Chương 8. Chói sáng hoàn toàn

Chương 8. Chói sáng hoàn toàn

Price:

Read more

Bông Sen Trắng
Bài giảng về Thiền sư Bồ Đề Đạt Ma
Chương 8. Chói sáng hoàn toàn

Câu hỏi thứ nhất:
Osho kính yêu,
Tôi từ bỏ. Tôi không đạt tới đâu cả. Tôi tới đây đầy hi vọng và vui vẻ, nhưng bây giờ tôi nhận ra rằng nó tất cả đều vô nghĩa. Trước đây, thầy đã làm cho tôi cảm động chảy nước mắt, nhưng chúng là những giọt nước mắt của cực lạc, giảm nhẹ, những giọt nước mắt đi theo khi người ta lắng nghe âm nhạc hay. Bây giờ, ngay cả tình yêu của tôi với thầy bị đau. Nước mắt của tôi không cho sự giảm nhẹ. Tôi không thể chạm được vào cốt lõi bên trong của tôi. Tôi không thể tách bản ngã của tôi ra khỏi cái ta thực của tôi và, cho dù trong khi tôi viết cho thầy, hoài nghi trào lên liệu đây có phải là bản thân sự thương hại hay tôi đang trên trò tâm trí. Tôi có muốn sự chú ý của thầy không?
Dhyano Marion, không chỗ nào để đi, không chỗ nào để đạt tới.
Bởi vì bạn đã tới với mong đợi, bạn tạo ra khổ của bạn. Mong đợi của bạn là nguyên nhân cho thất vọng của bạn. Nó bao giờ cũng vậy: mong đợi, và bạn tạo ra địa ngục quanh bản thân bạn. Sớm hay muộn những hạt mầm của mong đợi đem tới toàn thể rừng rậm của khổ quanh bạn.
Bạn nói: "Tôi từ bỏ."
Nếu bạn thực sự ngụ ý điều đó thế thì công việc được hoàn thành rồi. Nếu bạn không chỉ nói điều đó thế thì bạn đã tới nhà. Chính là trong từ bỏ mà người ta về nhà, nhưng nó phải là việc từ bỏ có tính tồn tại. Bạn đang viết nó, bạn đang nói nó, nhưng bạn không ngụ ý nó, bởi vì nếu bạn thực sự ngụ ý nó thế thì đã không cần phải ở trong nuối tiếc và đau đớn. Nếu bạn đã từ bỏ thế thì từ đâu mà khổ có thể đến bạn được? Chính rễ bị chặt đi rồi.
Từ bỏ là việc là một sannyasin. Từ bỏ là điều nền tảng nhất có thể xảy ra cho bạn. Nó đơn giản nghĩa là bây giờ không còn việc ham muốn nữa, không còn mơ nữa: "Mình được kết thúc với nó, mình đã thấy đi thấy lại rồi, và nó tất cả là vô nghĩa." Bởi vì bạn chưa sẵn sàng chấp nhận cái vô nghĩa của ham muốn và mơ của bạn, bạn ở trong việc tự hành hạ bạn do tâm trí riêng của bạn tạo ra.
Bạn nói: "Tôi đã tới đây tràn đầy hi vọng..."
Bất kì ai tới đây với hi vọng nhất định cảm thấy vô vọng sớm hay muộn. Hi vọng không thể đưa bạn đi chỗ nào khác cả - hi vọng đã đi tới vô vọng. Hi vọng giống như con sông nhỏ đi ra đại dương của vô vọng - nó sẽ đạt tới đại dương này sớm hay muộn.
Vâng, khi bạn ở xa khỏi tôi bạn có thể hi vọng: bạn có thể liên tục mơ, bạn có thể mơ màng viển vông - những giấc mơ đẹp, những tưởng tượng huyền bí, những vô nghĩa bí truyền - vì bạn tự do toàn bộ. Nhưng khi bạn tới gần tôi mơ trở thành gần như ngày càng không thể được, bởi vì toàn thể công việc là chống lại mơ.
Tôi muốn bạn thức dậy - và thức dậy là quá trình đau đớn bởi vì nó sẽ phá huỷ mọi hi vọng của bạn, nó sẽ phá huỷ mọi điều bạn đã từng yêu mến và nghĩ rất đẹp. Thức dậy có tính phá huỷ theo nghĩa là nó sẽ phá huỷ vô ý thức của bạn.
Và tất cả các bạn đều sống trong vô ý thức: vô ý thức đã từng là cách sống của bạn trong nhiều kiếp rồi; nó đã trở thành bản tính thứ hai của bạn. Thực ra, nó đã che đậy bản tính của bạn sâu tới mức bạn không biết rằng có bản tính khác cho bạn, rằng đây không phải là bản tính của bạn, rằng cách bạn đang vậy không phải là cách tự nhiên - không phải là cách thức của Pháp, Đạo, tôn giáo. Vô ý thức là sâu, và toàn thể công việc ở đây bao gồm việc đem bạn tới ý thức. Nó sẽ phá huỷ mọi loại ham muốn, hi vọng, tưởng tượng, 'tương lai'.
Nhiệm vụ khó khăn với tôi là phá huỷ giấc mơ của bạn, bởi vì thỉnh thoảng chúng dịu ngọt thế, đáng yêu thế... Khó lấy đi vô ý thức của bạn khỏi bạn. Nó không giống như lấy đi quần áo của bạn, nó giống như lột da bạn - nó gây đau.
Điều đầu tiên cần nhận ra là ở chỗ ra khỏi vô ý thức để vào ý thức sau nhiều nhiều kiếp là quá trình đau đớn. Trưởng thành là đau đớn.
Bác sĩ chăm sóc sức khoẻ nói với nữ sinh có hình thể cân đối, "Cô Wellbuilt, nếu tôi phải tìm ra chỉ cái gì sai với cô tôi sẽ phải khám cô thật tỉ mỉ, cho nên xin cởi quần áo ra hoàn toàn."
Với điều đó cô ấy đỏ mặt và đáp, "Dạ được, thưa bác sĩ, nhưng bác sĩ làm trước."
Chỉ thói quen cũ! Chúng ta đang trong nắm chắc của thói quen, hình mẫu, cấu trúc, chiến lược cũ.
Có lần một người bán hàng phương tây không về nhà ngoại trừ một lần trong sáu tháng. Một đêm anh ta về nhà, sau khi ăn tối anh ta và vợ ngồi trong phòng khách yên tĩnh đọc sách. Đột nhiên có tiếng gõ cửa.
"Chồng em đấy!" người đàn bà kêu lên, làm rơi cả tờ báo.
"Tạm biệt nhé!" người đàn ông kêu lên, lẻn qua cửa sổ sau.
Tôi hiểu đích xác rắc rối của bạn ở đâu. Bạn có một động thái: nó đã xuyên thấu vào thân thể, nó đã đi sâu vào trong tâm trí - nó thậm chí đạt tới chính bản chất bạn, chính cốt lõi của bạn. Bây giờ, nhổ bật rễ tất cả nó, làm rung chuyển bạn, làm bạn choáng vào trong nhận biết, là nhiệm vụ gian nan. Nó không chỉ đau đớn cho bạn, nó là đau đớn cho cả tôi nữa.
Điều đó giống như giằng lấy đồ chơi từ đứa trẻ. Nó sẽ kêu và khóc và nó sẽ van xin bạn trả lại cho nó đồ chơi. Nhưng nếu không thế khi nào nó sẽ có khả năng sống trong thế giới thực? Nó có thể được phép mơ tưởng bao lâu? Trẻ nhỏ không biết khác biệt giữa thực tại và việc mơ. Đó là lí do tại sao khi chúng thức dậy buổi sáng đôi khi chúng bắt đầu khóc "Đồ chơi của con đâu rồi?" Chúng đã mơ về đồ chơi; chúng muốn đồ chơi trở lại. Chúng không biết rằng bây giờ chúng thức dậy từ những giấc mơ đã biến mất. Đó là điều đã xảy ra cho bạn.
Moses Cohen về nhà vào giữa đêm và im lặng tuột vào trong giường ngủ và bắt đầu cởi quần áo.
Sarah Cohen thức dậy và hỏi, "Moses, anh để quần lót ở đâu rồi?"
"Chúng chắc phải bị đánh cắp rồi," Moses đáp.
