krishna lần nữa.
Bởi vì không sớm thì muộn Krishna cũng sẽ ra đi. Khi cái tâm dừng lại, Krishna sẽ không còn. Vấn đề có thể xảy ra như thế này: Bạn trông thấy Krishna với cái ống sáo quen thuộc đang cất tiếng hát cùng với một đàn thiên nữ xinh đẹp tuyệt trần đang nhảy múa chung quanh Ngài, những gopis -thế rồi sớm muộn gì bạn cũng sẽ quên luôn Krishna và phải lòng một cô thiên nữ gopi xinh xắn nào đó. Thế là bạn lại trở lại thế gian. Bạn lại trở về nhà.
Cái tâm rất thông minh lém lỉnh nên khi nó đối diện với một vấn đề sinh tử của chính nó -khi bạn nhập thiền, đó là vấn đề sinh tử của nó- cái tâm sẽ cố gắng tìm mọi cách để tự bảo vệ mình. Ðó là vấn đề sống còn. Cho nên đừng bao giờ lắng nghe nó.
Ngài Huệ Năng dạy rằng, "Các ngươi thường được dạy là hãy quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nhưng ta bảo các ngươi rằng phải tự quy y chính mình." Nếu bạn quy y Phật thế rồi Phật sẽ khởi hiện ra như một đoá hoa sen -thật tuyệt vời, thật cực kỳ tươi đẹp, thật thanh thoát, thật thánh thiện- và ngài Huệ Năng bảo, "Hãy giết ông ta ngay lập tức." Không nên chậm trễ một phút giây nào cả bởi vì Huệ Năng lo rằng bạn có thể sẽ lạc lối. Hãy tiêu diệt ông ta. Hãy từ biệt ông ta ngay tức khắc. Hãy nói rằng, "Rất cảm ơn, nhưng làm ơn đừng cản lối tôi." "Ðừng quy y Phật," đó là câu nói của ngài Huệ Năng, một đệ tử của Phật gia. "Ðừng quy y Pháp, dharma. Ðừng quy y Tăng, sangha. Ta bảo các ngươi rằng, hãy quy y chính mình."
Khi bạn được bỏ lại trơ trọi một mình, hoàn toàn một mình, bạn sẽ đến bến bờ. Một khi còn một cái gì khác, có nghĩa là vẫn còn đối tượng, như vậy bạn sẽ không bao giờ đạt đến. Bạn vẫn còn ở trong nhị nguyên. Nó vẫn tìm một cách thế mới mẻ để sinh tồn. Khi chỉ còn lại một, lúc đó bạn sẽ đến bến bờ -thế nên hãy quy y chính mình.
Ngài Huệ Năng dạy tiếp, "Lời khuyên của ta với các ngươi là, vô tác, yên nghĩ. Ngay cả cái lão mắt xanh man di mọi rợ Bồ Ðề Ðạt Ma kia có đến đây, ông ta cũng dạy các ngươi chừng đó chuyện -vô tác. Mặc y phục, ăn uống, đi cầu -như thế. Không chết, nên không sợ hãi, bởi vì có ai đâu mà chết. Không đầu thai luân hồi, nên không sợ hãi, bởi vì có ai đâu mà đầu thai luân hồi. Luôn luôn ở tại đây. Không có chốn nào để đến."
Khi ngài Huệ Năng sắp viên tịch, có người hỏi, "Bạch Thầy, Thầy sắp đi đến đâu?" Ngài Huệ Năng mở mắt, bảo: "Sao lại có một câu hỏi đần độn như thế? Người ta đi chỗ nào? Không có chốn nào để đến cả. Người ta chỉ có một chỗ là NƠI ÐÂY - BÂY GIỜ."
Bạn có nhìn thấy cái phẩm chất của ý thức này không? Bạn luôn luôn BÂY GIỜ và Ở ÐÂY, bạn không thể nào là LÚC ẤY và Ở ÐÓ được. Làm thế nào mà bạn có thể hiện hữu lúc ấy và ở đó? Khi cái ngày mai kia đến, nó luôn luôn đến như là ngày hôm nay; nó không bao giờ đến như là một ngày mai. Khi nó trôi qua người ta gọi đó là ngày hôm qua, khi nó chưa đến, người ta gọi đó là ngày mai, thế nhưng bất cứ lúc nào nó có mặt cũng vẫn là ngày hôm nay và bạn chỉ có thể hiện hữu trong ngày hôm nay. Bạn không thể có mặt vào ngày hôm qua -nó không hiện hữu. Bạn cũng không thể có mặt ở ngày mai -nó chưa đến. Bạn luôn luôn BÂY GIỜ và Ở ÐÂY. Bạn có để ý đến cái ý niệm này không? Bạn không thể ở bất cứ nơi nào khác được. Như ngài Huệ Năng đã nói, "Ta có thể đi đâu bây giờ? Trước tiên, không có chốn nào để đến cả và cũng không có ai để đi đến bất cứ nơi đâu. Ta đã là một với tất cả. Không có cái chết để phải sợ, không có luân hồi để phải kinh hãi, không có niết bàn để vươn tới, không có ai giác ngộ để đạt đến. Cố gắng để sống một cách bình thường, và vô tác."
Ðó là cách tiếp cận của Thiền: Không có gì ở đó để hoàn tất. Không có gì để làm. Ta cứ là ta. Yên nghỉ, sống bình thường, sống tự nhiên. Ðói thì ăn, mệt thì ngủ, cần thì bài tiết.
Thiền là cách sống tự nhiên. "Sống tự nhiên là hợp đạo. Hãy để tâm thong dong tự tại. Không niệm ác, không niệm thiện. Không bám víu vào bất cứ cái gì. Ðó là đạo."