Bây giờ bạn không thể đánh cắp được quần lót của bất kì ai... nhưng tâm trí vô thức cứ nói, làm... trong tình trạng vô thức.
Bill: "Tôi nghĩ tôi bắt đầu bước vào giấc ngủ."
Will: "Điều gì làm cho anh nghĩ việc đó?"
Bill: "Tôi thức dậy trong giường của tôi sáng nay."
Marion, đó thực sự là cái gì đó cực kì có ý nghĩa đang xảy ra cho bạn, nhưng bạn sẽ chỉ có khả năng hiểu nó về sau. Khi bạn sẽ đạt tới xa hơn một chút khỏi mơ của bạn và có cảnh quan tốt hơn, bạn sẽ có khả năng cảm thấy biết ơn. Nhưng ngay bây giờ có thể có giận dữ và phẫn nộ.
Điều đó xảy ra cho gần như mọi sannyasin tới đây với mong đợi và hi vọng - và ai tới mà không mong đợi và hi vọng?
Bạn nói: "Tôi từ bỏ."
Xin bạn, từ bỏ đi! Đó đích xác là điều cần được làm. Nhưng bạn không làm nó, bạn đơn giản nói nó - có thể trong việc thốt ra vô ý thức, có thể trong thất vọng, nhưng không trong hiểu biết. Vâng, người ta có thể từ bỏ trong thất vọng, nhưng thế thì các vết thương còn lại, sẹo còn lại. Khi bạn từ bỏ với hiểu biết, thấy cái vô tích sự của tất cả nó, có an bình vô cùng.
Bạn nói: "Tôi không đạt tới đâu cả."
Nỗ lực của tôi là đem bạn tới bây giờ, ở đây, và bạn đang cố đạt tới đâu đó khác. Tôi không cố giúp bạn đạt tới đâu đó - bạn đã ở khắp mọi chỗ ngoại trừ bây giờ và ở đây. Chức năng của tôi là kéo bạn trở lại khoảnh khắc hiện tại, về cái thực - dù khó thế nào đó là việc về nhà, dù bạn đã quen thuộc với lang thang nhiều thế nào. Nhưng bạn phải được mang về nhà, bởi vì chỉ thế thì mới có thể có phúc lạc, phúc lành, tự do - điều Bồ đề đạt ma gọi là niết bàn: việc dừng của bản ngã và việc sinh ra của linh hồn.
Bạn nói: "Tôi không đạt tới đâu cả, tôi không đạt tới đâu cả. Tôi đã tới đây tràn đầy hi vọng và vui vẻ..."
Hi vọng đó là giả - mọi hi vọng đều giả. Hi vọng đơn giản nghĩa là trì hoãn. Hi vọng nghĩa là hiện tại của bạn là xấu và bạn muốn né tránh nó cho tương lai đẹp nào đó. Hi vọng nghĩa là bạn không muốn thấy hiện tại, bạn muốn vẫn còn bận với tương lai. Ngày mai là quan trọng cho bạn hơn hôm nay và khoảnh khắc tiếp là quan trọng hơn khoảnh khắc này. Hoặc bạn thoát vào quá khứ hoặc bạn thoát vào tương lai - và thực tại chỉ bao gồm hiện tại.
Vâng, tôi có thể hiểu được: bạn phải đã tới tràn đầy hi vọng. Nhưng đó là vấn đề của bạn - tôi có thể làm gì được về nó? Bạn đã tới người sai rồi. Tôi không thể cho bạn nhiều hi vọng được, bởi vì hi vọng là chất độc. Tôi muốn lấy đi mọi khả năng của hi vọng khỏi bạn. Và nhớ lấy: khi mọi khả năng hi vọng bị lấy đi khỏi bạn, khi toàn thể chất độc được lấy ra khỏi hệ thống của bạn, bạn không cảm thấy vô vọng. Bạn đơn giản cảm thấy từ cả hai hi vọng và vô vọng - bởi vì vô vọng có thể tồn tại chỉ như cái bóng của hi vọng; nó không thể tồn tại mà không có hi vọng được. Cái bóng của bạn không thể tồn tại mà không có bạn; bạn được cần ở đó. Vô vọng chỉ là cái bóng của hi vọng.
Vứt bỏ hi vọng đi, và nhìn phép màu xảy ra - vô vọng cũng biến mất. Và khi không có hi vọng không có vô vọng, tự do lớn nảy sinh trong bạn. Bạn ở ngoài nhà tù của ham muốn.
Bạn nói: "Tôi tới đây tràn đầy hi vọng và vui vẻ."
Vui vẻ đó chỉ là ý tưởng - ý tưởng rằng cái gì đó sẽ xảy ra, rằng hi vọng của bạn sẽ được đáp ứng, rằng bây giờ bạn đã tìm ra thầy đúng. Đây là điều bạn bao giờ cũng muốn làm: tìm ra người có thể hoàn thành mọi hi vọng của bạn. Bây giờ bạn đã tìm thấy người đó, do đó có vui vẻ; vui vẻ là sản phẩm phụ của hi vọng. Nếu bản thân hi vọng là giả, làm sao vui vẻ, cái là sản phẩm phụ của nó, có thể là thực được? Nó không phải là vui vẻ thực, nó là hiện tượng giả, bởi vì bây giờ hi vọng đang biến mất, vui vẻ đang biến mất.
Và bạn nói: "... nhưng bây giờ tôi nhận ra rằng tất cả là vô nghĩa."
Vâng, nó tất cả là vô nghĩa. Hi vọng và vui vẻ mà hi vọng tạo ra, mơ tưởng và vui vẻ mà ý tưởng về hoàn thành chúng tạo ra - nó tất cả là vô nghĩa. Không phải là có vô nghĩa trong cuộc sống, nhưng nghĩa được khải lộ cho bạn chỉ khi bạn đã dừng mọi hoạt động vô nghĩa này. Khi tất cả những hoạt động này biến mất, nghĩa xuất hiện. Những hoạt động này đang ngăn cản nghĩa của bạn. Và khi nghĩa đó xuất hiện trong bản thể bạn nó là không thể diễn tả được, nó là tuyệt đối không thể trao đổi được, nhưng nó biến đổi toàn thể bản thể bạn: nó làm cho bạn chói sáng.
Người ta nói về Moses rằng khi ông ấy thấy Thượng đế trên núi, mặt ông ấy trở nên chói sáng, đầy ánh sáng, tươi sáng tới mức ông ấy phải che phủ nó, ông ấy phải đeo mạng che nó. Ông ấy đi tới người của mình với một cái mạng trên mặt. Họ ngạc nhiên. Họ nói, "Sao thầy che mặt vậy?"
Ông ấy nói, "Bởi vì nó đã trở nên chói sáng thế, đầy ánh sáng thế, và ta không muốn có vẻ linh thiêng hơn người khác." Đây là tính thánh nhân thực! "Ta không muốn chứng tỏ bản thân mình là cao siêu hơn người khác, và mặt ta đầy ánh sáng tới mức nếu ta đi cùng ông mà không có mạng che mặt, mọi người nhất định cảm thấy rằng ta đã trở thành người được chọn, rằng Thượng đế đã giáng xuống trong ta, rằng trái tim ta đã từng xúc động và được biến đổi."
Đó là một câu chuyện hay, cực kì có ý nghĩa. Đó là cách người linh thiêng thực sự bao giờ cũng sống: theo cách che mạng. Họ sống như người thường, đó là nghĩa của câu chuyện này. Không phải là họ thực sự che mặt họ đâu - không có nhu cầu; đó không phải là cách che giấu bản thân bạn. Nếu bạn đi với mặt bị che bạn sẽ hấp dẫn nhiều chú ý hơn. Mọi người có thể không nhìn vào mặt rạng ngời của bạn, bởi vì ai quan tâm về mặt khác và mặt của người khác? Mọi người đều bận tâm với mặt riêng của mình - mọi người đứng trước gương hàng giờ. Ai lo tới người khác? Ai có thời gian? Và nếu họ thấy ánh sáng họ có thể tìm cả nghìn lẻ một cách để giải thích tại sao nó vậy. Họ thậm chí có thể nghĩ: Người này ốm, bị bệnh, cái gì đó đã đi sai với hoá chất của người này. Có thể điện thân thể người đó đang rò rỉ ra hay cái gì đó - chập mạch hay cái gì đó. Nhưng nếu bạn đi với mặt che mạng, mọi người nhất định bị hấp dẫn tới bạn. Đàn bà Mô ha mét giáo hấp dẫn nhiều chú ý hơn bất kì ai khác. Mạng trở thành khêu gợi, lời mời: người ta muốn làm lộ ra bộ mặt và xem cái gì có đó. Tò mò lớn nảy sinh.
Cho nên câu chuyện này không kể lại cái gì có tính sự kiện - tôi không nghĩ Moses đã làm điều ngu xuẩn như vậy - nhưng nó có nghĩa rất ý nghĩa. Nó là biểu dụ. Nó đơn giản nói rằng người thực sự linh thiêng sống theo cách bình thường tới mức không ai sẽ trở nên nhận biết về tính linh thiêng của người đó chừng nào họ chưa đi tới rất gần người đó, chừng nào họ chưa trở thành gần như một phần của bản thể người đó. Người đó ăn như bạn - đó là lí do tại sao Jesus ăn như bạn, uống rượu, ở lẫn với người thường. Ông ấy vẫn còn bình thường, không giả vờ theo bất kì cách nào. Người linh thiêng thực sự là không tự ý thức về tính linh thiêng của mình, đó là nghĩa.
Nhưng tôi đã đọc một triết gia nghĩ khác. Các triết gia là những người kì lạ; họ có thể tìm ra lỗ hổng nơi không ai tồn tại. Họ chỉ quan tâm tới việc tìm ra lỗ hổng. Tôi đã bắt gặp một phân tích về biểu dụ này. Triết gia này nói rằng Moses đã che mặt mình không phải bởi vì ông ấy không muốn chứng minh tính linh thiêng của ông ấy cho mọi người nhưng bởi vì ông ấy sợ rằng sớm hay muộn ánh sáng này sẽ phai mờ và thế thì tính linh thiêng của ông ấy sẽ ở đâu? Cho nên tốt hơn cả với ông ấy là giữ cho mặt ông ấy được giấu kín để cho không ai đã bao giờ đi tới biết rằng ánh sáng đã phai mờ.
Bây giờ bạn thấy tâm trí thủ đoạn, tâm trí tinh ranh đấy! Tâm trí tinh ranh bao giờ cũng phá huỷ; nó bao giờ cũng có tính phá huỷ. Bây giờ một biểu tượng đẹp biến thành một thứ xấu. Bây giờ Moses có vẻ tinh ranh, sợ hãi, sợ mọi người - bởi vì ánh sáng sẽ phai mờ và khi mọi người thấy rằng ánh sáng đã phai mờ họ sẽ nghĩ, "Bây giờ Moses không còn là nhà tiên tri của chúng ta, người lãnh đạo của chúng ta." Sợ cho tương lai, ông ấy giữ mặt mình được che đậy để cho ông ấy có thể liên tục lừa dối mọi người.
Có những người sẽ tìm gai trong hoa hồng và có những người sẽ tìm hoa hồng trong gai. Thuộc vào loại thứ hai đi nếu bạn muốn biết Thượng đế, nếu bạn đã bao giờ muốn biết nghĩa thực của đời bạn, điều vĩ đại, niềm vinh quang, cái đẹp của bản thể bạn.
Đừng quan tâm thế tới hi vọng của bạn. Sự tồn tại không có nghĩa vụ với bất kì ai, nó chưa bao giờ hoàn thành hi vọng của bất kì ai; nó cứ đi theo cách riêng của nó. Bạn phải trở nên hoà điệu với nó. Đừng có bất kì mục đích riêng tư nào, và bạn sẽ có hài lòng vô cùng. Đừng vật lộn vì tham vọng riêng tư và ý tưởng bản ngã - không cần chứng minh cái gì, không cần là bất kì cái gì - bạn đã là cái đó rồi. Thượng đế đã làm ra bạn theo hình ảnh riêng của ngài. Không cái gì thiếu và không cái gì lỡ.
Bạn nói: "Trước đây, thầy đã làm cho tôi cảm động chảy nước mắt, nhưng chúng là những giọt nước mắt của cực lạc, giảm nhẹ, những giọt nước mắt đi theo khi người ta lắng nghe âm nhạc hay."
Tôi vẫn đang nói cùng lời, nó là cùng âm nhạc, nhưng diễn giải của bạn đã thay đổi. Thế rồi, bạn đã diễn giải lời tôi qua hi vọng của bạn; đã có bức màn giữa tôi và bạn. Bây giờ, tôi đang cố kéo xa bức màn đó để cho bạn có thể thấy tôi như tôi vậy và tôi có thể thấy bạn như bạn vậy.
Đệ tử và thầy phải hoàn toàn trần trụi với nhau, các bản thể trần trụi.
Bạn nói: "Bây giờ, ngay cả tình yêu của tôi với thầy bị đau."
Yêu thực bao giờ cũng đau bởi vì nó biến đổi. Tình yêu mà bạn cảm thấy trước đây là tưởng tượng của bạn. Bây giờ cái gì đó thực đang xảy ra. Nó đã là tình yêu của bạn, bạn đã không biết tình yêu của tôi. Nó là phóng chiếu của bạn. Bây giờ tôi ở đây, hiện diện; tôi sẽ phá huỷ mọi phóng chiếu của bạn. Tôi phải mang bạn về thực tế. Tôi là một người rất thực tế, tôi là người rất thực chứng. Tôi không thể giúp được các ý tưởng và mơ mộng lớn lao của bạn, chúng toàn là ngu xuẩn - chúng càng lớn hơn, chúng càng ngu hơn. Tôi sẽ phá huỷ mọi cực lạc lạc mốt của bạn và nước mắt và xúc động và uỷ mị.
Nhớ lấy, là nhạy cảm không có nghĩa là uỷ mị. Là nhạy cảm không có nghĩa là dễ động lòng. Bạn phải đã rất dễ động lòng, xúc động bởi bất kì cái gì - nhưng bạn đã bị xúc động bởi ý tưởng riêng của bạn, tôi không phải là một phần của nó. Xin đừng đổ lỗi cho tôi vì vui vẻ của bạn, vì cực lạc của bạn, vì hi vọng của bạn, vì những giọt nước mắt lớn lao đó chảy ra với bạn khi nghe âm nhạc của tôi. Đừng đổ lỗi cho tôi vì chúng. Tôi không chịu trách nhiệm cho chúng chút nào, nhưng tôi chắc chắn chịu trách nhiệm cho tình yêu đang làm đau bạn bây giờ.
Nếu bạn đủ dũng cảm và bạn có thể hấp thu tổn thương, cái đau, nỗi khổ của biến đổi, bạn sẽ cảm thấy biết ơn về sau. Chỉ về sau bạn mới có thể cảm thấy biết ơn; ngay bây giờ nó sẽ là việc ra đi nặng nề.
Bạn nói: "Nước mắt của tôi không cho sự giảm nhẹ."
Chúng sẽ không cho bạn cái gì đâu - không cái gì nữa. Tôi ở đây, tôi sẽ không cho phép nó!
"Tôi không thể chạm được vào cốt lõi bên trong của tôi."
Đừng lo nghĩ về cốt lõi bên trong. Để tôi phá huỷ cốt lõi bên ngoài và bạn sẽ ở trong tiếp xúc với cốt lõi bên trong của bạn; không có vấn đề về nó. Điều đầu tiên là phá huỷ cái vỏ cứng đã lớn lên quanh bạn, và điều đó làm đau.
Bạn sẽ muốn vẫn còn như bạn vậy và ở trong tiếp xúc với cốt lõi bên trong của bạn; điều đó là không thể được. Tôi bất lực, tôi không thể giúp bạn theo cách đó được. Tôi phải triệt phá cả ngôi nhà - tôi không tin vào sửa chữa. Đầu tiên toàn thể ngôi nhà, toàn thể những cái đổ nát mục nát phải bị phá huỷ và loại bỏ.
Nhưng mọi người yêu những thứ cũ rích, mục nát lắm. Họ cho chúng những cái tên đẹp - các đồ cổ. Tôi không phải là người yêu đồ cổ, không chút nào. Tôi yêu cái mới, cái tươi tắn, cái trẻ trung.
Tôi đã nghe:
Có một nhà thờ cổ, cổ tới mức mọi người thôi không đến nữa - họ sợ nó có thể đổ vào bất kì lúc nào. Các tu sĩ chống lại việc làm nhà thờ mới.