Như vậy là đủ. "Không bám víu vào bất cứ cái gì." Bên ngoài cũng như bên trong, phải luôn ghi nhớ như vậy. "Không bám víu vào bất cứ cái gì." Có lúc bạn bám vào tiền, vào chồng, vào vợ, và có lúc trong nội tâm bạn bắt đầu bám vào Krishna, vào Christ,...-bạn cứ không ngừng bám víu. "Không bám víu vào bất cứ cái gì." Chỉ như vậy bạn mới có thể đạt tới điểm tận cùng của thế giới. Tận cùng cũng là bắt đầu và hỗn mang là sáng tạo.
Một vị Thiền sư khác, Hoàng Chiến, có nói, "Tại đây, ngay chỗ này, ta không có chân lý nào để truyền dạy các ngươi. Công việc của ta chỉ là làm nhẹ bớt gánh nặng của cái chết đang đeo cứng trên lưng các ngươi. Sứ mệnh của ta là hủy diệt tất cả những gì đã trói buộc và biến các ngươi thành tên nô lệ, nhiệm vụ của ta là giết chết bất cứ cái gì và bất cứ ai đang đứng chặn giữa các ngươi và chính mình."
Thiền giả như thế là những người thực sự có phẩm chất khác biệt. Những phát biểu kiểu này bạn không thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu -những cách nói nổi loạn, những phát biểu như thế nó bốc lửa, rực rỡ và sống động làm sao. Cả ngàn năm đã trôi qua, Huệ Năng vẫn còn mang vóc dáng của một người nổi loạn. Bạn không thể tạo dựng nên một truyền thống từ ngài. Thiền là một tôn giáo đã không bị biến thành một truyền thống -bản chất của nó là không thể. Nó không cho phép bất cứ cái gì trở nên ổn cố, kể cả một ông Phật ở trong bạn. Nó cũng không hề nói đến chân lý. Nó tuyên bố, "Tại đây, ngay chỗ này, ta không có chân lý nào để truyền dạy các ngươi. Ta lấy đi tất cả các thứ." Và khi không còn lại bất cứ cái gì, đó là chân lý -khi bạn bị bóc trần, hoàn toàn trần trụi. Khi không còn gì lại ở bạn, chỉ là một sinh thể tinh khôi, đó là chân lý.
Vâng, ông Hoàng Chiến này đã nói rất đúng -"Tại đây, ngay chỗ này, ta không có chân lý nào để truyền dạy các ngươi." Và đó cũng là những gì mà tôi đang làm ở đây. Tại đây, ngay chỗ này, tôi cũng không ban phát cho bạn bất cứ thứ chân lý nào, tôi chỉ lấy đi những dối trá ở trong bạn -những dối trá mà bạn đã tích tụ từ hằng bao thế kỷ, những nhãn quan sai lầm, những ý niệm phi lý. Tôi sẽ lấy chúng ra từ từ. Tôi chỉ lấy đi của bạn mà không hề cho bạn cái gì cả. Khi bạn đã buông bỏ tất cả các thứ và không còn bám víu vào bất cứ cái gì, bỗng dưng nó hiện ra. Nó vẫn luôn có mặt ở đó, nhưng mãi đến bây giờ đôi mắt của bạn mới được mở ra hoàn toàn.
Thiền, khi diệt cái tâm, cũng diệt luôn cái ngã của bạn -bởi vì đây chỉ là hai tên gọi khác nhau của cùng một thứ.
Bây giờ hãy lắng nghe câu chuyện của Suzuki viết về Ryokan, một vị đại Thiền sư.
Ryokan đã dùng phép ám tỷ trong một bài thơ nói về một bụi tre trồng chung quanh thảo am của ông, với rất nhiều nụ măng đã mọc lên ở đó. Ngoài chuyện thực phẩm, ông đặc biệt rất thích chúng ở chỗ chúng mọc thẳng, và xanh tươi quanh năm. Rễ của chúng bám chặt vào đất và thân rỗng, một biểu tượng của tánh không.
Thiền gia luôn luôn ưa thích cây tre. Có thể nói rằng cây tre là một biểu tượng của họ. Lý do tại sao? Bởi vì nó xanh tươi quanh năm, xanh suốt bốn mùa -mùa mưa đến, rồi mùa hạ, rồi mùa đông, nó vẫn cứ xanh. Không có gì làm nó thay đổi. Nó sống như là vĩnh cữu. Màu xanh của tre mang ý nghĩa của tươi mát, trẻ trung, lộng lẫy, sống động. Có vẻ như nó không mang sức nặng của cái chết.
Thứ hai nữa, rễ của chúng bám rất chặt vào đất, nó đứng vững vàng trên mặt đất. Ðây là một điểm rất có ý nghĩa cần phải lưu ý. Con người cần phải bám vững trên mặt đất. Chúng ta đang sống trên trái đất này, chúng ta thuộc về trái đất và là sản phẩm của trái đất. Chúng ta cần phải bám vững trên mặt đất này. Thế nhưng có rất ít người như vậy; họ như là những thân cây bị trốc rễ. Và một đìều đặc biệt là, chính những cái gọi là tôn giáo của bạn đã làm cho bạn bị bật gốc. Bạn bắt đầu sống ở trên trời cao, ở một cõi thiên đàng nào đó, và quên bẳng đi cái trái đất này. Mà thật ra, không phải chỉ quên, bạn còn được dạy để chống lại nó. Bạn lên án nó. Như vậy làm thế nào bạn có thể bám chân trên mặt đất trong khi không ngừng lên án nó?
Thiền rao truyền những hiểu biết vững chắc về thế gian. Nó không hề chống lại thế gian, nó vượt ra ngoài cõi thế -hãy nhớ điều này. Nó không hề mang đến cho bạn một thứ tôn giáo phi thế gian, nó dạy bạn một tôn giáo rất thế gian thế nhưng cũng rất không thế gian. Nó bảo bạn: cứ sống trong thế gian này nhưng không để bị cột chặt vào đó. Nó không hề bảo bạn: hãy lìa bỏ thế gian.