Tu sĩ bao giờ cũng chống lại cái mới, họ bao giờ cũng ủng hộ cái cũ - càng cũ càng tốt, bởi vì với cái cũ họ an toàn, với cái chết họ an toàn. Họ là tu sĩ của chết chứ không của sống.
Và ban quản trị chống lại điều đó nữa. Họ tất cả đều là những người già lão, anh em lớn tuổi của cộng đồng. Nhưng khi mọi người thôi tới và ngay cả các tu sĩ cũng sợ đi vào... Chỉ chút ít cơn gió mạnh và toàn thể toà nhả sẽ rung chuyển. Nó mục nát tới mức chính là phép màu mà nó vẫn đứng đó.
Cuối cùng họ phải triệu tập cuộc họp của ban quản trị. Họ họp - không bên trong nhà thờ mà ở nơi xa hẳn khỏi nhà thờ - và họ quyết định vài điều. Nghị quyết thứ nhất là: Nhà thờ cũ phải bị giật đổ. Không may, chúng ta bất lực - và nó phải được làm, Thượng đế tha thứ cho chúng ta. Đề nghị thứ hai là: Nhà thờ mới sẽ được xây dựng đích xác ở chỗ cũ và đích xác giống như nhà thờ cũ. Và đề nghị thứ ba là: Vật liệu của nhà thờ cũ - gạch, cửa, cửa sổ, mọi thứ - phải được dùng trong nhà thờ mới. Không cái gì mới phải được dùng trong nhà thờ mới; nó sẽ là mới chỉ theo cái tên thôi. Mọi thứ từ nhà thờ cũ phải được dùng và nhà thờ mới phải được làm ra từ nhà thờ cũ; không cái gì mới phải được thêm vào. Và đề nghị thứ tư là: Chừng nào nhà thờ mới còn chưa sẵn sàng chúng ta sẽ không phá nhà thờ cũ.
Đây là cách tâm trí con người ngu xuẩn liên tục làm việc. Đây là cách tâm trí bạn làm việc. Đây là cách tâm trí làm việc như vậy.
Marion, đừng lo nghĩ về cốt lõi bên trong. Nó có đó; dù bạn biết nó hay không nó vẫn có đấy. Bạn không thể hiện hữu mà không có cốt lõi bên trong, và bạn không thể biết được nó chừng nào cốt lõi bên ngoài chưa bị phá đổ. Chim không thể chui ra khỏi trứng được được chừng nào trứng chưa bị phá, bị đập vỡ. Một khi trứng bị vỡ chim có thể tự do. Chim có thể có cả bầu trời. Nó có thể tung cánh. Kiên nhẫn chút ít đi.
Marion mới đến vài ngày trước. Mới vài ngày trước cô ấy trở thành một sannyasin. Đừng vội vã thế. Đừng là người Mĩ thế!
Một người đàn bà Pháp đang nói chuyện với một người đàn bà Mĩ. Người đàn bà Pháp nói, "Đàn ông Pháp biết cách làm tình. Đầu tiên họ hôn trán bạn, thế rồi họ hôn má bạn, thế rồi họ hôn dái tai bạn, thế rồi họ hôn cổ bạn, thế rồi họ hôn lưng bạn..."
Người đàn bà Mĩ nói, "Đợi đã! Đến lúc đó người Mĩ đã trở về từ tuần trăng mật của anh ta rồi!"
Đừng là người Mĩ thế. Đợi đi. Đi chậm thôi. Hôn trán và mắt và má đã... Là người Pháp chút ít về nó đi! Vội gì? Có vài điều không thể được làm trong vội vã. Yêu không thể được làm trong vội vàng, lời cầu nguyện cũng không. Thiền không thể được làm trong vội vàng mà tự biến đổi cũng không. Đây là các quá trình rất rất im lặng, chậm rãi. Và bạn càng kiên nhẫn, chúng càng xảy ra nhanh hơn. Bạn càng ít kiên nhẫn, chúng càng lâu hơn.
Câu hỏi thứ hai:
Osho kính yêu,
Hôm nọ trong bài nói thầy có nhắc tới người Do Thái như là người rất thông minh. Lúc khác thầy đã mô tả người Do Thái một cách phủ định như doanh nhân tinh ranh. Thông minh dường như có mặt khẳng định và phủ định. Xin thầy bình luận.
Anand Akam, bạn nắm được vấn đề đấy! Nhưng nhớ, bạn thuộc vào mặt phủ định.
Vâng, thông minh, như mọi thứ khác, có cả hai khả năng: nó có thể khẳng định, nó có thể phủ định. Nếu thông minh có tính phủ định, nó là tinh ranh cực kì; nếu thông minh có tính khẳng định nó là thiền thuần khiết. Và phủ định là dễ vì phủ định là xuống dốc, và khẳng định là khó vì khẳng định là nhiệm vụ đi lên dốc. Phủ định là dễ bởi vì nó không đòi hỏi hi sinh từ bạn, và khẳng định là gian nan vì nó đòi hỏi hi sinh tối thượng - hi sinh của bản ngã. Phủ định hỗ trợ cho bản ngã và khẳng định là có thể chỉ khi bản ngã bị buông xuôi.
Chúng ta có cả hai loại người Do Thái ở đây. Akam, bạn thuộc vào phủ định. Tôi lấy làm tiếc nói điều đó - xin tha thứ cho tôi. Rất khó cho người phủ định tha thứ nữa; họ cảm thấy rất bị xúc phạm.
Nhưng có người Do Thái khẳng định nữa. Bạn nên đi cùng với vài người Do Thái khẳng định, chẳng hạn, Pradeepa - cô ấy là người Do Thái khẳng định. Tôi đã từng đùa về người Do Thái và nhiều thư gửi tới tôi hỏi, "Thầy có chống lại người Do Thái không?" Ngoại trừ Pradeepa, mọi người Do Thái đều nêu lên câu hỏi này vào lúc này lúc khác: "Thầy có chống lại người Do Thái không?" Làm sao tôi có thể chống lại người Do Thái được? Bản thân tôi là người Do Thái cổ... rất cổ đại! Bạn có thể rất mới.
Tôi không chống lại bất kì ai mà tôi cũng không ủng hộ bất kì ai; tôi chỉ phơi bày cho bạn những điều được cần phơi bày ra, bởi vì chỉ thế thì bạn mới có thể gạt bỏ chúng được.
Vâng, thông minh là tinh ranh nếu nó bắt đầu sa ngã đi xuống. Và sa ngã là dễ dàng và hỗ trợ bản ngã và nuôi dưỡng bản ngã tới mức mọi người, gần như mọi người, chọn sa ngã. Là láu lỉnh dường như là cách duy nhất để tồn tại và sống còn trong thế giới này, bởi vì mọi người khác đều tinh ranh. Nếu bạn tinh ranh hơn bạn có thể sống còn, nếu bạn kém tinh ranh bạn sẽ bị khai thác.
Cohen tới bác sĩ để kiểm tra sức khoẻ toàn diện. Anh ta mang theo mình một số lớn mẫu xét nghiệm lỏng mà bác sĩ y tế đã kiểm tra trong phòng thí nghiệm của mình.
"Mọi thứ đều tốt," bác sĩ trị liệu tuyên bố. "Không thể tìm được cái gì sai với các mẫu của anh."
"Không đường? Không lòng trắng trứng?" Cohen hỏi.
"Không chút nào. Anh ổn đấy."
"Tôi có dùng điện thoại của ông để gọi cho vợ tôi được không?"
"Tất nhiên."
"Tin tốt, em yêu," người Do Thái công bố qua điện thoại. "Em không mà anh không, trẻ con không, thậm chí bà cũng không có vấn đề gì với chúng ta."
Anh ta đã mang mẫu xét nghiệm của mọi người!
Trong thời của gestapo ở Đức, Schloss và Hirsch đang đi dọc phố Munich, thì một sĩ quan SS tiến tới họ. Schloss có chứng danh đúng nhưng Hirsch không có.
"Nhanh lên," Hirsch nói, "cậu chạy theo đường kia. Tên nazi sẽ đuổi theo cậu và tớ sẽ có khả năng thoát."
Schloss lao sang hướng được chỉ, bị đuổi theo sau là người SS, trong khi Hirsch trốn thoát. Khi tên nazi cuối cùng bắt được anh ta, hắn yêu cầu xem giấy tờ của Schloss. Hắn ta thấy chúng đều hợp lệ.