Ðó cũng chính là quan điểm của tôi, thế nên tôi rất tâm đắc với Thiền. Chúng tôi rung động cùng chung một tần số.
Cây tre bám rất chặt vào đất. Nó vươn cao lên bầu trời. Nó vươn cao hết mức. Tre chỉ là một loại cây gầy guộc nhưng nó đánh bại rất nhiều loại cây khác. Nó vượt lên rất cao. Nó chuyển động trong gió bảo mà không một chút sợ hãi vì đã bám chặt vào đất. Nó cất lên hàng ngàn lời ca trong trời cao nhưng không làm phiền lòng mặt đất. Nó có cánh nhưng mà cũng có rễ.
Và một điểm thứ ba có ý nghĩa hơn cả là: Nó rỗng không ở bên trong. Ðó là điều mà con người nên như thế. Bám chặt trên mặt đất, luôn xanh tươi, trẻ trung, tươi mát, sống động, rung động, tuôn chảy cùng với năng lượng, nhảy múa, chúc tụng cuộc đời, nhưng trống rỗng ở bên trong -trống rỗng như một cây tre.
Ryokan chắc là rất yêu tre bởi vì ông không ngừng ngợi ca nó trong những bài hát; và vẽ về tre trong rất nhiều họa phẩm.
Ryokan rất thích đặc tính này của cây tre.
-đặc tính rỗng không.
Một lần, người ta kể lại, có một mụt măng vừa mới đâm chồi ra khỏi lòng đất ngay trong phòng riêng của ông. Ông tỏ ra rất thích thú về chuyện này. Cuối cùng, khi thấy cây măng tre ngày càng cao, ông bắt đầu tìm cách mở cái nóc nhà cho nó có đủ chỗ để phát triển.
Hãy suy nghĩ điểm này. Một mụt măng bắt đầu mọc lên trong chòi của Ryokan. Ông ta chẳng những không cắt mụt măng đi, mà bắt đầu tìm cách dở nóc nhà vì cây tre cần trời cao, cần không gian để tăng trưởng. Cái nhà không quan trọng bằng cây tre -một cây tre rỗng đã mọc lên trong đó, một cây tre sinh động đang mọc lên trong đó.
Và rồi một chuyện đã xảy ra...
Ryokan đã tìm cách đốt một cái lỗ ở trên mái nhà bằng cây đèn cầy.
Suzuki viết :
Có phải ông ta đã nghĩ rằng đó là cách thức dễ nhất để hoàn thành công việc? Có thể là ông ta đã không hoạch định trước như thế, đơn giản là ông ta chỉ muốn có một khoảng trống cho cây tre con phát triển và bỗng thấy cây đèn cầy trong lúc này có thể làm được chuyện này.
Không phải vậy. Tôi không nghĩ như thế. Ðây là cung cách của các Thiền gia. Nếu cần phải hủy diệt cái gì, họ sẽ hủy diệt nó hoàn toàn. Họ thường dùng những bước rất quyết liệt. Và đây là một bước quyết liệt -đốt cái mái nhà.
Suzuki viết tiếp:
Thế nhưng bất hạnh thay, cái mái nhà bắt lửa nhiều hơn là chỗ ông dự tính ban đầu, và toàn bộ cái nhà, cùng với cây tre đều bị thiêu rụi.
Ở đây Suzuki nói rằng 'bất hạnh thay'. Không, không đúng như vậy. Ryokan biết rằng đó chẳng phải là chuyện bất hạnh gì cả. Cái mái nhà phải được dẹp bỏ, nguyên cả cái nhà phải được dẹp bỏ.
Khi một cây tre bắt đầu mọc lên ở trong bạn, khi một cái gì đó mới mẻ khởi hiện ở trong bạn -gọi đó là thiền định, toạ thiền- khi nó bắt đầu nẩy mầm trong bạn thì tâm chính là cái ngôi nhà bao quanh -bởi vì ngay từ điểm khởi đầu bạn luôn luôn bắt đầu bằng cái tâm, ngoài ra không còn một cách thế nào khác để bắt đầu. Nếu bạn tìm đến với tôi thì cũng do cái tâm đó. Nếu bạn bắt đầu thiền định, sự bắt đầu này cũng khởi đi từ cái tâm của bạn. Ngay cả khi bạn đang lắng nghe tôi chống lại cái tâm này thì bạn cũng đang lắng nghe từ cái tâm đó, thế nên tất cả mọi chuyện đều ở trong vòng ngôi nhà của cái tâm này. Cái mái, cái sườn, cái ngôi nhà này là cái tâm và một cây tre đang mọc lên trong đó.
Ryokan đốt cái mái. Suzuki nói rằng « bất hạnh thay » ngọn lửa đã vượt ra ngoài sự kiểm soát, không những đã thiêu rụi ngôi nhà mà luôn cả cây tre ở trong đó. Suzuki nghĩ rằng khi cây tre cũng bị cháy tiêu luôn thì đó là một tai nạn. Không, không phải như vậy.
Trước tiên, để bảo vệ thiền định của bạn tôi sẽ phải thiêu hủy cái ngôi nhà tâm của bạn, thế nhưng cái thiền định do bạn khởi sự lại là một phần của cái tâm đó. Khi cái tâm bị thiêu hủy thì cái thiền định này cũng sẽ bị hủy diệt theo. Cái tâm này và sự thiền định này gắn chặt với nhau như bóng với hình. Sự thiền định này phát xuất từ tâm; nó phải gắn bó với cái tâm này. Một loại thiền định khác sẽ đến khi cả cái tâm và sự thiền định này, cả hai đều biến đi.