"Vậy sao anh chạy?" hắn ta hỏi.
"Tôi chỉ làm điều trị," Schloss nói, "và bác sĩ bảo tôi chạy sau khi uống thuốc."
"Nhưng anh không thấy tôi đuổi theo anh sao?"
"Có chứ, tôi tưởng có thể cả hai chúng ta đều đến cùng bác sĩ và anh cũng làm việc điều trị nữa."
Trong thế giới tinh ranh này dường như là cách duy nhất để tồn tại là phải tinh ranh hơn. Khi mọi người đang khai thác mọi người khác, là tinh ranh dường như là áo giáp, cho nên mọi người đều trở nên tinh ranh.
Mọi đứa trẻ được sinh ra đều hồn nhiên, Akam, và mọi đứa trẻ đều trở thành tinh ranh, đạo đức giả, rởm, lừa dối. Mọi đứa trẻ được sinh ra đều là thánh và mọi đứa trẻ biến thành tên vô lại. Mọi đứa trẻ được sinh ra đều có tính tôn giáo và mọi đứa trẻ đều trở thành chính khách. Và đó là điều xấu nhất có thể xảy ra cho con người.
Thận trọng rằng sống còn trong thế giới không nên là mục đích của bạn, bởi vì cho dù bạn sống sót, cái chết sẽ tới. Cho dù bạn có mọi tiền có thể, cái chết sẽ tới. Cho dù bạn có mọi quyền lực và mọi danh vọng, nó tất cả sẽ là hư huyễn, bởi vì bên trong bạn nghèo nàn, trống rỗng.
Người thông minh thực là người khám phá ra kho báu bên trong, người khám phá ra vĩnh hằng bên trong, người khám phá ra Thượng đế. Đó là định nghĩa của tôi về người thông minh: người khám phá ra Thượng đế. Chừng nào bạn chưa khám phá ra Thượng đế đừng nghĩ bản thân bạn là người thông minh. Bạn có thể có trí tuệ nhưng bạn sẽ không thông minh.
Và có trí tuệ là dễ dàng. Bạn có thể đi tới đại học và bạn có thể có được bằng cấp, chứng chỉ. Bạn có thể học sách vở, bạn có thể tới các thư viện, và bạn có thể trở nên quen thuộc với những từ lớn lao, hệ thống tư tưởng lớn lao. Bạn có thể trở thành người nói giỏi, người có tài nói chuyện, người viết giỏi, tác giả, triết gia, nhưng dầu vậy bạn sẽ không phải là người thông minh, nhớ lấy.
Thông minh là có thể chỉ qua thiền. Khi tâm trí tan biến trong thiền, khi ý nghĩ không còn là ám ảnh thường xuyên của bạn - khi bạn có thể gạt ý nghĩ sang bên bất kì khi nào bạn muốn và bạn có thể đi vào trong cái trống rỗng bên trong theo ý riêng của bạn, khi bạn không là nạn nhân của tâm trí bạn mà là người chủ - thế thì bạn là thông minh.
Và đó là những khoảnh khắc khi bạn khám phá ra bạn là ai. Bạn khám phá ra cuộc sống này là gì. Bạn khám phá ra nghĩa của từ Thượng đế là gì. Bạn không thể tìm thấy nghĩa này trong các từ điển, trong các bách khoa toàn thư; nó phải được tìm thấy bên trong bản thể bạn.
Akam, trở thành thông minh khẳng định đi. Tôi đã từng quan sát bạn: từ chính lúc bắt đầu, trong khi bạn đã ở đây bạn đã từng láu lỉnh. Và việc cố là láu lỉnh với tôi là hoàn toàn ngu xuẩn! Bạn có thể thành công với tôi chỉ nếu bạn là hồn nhiên toàn bộ, bằng không sẽ không có cây cầu giữa bạn và tôi. Bạn là một sannyasin, nhưng tôi chưa bao giờ thực sự cảm thấy bạn như một sannyasin. Để cho thực tôi phải nói điều đó. Có thể cú choáng đó sẽ đem bạn tới tỉnh táo và bạn sẽ bắt đầu nhìn vào toàn thể sự việc điều đang xảy ra giữa tôi và bạn. Bạn đang cố láu lỉnh. Và bạn không một mình trong điều đó, có nhiều người, cho nên đừng cảm thấy đơn độc. Đừng láu lỉnh với tôi, bằng không con người của bạn ở đây cùng tôi sẽ là vô dụng.
Chỗ này chỉ thuộc về những người có thể tin cậy, người có thể hồn nhiên, người có thể hoàn toàn như trẻ con. Thế thì thông minh lớn được thoát ra, và thông minh đó sẽ là ánh sáng trong bóng tối của linh hồn bạn. Thông minh đó sẽ trở thành ngọn đèn và nó sẽ có khả năng hướng dẫn bạn tới mục đích tối thượng.
Câu hỏi thứ ba:
Osho kính yêu,
Tại sao Phật ngần ngại thế trong việc cho phép đàn bà vào trong sangha của ông ấy? Tại sao ông ấy cảm thấy, ông ấy đã cảm thấy cái gì về đàn bà?
Nandan, nó phải đã là kinh nghiệm của ông ấy với đàn bà. Khi tôi trở nên chứng ngộ tôi chỉ mới hai mươi mốt và tuyệt đối không có kinh nghiệm về đàn bà, cho nên tôi không có vấn đề chấp nhận đàn bà vào trong sangha của tôi. Nhưng khi Phật trở nên chứng ngộ, ông ấy đã bốn mươi tuổi... Bây giờ bạn có thể hiểu. Ông ấy có nhiều kinh nghiệm, con người đáng thương, tới mức ông ấy muốn cứu đệ tử của ông ấy khỏi cùng kinh nghiệm đó.
Mulla Nasruddin trở nên rất sợ bất kì khi nào anh ấy bước đi trên đường, và nếu anh ấy thấy bất kì xe tải hay xe bus nào đi tới anh ta, anh ta bắt đầu run rẩy và vã mồ hôi.
Một hôm tôi đang đi bộ cùng anh ta dọc phố và tôi đã hỏi anh ta, "Có chuyện gì vậy? Bất kì khi nào xe bus hay xe tải đi qua anh đột nhiên bắt đầu vã mồ hôi và lảo đảo, run rẩy."
Anh ta đáp, "Vợ tôi chạy mất cùng một người lái xe tải và mọi lúc tôi nghe tiếng còi xe tôi lại sợ anh ta đem cô ấy trở lại."
Phật có nhiều kinh nghiệm với đàn bà, nhiều hơn bất kì ai khác, nhiều hơn bất kì người chứng ngộ nào khác trên thế giới. Mahavira là người đương đại với Phật, nhưng ông ấy đã không phản đối đàn bà, ông ấy lập tức chấp nhận họ. Khi họ xin được khai tâm, ông ấy đã khai tâm họ mà không ngần ngại gì. Tại sao ông ấy đã không phản đối? - bởi vì ông ấy dường như là nhiều kiểu khổ hạnh hơn Phật. Phật đi theo trung đạo; Mahavira là người cực đoan, người hoàn toàn cực đoan - ông ấy là khổ hạnh tuyệt đối. Theo ông ấy người ta phải đi tới chính cực đoan, người ta phải phủ nhận mọi thứ, từ bỏ mọi thứ. Chỉ thế thì bước nhảy tối thượng, cú nhảy tối thượng vào điều thiêng liêng xảy ra. Phật thảnh thơi hơn về điều đó. Ông ấy nói, "Đi theo tiến trình ở giữa đi. Không cần đi tới cực đoan. Không cần quá trần tục và không cần quá thế giới bên kia. Chỉ ở giữa."
Người ta chắc đã mong đợi Phật cho phép đàn bà vào tâm xã của ông ấy dễ dàng hơn Mahavira; nhưng Mahavira đã cho phép họ mà không ngần ngại gì - thậm chí không lúc nào ông ấy nói không. Ngày người đàn bà đầu tiên hỏi, ông ấy lập tức khai tâm cho cô ấy theo cùng cách ông ấy đã khai tâm cho đàn ông. Nhưng Phật liên tục từ chối đàn bà trong ít nhất mười năm. Ông ấy gần như bị ép buộc, bị cưỡng bách, bởi đệ tử riêng của ông ấy. Họ bắt đầu kêu và khóc và họ nói, "Điều này là không đúng!" Dầu vậy ông ấy vẫn nói, "Ta sẽ nghĩ về điều đó."
Nhưng cuối cùng, khi mẹ ghẻ của ông ấy yêu cầu được khai tâm, thật khó cho ông ấy nói không. Mẹ ông ấy đã chết ngay sau khi ông ấy được sinh ra, cho nên thực ra ông ấy không biết gì về mẹ mình cả, ông ấy được nuôi lớn bởi người mẹ ghẻ. Mẹ ghẻ là mẹ ông ấy; ông ấy biết bà ấy như mẹ mình. Và khi người mẹ yêu cầu được khai tâm, làm sao ông ấy có thể nói không được? Cho nên ngần ngại, không sung sướng gì... Và mưu đồ này đưa người mẹ vào là chiến lược của đàn bà khác và các đệ tử khác - họ thuyết phục người mẹ. "Nếu chị tới yêu cầu ông ấy sẽ không thể nói không được, và thế thì cánh cửa sẽ mở ra. Thế thì ông ấy sẽ không thể nói không với bất kì đàn bà khác nào." Một mưu đồ bởi vì từ bi lớn lao.
Tại sao Phật ngần ngại thế? Bởi lí do đơn giản... Bạn sẽ phải đi vào trong câu chuyện cuộc sống của Phật để hiểu tâm lí ông ấy, để hiểu tâm trí ông ấy, bởi vì ngay cả khi bạn trở nên chứng ngộ, bạn vẫn phải vận hành qua tâm trí, và tâm trí vẫn còn là cái cũ. Chứng ngộ là như nhau - Mahavira, Phật, Zarathustra, Jesus - nó không tạo ra khác biệt gì - nhưng tâm trí là khác. Và khi họ trao đổi với bạn, tâm trí phải được dùng, và tâm trí được tạo nên từ quá khứ. Phật có tâm trí nào đó, Mahavira có tâm trí khác.
Điều đã xảy ra cho Phật thực sự là rất hiếm hoi, duy nhất. Khi ông ấy được sinh ra, mọi nhà chiêm tinh lớn đều được bố ông ấy triệu vời để hỏi ông ấy sẽ trở thành cái gì. Mọi nhà chiêm tinh ngoại trừ một người trẻ nhất đều giơ hai ngón tay lên.
Người bố hỏi, "Các ông ngụ ý gì bởi hai ngón tay?"
Họ nói, "Hoặc nó sẽ trở thành một chakravartin, người chinh phục thế giới, một hoàng đế thế giới, người sẽ cai trị tất cả sáu lục địa, hoặc nó sẽ trở thành người từ bỏ, một sannyasin, người sẽ từ bỏ thế giới và sống như một kẻ ăn xin. Đây là hai khả năng. Cả hai đều để mở, và chúng tôi không thể nói một cách quả quyết cái nào sẽ xảy ra."
Thế rồi người bố rất sợ. Ông ta đã từng hi vọng lâu thế, và bây giờ, trong tuổi già của ông ta, đứa con trai được sinh ra - sẽ là tốt hơn nếu như nó đã không được sinh ra. Trong tuổi già bây giờ, mọi hi vọng là vào nó - nó sẽ tiến hành mọi tham vọng chưa hoàn thành của ông ấy - và nếu như nó từ bỏ thế giới điều đó sẽ là cú sốc lớn cho ông ấy, ông ấy có thể chết vì choáng. Ông ấy không thể quan niệm được hay chấp nhận được khả năng này.
Rất sợ, ông ấy hỏi Kondanna, nhà chiêm tinh trẻ nhất người giơ một ngón tay. Ông ấy hỏi Kondanna, vì mặc dầu anh ta là trẻ nhất, anh ta là nhà chiêm tinh nổi tiếng nhất; cảm nhận của anh ta là rõ ràng nhất. Ông ấy sợ vì anh ta giơ chỉ một ngón tay - anh ta có thể giơ nó cho tính chất sannyas, anh ta có thể giơ nó vì cậu bé có thể trở thành một hoàng đế lớn, một chakravartin.
Nhà vua hỏi anh ta, "Ông ngụ ý gì bằng việc giơ một ngón tay?"
Kondanna nói, "Điều đó sẽ làm đau bệ hạ, nhưng tôi không thể đừng được điều đó. Con ngài sẽ trở thành một sannyasin; điều đó là tuyệt đối chắc chắn. Nó sẽ từ bỏ thế giới, nó sẽ từ bỏ gia đình, nó sẽ từ bỏ cung điện và vương quốc, và nó sẽ đi vào trong rừng rậm để thiền, vì nó được định mệnh trở thành vị Phật vĩ đại nhất."
Người bố bắt đầu khóc. Ông ấy nói, "Cứu nó đi! Ta sẵn sàng làm bất kì cái gì."
Kondanna nói, "Tôi không thể giúp gì được. Điều này là tuyệt đối định mệnh rồi. Trong nhiều kiếp nó đã từng tìm và kiếm và kiếm; bây giờ việc tìm kiếm đã đi tới đỉnh tối thượng của nó. Đây là kiếp sống cuối cùng của nó. Và tôi sẽ không là một phần làm sao lãng nó."
Kondanna ra đi, nhưng những nhà chiêm tình già khác vẫn còn lại và họ nói, "Có một khả năng. Đừng lo về Kondanna này; anh ta không có kinh nghiệm. Mặc dầu anh ta rất nổi tiếng, anh ta còn trẻ. Nhưng chúng tôi nhiều kinh nghiệm hơn, chúng tôi biết cuộc sống nhiều hơn. Chúng tôi biết rằng cuộc sống bao giờ cũng là việc chọn lựa, không cái gì là được quyết định tuyệt đối thế. Chiêm tinh học chỉ có thể chỉ ra các phương án mơ hồ. Chiêm tinh học không phải là khoa học chính xác thế mà người ta có thể nói, 'Hai cộng với hai nhất định là bốn.' Khi nó là ba, khi nó là năm. Đừng lo nghĩ."
Họ an ủi nhà vua và họ nói với ông ấy, "Làm một điều này: từ chính lúc bắt đầu giữ cho nó trong xa hoa, giữ cho nó trong tiện nghi tới mức nó không bao giờ nghĩ tới từ bỏ. Để cho nó trở nên quen với xa hoa và tiện nghi tới mức chính ý tưởng đi vào rừng sẽ làm cho nó sợ. Làm cho nó ba cung điện ở các chỗ khác nhau cho các mùa khác nhau, để cho mỗi mùa đều đẹp cho nó."
Ba cung điện đó đã được xây dựng ở ba chỗ khác nhau. Vào mùa hè nó sẽ ở trong chỗ gần giống như một trạm trên núi nơi không có mùa hè, nơi trời mát mẻ. Vào mùa đông nó sẽ chuyển sang cung điện nóng hơn nơi trời ấm. Vào mùa mưa nó sẽ chuyển tới chỗ không quá mưa nhiều - chỉ chút ít mưa rào thỉnh thoảng có - và nó sẽ tận hưởng những cơn mưa rào nhỏ đó. Những cung điện đẹp có hồ, có vườn trải dài hàng dặm đường.
Và một người già gợi ý, "Tìm đàn bà đẹp nhất nước, Để cho những người đàn bà đó chăm sóc nó."
Thế là mọi đàn bà đẹp trong nước được triệu tới, và họ đi vào phục vụ Siddhartha, người chung cuộc sẽ trở thành vị phật. Ông ấy đã sống với đàn bà.
Các nhà chiêm tinh nói rằng nó phải không bao giờ được phép thấy người già, bởi vì điều đó có thể làm dậy lên câu hỏi trong tâm trí nó: Mình cũng sẽ trở nên già sao? "Không bao giờ để cho nó thấy bất kì ai chết, không thấy thậm chí cả chiếc lá khô "... bởi vì Lão Tử đã trở nên chứng ngộ bởi việc thấy chiếc lá khô rụng khỏi cây. Đó là sự cố rất chấn động, sự cố quan trọng vô cùng đối với Lão Tử. Thấy chiếc lá khô ông ấy lập tức nghĩ, "Mình cũng sẽ chết một ngày nào đó như chiếc lá này - cát bụi về với cát bụi. Trước điều đó cái gì đó phải được làm. Trước điều đó mình phải biết liệu có gì nhiều hơn để sống, hay chỉ cái trần tục này, cái nông cạn, cái gọi là cuộc sống. Liệu có cái gì nhiều hơn thời gian không?"