Vâng, đấy là ý nghĩa của câu chuyện tuyệt vời này. Tôi hoàn toàn không đồng ý với Suzuki. Suzuki đã không nắm vững trọng điểm của câu chuyện. Ông ta đã quan tâm quá mức về chuyện cây tre. Thế nên ông ta lạc lối. Thật ra, không phải 'bất hạnh' mà là điều may mắn khi đám cháy lan rộng -nó đã được nhắm đến mục đích như vậy. Khi một vị Ðại Thiền sư như Ryokan làm bất cứ công việc gì, ông ta đều biết là mình đang làm gì. Câu chuyện vì thế không phải là một tai nạn. Trong suốt cuộc đời của một vị Thiền sư như Ryokan, không hề có chuyện tai nạn xảy ra. Tất cả đều được hành động trong tỉnh thức, hoàn toàn và tuyệt đối có ý thức.
Ðây là dụng ý của Ryokan. Cái nhà sẽ phải được dẹp bỏ cùng với cây tre trong đó. Cũng vậy, cái tâm phải được dẹp bỏ và luôn cả cái thiền định đã khởi đầu với cái tâm đó cũng phải được dẹp bỏ luôn.
Từ đó một loại thiền định khác sẽ đến không liên hệ gì với bạn cả -một cái gì đó hoàn toàn tách biệt. Ðó là sự cắt lìa, không còn liên tục với bạn nữa. Nó đến từ Thượng Ðế, từ cái tổng thể -đó là một tặng phẩm. Nó không do bạn tạo ra, nó xảy đến.
Bây giờ chúng ta trở lại với giai thoại ban đầu.
Một học tăng đến kiếm vị Thiền sư thầy mình để nhờ giúp đỡ về một công án cổ điển mà ông đang tập trung giải quyết: "Ý nghĩa của việc Bồ Ðề Ðạt Ma đến từ Phương Tây là gì?"
Ðây là một công án mà tôi đã từng giải thích cùng các bạn. Ðặt câu hỏi như thế cũng chẳng khác gì hỏi rằng: Mặt trời mọc ở phương Ðông có ý nghĩa gì? Hoặc: Trăng tròn có ý nghĩa gì?
Có người đã hỏi nhà danh họa Picasso... người này đã chăm chú quan sát Picasso làm việc. Y theo dõi công việc của Picasso từ đầu đến cuối và khi bức tranh hoàn tất liền lên tiếng hỏi, «Bức tranh của ông có ý nghĩa gì vậy?» Câu hỏi này đã làm cho Picasso vô cùng tức giận muốn điên người, ông la lên, «Ði mà hỏi cái hoa hồng trong vườn này ý nghĩa của nó là gì ! Tại sao người ta cứ chạy đến hỏi tôi về ý nghĩa? Nếu đóa hồng kia hiện hữu ở đó mà không cần phải mang một ý nghĩa gì thì tại sao bức tranh của tôi lại không thể có mặt ở đó mà không cần một ý nghĩa gì cả?»
Tại sao lại cần thiết chuyện đó, tại sao lại cứ luôn bị ám ảnh bởi chuyện ý nghĩa? Ý nghĩa là chuyện của tâm. Ðó là một trò chơi của tâm. Nó luôn luôn nêu câu hỏi, «Ý nghĩa là gì?»
Bây giờ cũng một câu hỏi nêu lên như thế... Bồ Ðề Ðạt Ma đã từ Ấn Ðộ đến Trung Hoa. Ông ta vào Trung Hoa từ phía Tây. Dĩ nhiên là ông ta phải vào từ một nơi nào đó. Bây giờ vị Thiền sư đưa công án này cho các môn sinh -"Ý nghĩa của Bồ Ðề Ðạt Ma đến từ Phương Tây là gì? Tại sao? Nhưng trước tiên tại sao ông ta lại đến Trung Hoa? Tại sao?»
Bạn sẽ không hỏi một đám mây trời, «Tại sao ngươi lại đến Trung Hoa?» Bạn không hỏi một ngôi sao, «Tại sao ngươi có mặt ở đó?»
Những con người như Bồ Ðề Ðạt Ma rất là thuần khiết, họ không hiện hữu thông qua ý nghĩa, họ chỉ đơn giản có mặt mà không cần mang một ý nghĩa nào cả. Họ hiện hữu không vì một mục đích nào. Họ không phải là những nhà buôn, họ như là những đóa hoa, những đóa hoa người. Họ hiện hữu mà không cần mang một ý nghĩa nào -chỉ có mặt, đơn giản như thế. Ðâu có chuyện gì khác hơn để làm? Sự hiện hữu của họ đâu có phải là chuyện duy lợi, đó là ý nghĩa -tức là không hề có một ý nghĩa nào cả.
Bây giờ thì câu hỏi được nêu ra, công án được nêu ra cho các môn sinh. Hãy suy nghĩ về nó.
Một học tăng đến kiếm vị Thiền sư thầy mình để nhờ giúp đỡ về một công án cổ điển mà ông đang tập trung giải quyết: "Ý nghĩa của việc Bồ Ðề Ðạt Ma đến từ Phương Tây là gì?"
Cái ông Bồ Ðề Ðạt Ma này mới thật là người vô nghĩa nhất đã đặt chân trên trái đất này. Bạn không thể nào tưởng tượng được có một người nào đó vô nghĩa hơn là ông Bồ Ðề Ðạt Ma. Có lúc ông ta còn qua mặt luôn cả Phật Tổ Cồ Ðàm! Trong nhiều phương diện, ông ta thật là hết mức -quá cở!
Khi ông ta đến Trung Quốc, vị Hoàng Ðế đã đích thân đến tận biên giới đón tiếp vì trong rất nhiều năm, tin tức, đồn đãi đã bay đến triều đình: Bồ Ðề Ðạt Ma đang trên đường đến đây, Bồ Ðề Ðạt Ma đang trên đường đến đây, và ông là một nhân vật rất hiếm có.
Ngay cả vị Hoàng Ðế cũng rất lấy làm thích thú. Vũ Hoàng Ðế đã đích thân đón tiếp ông. Và vị Hoàng Ðế đã không khỏi bối rối trong lần gặp gỡ lần đầu tiên này vì Bồ Ðề Ðạt Ma đã đi đến với một chiếc giày trong chân và một chiếc giày đội trên đầu.