Cho nên họ nói, "Thậm chí trong vườn không nên để nó được phép thấy một chiếc lá khô hay hoa héo." Và nhà vua đã xoay xở điều đó theo cách đó - tôi không nghĩ người nào đã sống trong xa hoa như thế như Phật Gautama mãi tới năm hai mươi chín tuổi. Toàn đàn bàn đẹp có sẵn cho ông ấy. Cả ngày của ông ấy từ sáng tới đêm chỉ là cắm trại, ngày nghỉ lễ: nhảy múa, ca hát, âm nhạc - đàn bà đẹp có sẵn, mọi thứ xa hoa - không có vấn đề gì, không lo âu. Và về căn bản chính bởi vì điều này mà một ngày nào đó ông ấy đã trốn đi - ông ấy trở nên chán ngán.
Quá nhiều xa hoa là điều nguy hiểm. Dễ là nghèo và ở trong thế giới, bởi vì người ta liên tục hi vọng. Rất khó là thực sự giầu và không từ bỏ thế giới, bởi vì việc giầu có làm thất vọng nhiều hơn bất kì cái gì khác. Khi bạn có mọi thứ giầu có và bạn thấy rằng bạn khổ như trước, cái giầu mất mọi nghĩa.
Arnold đã viết một trong những cuốn sách hay nhất về Phật, Ánh sáng của châu Á, trong đó ông ấy mô tả khung cảnh mà Phật bỏ nhà, cung điện. Đến mười hai giờ trong đêm khuya vẫn còn nhảy múa và âm nhạc và đàn bà đẹp nhảy múa quanh ông ấy. Thế rồi đã quá muộn, ông ấy cảm thấy buồn ngủ và những đàn bà này cũng cảm thấy buồn ngủ trong cùng phòng.
Đến giữa đêm - lúc đó là đêm trăng tròn: trăng rọi qua cửa sổ, ánh trăng tới trong phòng - Phật nhìn quanh vào những khuôn mặt đẹp. Cái miệng nào đó mở ra và nước bọt chảy ra - và điều đó thật kinh tởm. Đàn bà nào đó đang ngáy - nhạc sĩ đẹp và vậy mà ngáy to thế và với cái xấu tới mức ông ấy cảm thấy rất kinh tởm. Ông ấy đi quanh phòng - nó là hỗn độn. Tất cả những người đàn bà đẹp đó ông ấy lần đầu tiên thấy thực tại của họ. Trang điểm của họ mất rồi, lông mi giả của họ đã rơi ra; ông ấy có thể thấy họ thực sự trông thế nào. Ông ấy bỏ cung điện chính đêm đó.
Và cứ nghĩ về một người đàn ông đã sống trong hai mươi chín năm cùng đàn bà - và chỉ đàn bà... Điều đó phải đã là nguyên nhân.
Bạn hỏi tôi: "Tại sao Phật ngần ngại thế để cho phép đàn bà vào tâm xã của ông ấy?"
Do từ bi với các khất sĩ nghèo, các sannyasins, bởi vì ông ấy biết họ có thể trở thành nạn nhân. Họ đã không sống cuộc sống xa hoa thế. Nhiều người trong số họ đã không biết thực tại của đàn bà.
Chán ngấy với niềm tin mù quáng Mĩ và vì cô vợ chì chiết, Ashford đi New Guinea và trở thành một kẻ ăn thịt người. Sáu tháng sau vợ anh ta theo dõi và bắt được anh ta với một lệnh toà án không hỗ trợ. Chỉ có một việc để làm: anh ta ăn cô ta.
Đoán cái gì không? Cô ấy vẫn bất đồng với anh ta!
Quá nhiều kinh nghiệm về giới khác là chán. Và nó không chỉ là vậy với đàn bà, nó là cùng điều với đàn ông. Nếu Phật mà là đàn bà ông ấy chắc đã ngần ngại khai tâm cho đàn ông. Cho nên điều tôi đang nói chẳng liên quan gì tới đàn bà như thế; chỉ là ngẫu nhiên mà ông ấy là đàn ông. Nếu ông ấy đã không là đàn ông, nếu ông ấy là đàn bà, người đã sống với đàn ông trong hai mươi chín năm, cùng điều đó chắc đã xảy ra. Ông ấy chắc đã không dễ dàng cho phép đàn ông vào trong tâm xã của mình.
Một quí ông người Anh già đang ngồi yên tĩnh trong câu lạc bộ London thì một người bạn cũ tới và nói, "Tôi xin lỗi, ông bạn già, nghe nói rằng ông mới chôn vợ ông hôm qua."
"Phải chôn chứ," người kia đáp lại. "Chết rồi, ông biết đấy."
Câu hỏi thứ tư:
Osho kính yêu,
Địa ngục có thực tồn tại không?
Có chứ! Lúc ban đầu Thượng đế muốn tạo ra địa ngục, nhưng sau khi tạo ra Ấn Độ ngài đã đổi ý. Một khi ngài đã tạo Ấn Độ rồi thật vô dụng mà tạo ra địa ngục, đó là việc phí hoài ghê gớm về thời gian và không gian. Và bạn ở đây ở Ấn Độ, và bạn vẫn hỏi: "Địa ngục có thực tồn tại...?"
Nó ở khắp chỗ này. Ấn Độ là rất đại diện: nó đại diện cho địa ngục. Chết đói, khổ, nghèo. Và không chỉ điều đó - ngu xuẩn vô cùng. Mọi người bám lấy cái nghèo của họ, cái chết đói của họ. Họ không chỉ bám lấy, mà họ hợp lí hoá nó, họ làm ra nhiều thứ từ nó, họ ba hoa về nó. Họ nghĩ rằng là nghèo là cái gì đó tâm linh, ốm và chết đói dường như là cái gì đó linh thiêng.
Bá tước Keyserling tới Ấn Độ. Con trai của con trai của ông ấy là một trong các sannyasin của tôi bây giờ. Trong nhật kí của mình ông ấy viết: Ở Ấn Độ tôi nhận ra rằng là nghèo là tâm linh, là ốm là tâm linh, là chết đói là tâm linh.
Còn hơn cả chết đói, còn hơn cả khổ, chính cái ngu xuẩn tạo ra địa ngục. Ấn Độ bám lấy khổ của nó, nó ba hoa về điều đó. Nó nghĩ: Toàn thế giới là trần tục trừ chúng ta. Chúng ta là dân tộc tôn giáo, chúng ta là thế giới khác.
Bạn phải là ở thế giới khác rồi, bởi vì đó là hi vọng duy nhất của bạn. Thế giới này bạn đã làm cho nó xấu thế, cuộc sống này bạn đang sống trong khổ tới mức bạn không thể sống được chút nào nếu đây là cuộc sống duy nhất. Bạn phải phóng chiếu các ý tưởng của bạn vào cuộc sống sau cái chết.
Cho nên người Ấn Độ bao giờ cũng nghĩ về cuộc sống sau cái chết. Người Ấn Độ tới tôi và họ hỏi, "Cái gì xảy ra sau chết?"
Tôi bảo họ, "Đừng nói điều vô nghĩa - hỏi cái gì xảy ra trước chết đi. Câu hỏi thực là trước chết, không phải sau chết. Và bất kì cái gì xảy ra trước chết sẽ tiếp tục xảy ra sau chết. Đừng lo nghĩ về nó."
Nhưng tôi có thể hiểu tại sao họ không hỏi về sống. Họ tất cả đều lắng đọng vào cái xấu của nó, họ không sẵn sàng thay đổi nó. Đây là địa ngục, và được tạo ra bởi bản thân mọi người. Không quỉ nào chịu trách nhiệm cho điều đó.
Bạn có thể thay đổi nó. Cho dù có địa ngục, nếu người đúng đi tới đó họ sẽ thay đổi nó.
Tôi đã nghe một câu chuyện:
Một người vô thần hỏi một linh mục... vì linh mục đã nói trong bài giảng của ông ấy hôm đó rằng những người tin vào Thượng đế và người làm hành vi đức hạnh được lên cõi trời, còn người không tin vào Thượng đế và người là tội nhân đi xuống địa ngục.