Thật là quá mức! Vâng, vị Hoàng Ðế đã từng được nghe rằng đây là một con người rất kỳ quái nhưng mà vẫn không thể nào hình dung ra ông ta lại kỳ quái đến mức như thế. Có ý nghĩa gì đây? Cái ý tưởng đầu tiên thoáng qua tâm trí của vị Hoàng Ðế -Bồ Ðề Ðạt Ma đội giày lên đầu mang ý nghĩa gì? Thế nhưng vua cảm thấy nếu hỏi ngay thì hơi thất lễ trước khi long trọng cử hành đại lễ đón rước -với hơn một vạn vị đại tăng từ khắp đất nước Trung Quốc đển chào đón nhân vật quan trọng này. Ông ta là truyền nhân chính thức của Ðức Phật. Những gì mà Ðức Phật trao truyền cho Ma Ha Ca Diếp nay đã được truyền đến cho ông. Ông ta là truyền nhân, là người kế thừa Ðức Phật Tổ.
Ngay cả những vị sư đón tiếp cũng cảm thấy bồn chồn đứng ngồi không yên -bởi vì họ lo lắng không biết vị Hoàng Ðế sẽ nghĩ gì đây? Không chừng cái lão Bồ Ðề Ðạt Ma này sẽ làm hủy diệt mất danh tiếng của họ hoàn toàn. Coi thật là mất lịch sự và chẳng khác gì tên khùng! Hay có gì sai lầm chăng? Vị Hoàng Ðế cũng đã sửa soạn để nói vài điều nhưng quả thật là khó khăn khi phát biểu trước mặt người này. Vua đã sửa soạn bài nói chuyện rất công phu và cả triều đình đã tốn nhiều thời gian để soạn thảo và tập dượt. Bây giờ thì mọi chuyện đã trở nên vô nghĩa. Cái lão này đang đứng trân trân ra đó -ngay cả ngồi cũng không chịu ngồi nữa- chỉ đứng đó với chiếc giày đang đội trên đầu. Các bạn hãy tưởng tượng ra hoạt cảnh này!
Cuối cùng vị Hoàng Ðế lên tiếng, « Bạch Sư, trẫm xin thất lễ nhưng xin được hỏi sư một điều. Tại sao sư lại đội chiếc giày lên đầu ? » Bồ Ðề Ðạt Ma trả lời, «Tại sao lại không nhỉ? Chiếc giày này đã thấm mệt rồi, nó đỡ bước ta bao lâu nay -tại sao ta lại không thể đỡ bước nó?»
Bồ Ðề Ðạt Ma đang nói gì vậy? Ông ta muốn nói rằng, «Ðừng có hỏi về ý nghĩa nữa.»
Thời gian qua người ta mới quen dần cái cung cách của ông, mới hiểu được những điều ông nói. Người ta kể lại ông đã bảo các môn đệ rằng, «Ta chỉ mới cho ông vua ấy nếm thử qua cái mùi vị của ta để ông ấy không bao giờ còn hỏi về cái ý nghĩa. Vạn hữu an trụ ngay từ thuở ban sơ. Ta đã phải làm những chuyện vô nghĩa lý vì ta là người không mang trong mình một ý nghĩa nào cả -như một đóa hoa, như một đám mây, không cần phải mang một ý nghĩa nào cả.»
Hãy suy nghĩ về điều này. Sự hiện hữu không mang một ý nghĩa nào cả. Hãy trông kỹ đi. Không có vấn đề ý nghĩa trong hiện hữu. Ý nghĩa chỉ là sản phẩm của con người. Và bởi vì bạn cứ luôn luôn chạy đi tìm kiếm ý nghĩa, bạn bắt đầu cảm nhận sự vô nghĩa. Hãy nhớ như thế... Bởi vì bạn luôn tìm kiếm ý nghĩa -«Cái này có ý nghĩa gì?» -không sớm thì muộn rồi bạn cũng sẽ nhận ra rằng nó không mang một ý nghĩa nào cả. Lúc đó là cả một đại họa! Cái đại họa này đang xảy ra ở phương Tây. Những nhà tư tưởng lớn của phương Tây hiện đang ở trong khổ nạn. Cái khổ nạn đó là: Ý nghĩa của đời sống là gì? Nó có vẻ như rất vô nghĩa. Thế nhưng họ đã được huấn luyện rằng con người chỉ có thể sống một đời sống có ý nghĩa. Bây giờ tốt nhất là họ nên lắng nghe Bồ Ðề Ðạt Ma. Họ nên tìm đến Thiền là vừa.
Thiền cho rằng không có gì ý nghĩa cả. Không cần thiết phải tìm kiếm nó. Hãy tận hưởng cái vô nghĩa vĩ đại này. Không hề có mục đích. Vạn hữu không đi đến bất cứ nơi đâu, nó không hề có mục đích để hướng đến. Nó là Ở ÐÂY; nó là một lễ hội; nó là niềm vui; nó là một chuyện đùa. Ðó là ý nghĩa của những gì mà Ấn Giáo gọi là leela. Ðó là một cuộc chơi. Cái danh xưng này được dùng rất chỉnh. Leela có nghĩa là một cuộc chơi. Trong trò chơi bạn không cần phải hỏi cái ý nghĩa. Không có ý nghĩa trong đó. Cuộc chơi tự nó là để vui, phải cho thật vui.
Thế nên từ đó đã có không biết bao nhiêu công án tập trung chung quanh Bồ Ðề Ðạt Ma: Ý nghĩa của ông ta là gì ? Ý nghĩa của việc Bồ Ðề Ðạt Ma đến từ Phương Tây là gì ?
Vị Thầy bảo rằng trước khi đi vào vấn nạn này, vị học tăng nên lạy ông một cái lạy thật sâu.
Ðây là những gì mà tôi rất muốn các bạn hiểu một cách thấu đáo. Vị học tăng này đến với một câu hỏi. Ông ta chắc chắn là cần đến sự giúp đỡ của Thầy. Ông ta đã đánh vật với cái công án này trong rất nhiều tháng, có thể trong nhiều năm. Bạn không hiểu được sự kiên nhẫn của kẻ học Thiền. Nhiều khi mất cả đến hai chục năm. Một người cứ tiếp tục đánh vật với cùng một vấn nạn qua hằng bao năm tháng, hết ngày này đến ngày khác, hết năm nọ qua năm kia. Bao nhiêu mùa qua đi và y chỉ tập trung vào một chuyện duy nhất. Y mất tất cả những ý niệm về thế giới chung quanh. Tất cả ý thức của y đều đổ dồn vào một vấn nạn -mà y biết tận cùng của nó cũng chỉ là sự vô nghĩa. Nhưng y phải không ngừng làm việc, phải tiếp tục khoan -cho đến khi nào không còn gặp sự phản kháng lại.
Người học tăng này có thể đã tập trung suy nghĩ trên công án này trong rất nhiều năm và chẳng lãnh hội được điều gì cả. Thế nên cuối cùng ông ta phải tìm đến Thầy để nhờ giúp đỡ. Ông ta muốn có những giúp đỡ cụ thể. Ông Thầy sẽ làm gì đây? Chắc sẽ đưa ra một vài gợi ý. Một vài lộ trình. Một vài hướng dẫn.
Và rồi ông Thầy trả lời như thế nào? Ta sẽ thấy đây là cung cách của những vị Thiền sư. Ông ta làm những chuyện hoàn toàn không ăn nhập gì với vấn đề cả. Người học trò tìm đến để xin giúp đỡ và ông Thầy bảo -
Vị Thầy bảo rằng trước khi đi vào vấn nạn này, vị học tăng nên lạy ông một cái lạy thật sâu.
Tại sao ông ta lại đòi hỏi một cái lạy thật sâu? Tại sao ông lại đòi hỏi người học trò phải quỳ mọp xuống chân mình. Thật không ai hiểu nỗi. Vị Thầy chắc đã nhìn xuyên suốt vào người học trò và chắc đã nhìn thấy vấn nạn đang nằm ở chỗ nào. Cái vấn nạn này không phải nằm ở trong vấn nạn mà là nằm ở một nơi nào đó trong cái bản ngã của người học trò. Người học tăng này chắc chắn là đã có một cái bản ngã vô cùng vi tế. Vị Thầy đã thấy rõ được cái vấn nạn này. Trong khi đó người học tăng cứ mãi đánh vật với cái công án. Ông ta có thể cứ tiếp tục quán chiếu hết đời này đến đời khác nhưng vẫn sẽ không có chuyện gì xảy ra bởi vì cái vấn nạn đang nằm ở một nơi nào khác. Ông này có thể là rất cống cao ngã mạn. Thật ra, khi bạn đến với một vị Thầy, nghi lễ thông thường là bạn qùy xuống sờ chân Thầy. Người học tăng này đã không làm chuyện đó. Khi bạn đến với một bậc Chân Sư thông thường là bạn qùy xuống lạy. Ðằng này người học trò chỉ đến để nhờ giúp đỡ.
Cái cúi lạy này chẳng là gì cả, chỉ là một động tác. Thế nhưng cánh cửa học vấn chỉ mở ra khi nào bạn buông bỏ cái bản ngã của mình. Vâng, có rất nhiều loại học vấn. Bạn có thể đi vào trường đại học, ở đó bạn không cần phải buông bỏ bản ngã. Thực ra ở đây bạn càng ngã mạn bao nhiêu bạn càng có cơ hội thành công bấy nhiêu -Ðây là nơi tranh đua của những cái ngã, những cái ngã đầy khát vọng, ganh ghét tỵ hiềm, những cái ngã đấu tranh lẫn nhau. Bạn sẽ thành công hơn với cái ngã của mình. Nếu bạn khiêm nhường thì sẽ không thể nào dành được chỗ đứng ở trong trường đại học, không bao giờ. Bạn phải tranh đua một cách hung bạo, phải có tinh thần lấn chiếm đầy bạo động, phải rất là cống cao ngã mạn, bạn phải nghĩ rằng mình là người số một trên thế giới. Như vậy may ra bạn mới có cơ may dành được cái huy chương vàng, bằng không thì không bao giờ.
Khi bạn đi vào trường đại học bạn đi vào với cái ngã, thế nhưng khi bạn đến với một vị Thầy thì đây là một loại học vấn hoàn toàn khác biệt -cái học giải trừ học vấn. Ở đây bạn phải hạ mình xuống.
Nhìn ngoài mặt thì có vẻ như người học tăng đang nêu một câu hỏi -giúp ông ta giải quyết vấn nạn của mình. Nhìn ngoài mặt thì có vẻ như ông Thầy rất tự cao tự đại. Tại sao ông ta lại đòi phải lạy mình một cái lạy thật sâu? Phải chăng đây là vấn nạn của một cái tâm cống cao ngã mạn? Vâng, nếu bạn nhìn vấn đề với cái tâm ngã chấp, bạn sẽ cho rằng ông Thầy này rất là cao ngạo. Như vậy làm sao ông ta lại có thể giúp đỡ người khác được? Người học tăng đang gặp khó khăn, thay vì tỏ tâm từ bi của mình trước vấn nạn của người học trò, ông Thầy lại đòi hỏi trước tiên phải thực hiện nghi lễ. Ông Thầy này thuộc loại gì vậy? Tuy nhiên, nếu nhìn bằng một cái tâm như thế bạn sẽ đánh mất toàn bộ trọng điểm của vấn đề.
Những câu chuyện như thế mang ý nghĩa rất sâu sắc mà bạn không thể nào hiểu nổi với cái tâm đầy ngã chấp. Vị Thầy này tuyệt đối không còn ngã chấp đó là lý do tại sao mà ông ta có thể nhìn thấy và chỉ đúng ngay vào vấn nạn. Chắc chắn là ông ta đã có một cái nhìn thấu suốt. Nhanh như một làn chớp.
Khi bạn đến với tôi cũng thế, tôi có thể thấy ngay lập tức đâu là vấn nạn. Có lúc tôi không nói ra, có lúc tôi nêu lên một vài câu hỏi... Bởi vì thế giới đổi thay không ngừng. Bây giờ nếu đòi hỏi ai đó phải qùy lạy có thể chẳng giúp đỡ gì được y mà còn cản trở y nữa là khác. Thế giới đã đổi thay. Ðây là một thế giới hoàn toàn khác biệt khi câu chuyện này xảy ra -một khung cảnh khác biệt. Bây giờ cả thế giới đã được rèn luyện, rèn luyện theo những cung cách của bản ngã.
Có lúc tôi hỏi bạn vấn nạn của bạn là gì. Tôi thấy cái vấn nạn đó và nêu câu hỏi với bạn, «Vấn nạn của bạn là gì ? Tôi muốn được nói đôi điều về nó. » Nếu tôi cảm thấy bạn tiếp cận gần với nó, tôi sẽ cho bạn một vài gợi ý, tôi sẽ đưa bạn đến gần hơn. Thế nên thay vì nói thẳng ra, « Ðây là vấn nạn của bạn, » thay vì chỉ ngay vào vấn nạn này, tôi muốn bạn tự khám phá lấy và cho tôi biết. Ðiều này sẽ giúp bạn tiếp tục duy trì cái ngã của mình. Bạn sẽ cảm thấy là bạn đang giải thích nó với tôi, bạn cảm thấy bạn đang nói chuyện về nó với tôi, và như vậy bạn cảm thấy cái bản ngã của bạn được thỏa mãn. Tôi đã phải thuyết phục những cái ngã của bạn trước. Dĩ nhiên, cuối cùng rồi tôi cũng sẽ thuyết phục chúng tự sát, nhưng đó là giai đoạn cuối. Việc này không thể được thực hiện ngay từ đầu. Ngay khởi đầu tôi phải làm mọi chuyện để hổ trợ cho cái ngã của bạn trước đã. Khi bất cứ ai mới đến đây, tôi đặc biệt vô cùng quan tâm đến họ. Bạn càng ở đây lâu chừng nào, tôi sẽ bắt đầu quên bạn dần đi.
Trong khi vị học tăng đang thực hiện nghi lễ, ông Thầy nhanh chân phóng cho ông một cú đá đích đáng.
Thật là bẽ bàng! Ðầu tiên bạn đòi hỏi y phải qùy lạy, thế rồi bạn đánh y, bạn đá y, bạn coi y như một trái banh hay như một viên đá cản đường.
Thế nhưng ông Thầy đã đá đúng lúc. Ông đã đá đúng ngay vào cái vấn nạn của người học trò. Thế là một cái gì đó đã xảy ra sau cú đá này. Cú đá đã có tác dụng như một cú điện giật.
Cú đá bất ngờ này đã giải quyết tất cả những mối mê mờ từ lâu đã làm cho ông lúng túng.
Cú đá hoàn toàn bất ngờ đối với người học trò. Khi bạn đang quỳ lạy một người hết sức cung kính bạn sẽ không thể nào ngờ được là người đó sẽ đá bạn. Tại sao bạn cung kính như vậy mà người ta lại đá bạn? Vâng, khi bạn đang đánh nhau với ai đó, họ sẽ đá bạn, đó là điều đương nhiên, thế nhưng khi bạn đầu hàng -sao họ lại còn đá bạn ? Thật là bất ngờ, thật là hoàn toàn phi lý.
Thế nhưng đó là luận lý của Thiền, rất luận lý. Bởi vì cái tâm không được chuẩn bị cho một cái gì đó có thể xảy đến, nó không có khả năng để xử trí trước tình huống bất ngờ, cái tâm hoàn toàn bị « sốc ». Nó không thể nào hiểu nổi, nó không thể nào lý giải được. Nó ở trong trạng thái hoàn toàn sửng sốt. Nó không thể làm gì được cả. Thật là bất ngờ, nó phát khùng lên. Thế là cái tâm ngưng làm việc, đã có một lỗ hổng, một khoảng hở khởi hiện. Cú đá đó đã mang lại cái lỗ hổng này.
Nhưng cú đá này không phải có thể ban phát cho bất cứ ai hay cho tất cả mọi người. Người học tăng kia mới xứng đáng để nhận lãnh. Ông ta đã làm việc không ngừng trong suốt bao nhiêu năm trên cái công án. Ông ta đã đi đến cái điểm mà chỉ cần một cái đẩy nhẹ, một cú đá là giải quyết vấn nạn. Tất cả những mối thắc mắc mê mờ của ông ta tan biến đi trong khoảnh khắc. Bỗng dưng y trở thành nhất thể. Tất cả mọi nghi nan biến mất. Từ cái lỗ hổng đó ánh sáng chiếu rọi, từ cái lỗ hỗng đó mọi sự trở nên sáng tỏ như ban ngày. Với cú đá bất ngờ này, một cái gì đó như một mũi tên đã xuyên thẳng vào tim ông ta.
Khi té nhủi xuống chân vị Thầy, ông ta hoát nhiên đạt ngộ.
Thiền là tôn giáo duy nhất trên thế giới giảng dạy về sự hoát nhiên đạt ngộ. Nó cho rằng sự giác ngộ xảy đến không đòi hỏi thời gian, nó có thể xảy ra trong vòng một sát na, chỉ trong một khoảnh khắc đơn thuần. Có thể bạn đã chuẩn bị hằng bao nhiêu năm trời, nhưng bất kỳ lúc nào nó xảy đến, nó xảy đến trong một chớp mắt. Nó không xảy ra từ từ, từng phần. Nó không xảy ra từng lúc, hết mảng này đến mảng khác... Nó không phát triển một cách chậm chạp. Nó là một bước nhảy. Có thể dùng một danh từ vật lý để diễn tả tình trạng này khá đúng -đó là một bước nhảy lượng tử. Một bước nhảy đột biến. Chỉ trong một khoảnh khắc đơn thuần, bạn không còn là con người cũ trước đây; toàn bộ tâm thức bạn hoàn toàn thay đổi.
Nhưng hãy nhớ một điều, nó đòi hỏi một sự chuẩn bị rất chu đáo. Tôi không hề nói rằng nếu bạn đến với tôi và rồi tôi đá vào đầu bạn thì chuyện ấy sẽ xảy ra.. Trước khi tôi đá vào đầu bạn, mũi khoan tâm của bạn phải khoan cho đến điểm tận cùng. Ðến cái mức này, khi chỉ còn lại cái cốt lõi cuối cùng, chỉ còn một chút đối kháng mỏng manh, khi mà bạn đang đứng ngay trên bờ vực, chỉ khi đó cái đá mới có hiệu quả. Chỉ một cú đá thôi và rồi rrrrrrrr... mọi chuyện giải quyết !
Sau này gặp bất cứ ai ông cũng nói: "Từ khi nhận được cái đá của Mã Tổ, tôi đã không thể nào nhịn được cười."
Vâng, khi bạn thực chứng lần đầu, trong bạn sẽ khởi hiện một nụ cười -cười cho nỗi khốn khổ của bạn sao mà quá lố bịch, cười cho những vấn nạn của bạn sao mà quá xuẩn động, cười cho những khổ đau của bạn sao mà quá phi lý. Ðâu cần phải như thế, cũng không hề có điểm ý nghĩa nào trong những khổ đau đó. Bạn đã sống trong cơn ác mộng do chính mình tạo ra. Bạn là tác giả của nó đồng thời cũng là diễn viên; bạn là giám đốc sản xuất và cũng là cái màn ảnh, cái máy chiếu, đồng thời cũng là khán giả và là tất cả trong tất cả. Chính bạn là tác giả mà không ai khác. Ðó là một cơn ác mộng. Như vậy đâu có nhu cầu phải sống ở trong đó cho dù là một khoảnh khắc ngắn ngủi, thế nhưng bạn đã sống ở trong đó cả hàng triệu kiếp qua -cho đến khi bừng nở nụ cười giác ngộ.
Người học tăng đã rất đúng khi nói rằng, "Từ khi nhận được cái đá của Mã Tổ, tôi đã không thể nào nhịn được cười." Vâng, đúng như vậy. Khổ nạn của bạn thật là ngu xuẩn, thật là khôi hài. Bạn đã đeo cứng vào nó và đó là lý do tại sao mà nó có mặt. Thế mà bạn cứ không ngừng la lên, «Tôi không muốn. Tôi không muốn,» và vẫn cứ bám chặt vào. Cho đến một ngày khi bạn thực chứng, khi nhận được cú đá, khi đôi mắt của bạn mở ra và thấy được rõ ràng, bạn sẽ không thể nào tin được rằng bằng cách nào mà cái chuyện này nó kéo dài đến như thế!
Khi Ðức Phật chứng đắc xong, có người đã hỏi Ngài: «Ngài đã chứng đắc được cái gì thế?» Ðức Phật đã mĩm cười, «Không có gì cả, hoàn toàn không có gì cả. Ðúng ra ta đã đánh mất một cái gì đó; Ta không chứng đắc cái gì cả.» Người kia nói rằng, «Chúng tôi cứ luôn luôn nghĩ rằng một người giác ngộ tức là đã chứng đắc một cái gì đó.» Ðức Phật bảo, « Hoàn toàn sai lầm, tuyệt đối sai lầm. Ta không được mà chỉ mất đi - ta đã mất đi nỗi khổ đau- bởi vì vì bất cứ cái gì mà các ngươi nghĩ là ta chứng đắc, đạt đến, luôn luôn phải ở một nơi nào đó. Bây giờ ta không khỏi bật cười trước chuyện hoàn toàn lố bịch này. Tại sao ngay từ đầu ta đã để cho nó mất đi? Nó đã hiện hữu ở đó mà. Nó đã hiện hữu ở trong ta. Tại sao ta đã để lạc mất nó?»
Làm thế nào nà bạn đánh mất được Thượng Ðế. Bạn chính là Thượng Ðế, tại sao lại cứ mãi chạy đi tìm kiếm Thương Ðế ?
Như vầy tôi nghe...
Một lần có một vị Tăng hỏi ngài Huệ Năng, « Bằng cách nào để đạt thành Phật quả, bạch Thầy?» Huệ Năng đã cho ông ta một trận đòn nên thân rồi bảo, «Nếu ta không đánh ngươi, cả thế giới này sẽ cười vào mặt ta.» Cái ông Huệ Năng này đang muốn nói gì vậy? Ý ông ta muốn nói rằng, «Cố gắng để đạt thành Phật quả là một việc làm ngu xuẩn, bởi vì bạn chính là một vị Phật. Nếu ta không đánh ngươi, mọi người sẽ cười ta -ít nhất là những kẻ hiểu chuyện, họ sẽ cười. Ta không thể nào giúp ngươi trở thành một ông Phật, trong khi ngươi chính là một vị Phật.»
Bạn đã là cái mà bạn đang tìm kiếm -cho đến khi bật ra nụ cười giác ngộ.
Hãy quán tưởng về giai thoại ngắn này. Nó mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Và rồi hãy làm việc cật lực, hãy khoan vào tâm một cách triệt để, để đến một ngày nào đó, may ra bạn sẽ hưởng được một cú đá.
Xem tiếp Chương 10 - Quay về Mục lục Tập 1 Quay về Mục lục Toàn tập

Ads Belove Post