Người vô thần giơ tay và hỏi, "Thưa ngài, thế thì một câu hỏi cần được giải quyết. Những người không tin vào Thượng đế và vậy mà làm hành vi đức hạnh thì sao, họ sẽ đi đâu? Và những người tin vào Thượng đế vậy mà là tội nhân, họ sẽ đi đâu?"
Linh mục đâm ra lúng túng, một cách tự nhiên. Nếu ông ấy nói rằng người đức hạnh sẽ xuống địa ngục vì họ không tin vào Thượng đế, điều đó có vẻ không đúng. Thế thì phỏng có ích gì mà là đức hạnh? Thế thì chỉ tin vào Thượng đế thôi và tận hưởng mọi tội lỗi bạn có thể tận hưởng. Sao bận tâm về là đức hạnh? Nếu ông ấy nói rằng những người sẽ lên cõi trời là người tin vào Thượng đế và người vẫn là tội nhân, thế thì chỉ tin là đủ. Cho nên Thượng đế không quan tâm tới cái gì bạn làm, ngài không quan tâm tới hành động của bạn. Bạn có thể giết hại, bạn có thể là một Genghis Khan hay một Adolf Hitler, nếu bạn vẫn tin vào Thượng đế.
Và Adolf Hitler tin vào Thượng đế, nhớ lấy. Genghis Khan tin vào Thượng đế, nhớ lấy: trước khi tàn sát hàng nghìn người, mọi ngày vào sáng sớm ông ta đều đọc thuộc lòng Koran. Điều đầu tiên là namaz, lời cầu nguyện, và thế rồi ông ta sẽ đi vào mọi loại điều xấu xa, tàn sát không thể tưởng tượng nổi.
Linh mục này phải đã là một người rất nhạy cảm, tỉnh táo. Ông ấy nói, "Xin cho tôi thời gian. Câu hỏi này khó, nó không dễ dàng thế. Chủ nhật tới tôi sẽ trả lời."
Bẩy ngày đó thực sự là địa ngục cho linh mục này; ông ấy cố cách này cách nọ, nhưng chẳng cái gì có tác dụng. Chủ nhật tới, và ông ấy biết người hữu thần sẽ có đó, nhưng không xuất hiện sẽ là việc mất mặt. Cho nên ông ấy tới sớm hơn chút ít để cầu Jesus Christ, "Xin giúp tôi với! Tôi là người hầu của ngài, tôi đã nói nhân danh ngài. Bây giờ xin giúp tôi đi - manh mối là gì? Người này đã tạo ra rắc rối thế!"
Cầu tới Christ - và trong bẩy ngày ông ấy đã không ngủ, nghĩ cả đêm, nghĩ cả ngày - ông ấy rơi vào giấc ngủ trước tượng của Christ và ông ấy có giấc mơ. Trong giấc mơ ông ấy thấy một chuyến tầu hoả sẵn sàng đi cõi trời. Ông ấy nhảy lên. Ông ấy nói, "Điều này hoàn toàn đúng. Sao mình không đi tới đó và nhìn bằng chính mắt riêng của mình? Nếu mình thấy Adolf Hitler, Genghis Khan, Tamburlaine, trên cõi trời, thế thì câu hỏi này được giải quyết. Hay nếu mình thấy Socrates, người đã không tin vào Thượng đế nhưng là một trong những người đức hạnh nhất trong con người, nếu mình thấy Phật Gautama, người không tin vào Thượng đế nhưng là một trong những người thần thánh nhất đã từng bước đi trên thế gian, thế thì câu hỏi này được giải."
Ông ấy xô vào tầu và con tầu rời đi. Ông ấy tới cõi trời. Ông ấy có chút ít ngạc nhiên, phân vân, bởi vì cõi trời không có vẻ rất cõi trời; nó rất buồn, đờ đẫn và chán ngắt - không vui vẻ, không nắng chói, không bài ca. Ông ấy đã nghe nói nhiều về các thiên thần liên tục chơi đàn hạc và hát và nhảy múa. Không đàn hạc, không ca hát, không nhảy múa. Chỉ vài thánh nhân có vẻ ngu xuẩn ngồi dưới cây phủ đầy bụi.
Ông ấy hỏi - ông ấy đi tới trưởng ga và hỏi, "Có nhầm lẫn gì không? Đây là cõi trời thực sao?"
Trưởng ga nói, "Vâng, và không có nhầm lẫn đâu."
Nhưng linh mục nói, "Nó có vẻ giống địa ngục hơn! Có chuyến tầu nào đi địa ngục không? - vì tôi muốn xem địa ngục nữa, thế thì tôi có thể so sánh được."
Ông ấy lấy đặt chỗ, đi xuống địa ngục - và ông ấy thực sự còn ngạc nhiên hơn là ông ấy đã thấy cõi trời. Có vui vẻ, có bài ca và âm nhạc - tất cả đều nắng chói và sáng lạn. Mọi người làm việc, mọi người có ánh sáng trong mắt họ. Không quỉ, không ngọn lửa địa ngục, không ai tra tấn - không cái gì. Thế là ông ấy hỏi: "Đây có vẻ giống cõi trời hơn!"
Và trưởng ga nói, "Vâg, bây giờ nó thế đấy, nhưng trước đây nó thường chỉ là như cách nó được mô tả trong kinh sách của ông. Từ khi Phật, Mahavira và Socrates tới đây, họ đã biến đổi nó."
Một người rất giầu sắp chết yêu cầu vợ mình hứa sẽ chôn mình mà không mặc quần áo gì. Ông ấy là một người khổ tới mức ông ấy nghĩ: Sao không tiết kiệm quần áo?
Bà vợ bị choáng, nhưng ông ấy nói, "Nghe anh đi, anh biết cách anh đi. Anh sẽ không cần quần áo dưới đó đâu, nó quá nóng."
Khi ông ta cuối cùng qua đời, bà vợ giữ lời hứa. Vài ngày sau, ngay khi bà goá đang chuẩn bị đi ngủ buổi tối, hồn ma của người nà xuất hiện qua cửa sổ và nói, "Lấy cho anh đồ lót mùa đông và áo khoác ngoài bằng vải tuýt, em yêu. Có nhiều người giầu ở địa ngục bây giờ tới mức họ đã lắp điều hoà nhiệt độ rồi!"
Điều đó tất cả phụ thuộc vào bạn. Địa ngục không phải là một phần của địa lí, nó là một phần của tâm lí của bạn, và cõi trời cũng vậy. Bạn tạo ra địa ngục của bạn, bạn tạo ra cõi trời của bạn. Và nó không ở tương lai đâu. Ở đây bây giờ ai đó đang sống trong cõi trời và ai đó đang sống trong địa ngục - và họ có thể ngồi cùng nhau, họ có thể là bạn bè.
Ngay bây giờ, tôi nói với bạn, tôi đang ở cõi trời, và tôi đang mời bạn tới trong không gian của tôi và chia sẻ nó. Đó là điều tính chất sannyas tất cả là gì: lời mời được trao, lời mời được nhận: lời mời từ phía tôi và cử chỉ từ phía bạn rằng "vâng, tôi sẵn lòng tới trong không gian của thầy."
Đừng lo nghĩ về địa ngục và cõi trời; chúng chỉ là các trạng thái của bạn. Nếu bạn sống trong tâm trí, bạn sống trong địa ngục. Nếu bạn sống trong vô trí, bạn sống trong cõi trời.
Câu hỏi thứ năm:
Osho kính yêu,
Ai đó đã nói với thầy rằng xe Buick là xe của tụi ma cô, và bây giờ tin tức tôi truyền đạt là ở chỗ xe Cadillac là xe của ma cô, ít nhất trong thành phố New York và Oakland, California! Cho nên, xe Lincoln Continental Mark IV thì sao, như xe các tổng thống Mĩ vẫn đi ấy?
Kavita, điều đó còn tồi hơn nhiều! Thế thì tôi muốn quay lại với xe Impala của tôi và là thợ ống nước. Đó là điều tôi đang là: thợ ống nước của tâm trí, thợ ống nước của linh hồn!
Nhưng dường như không xe nào sẽ đi tới đâu. Thực ra, tôi cần con voi mầu cam!
Câu hỏi cuối cùng:
Osho kính yêu,
Triết học là gì?
Sudarshan, triết học là nỗi ám ảnh với từ. Từ Thượng đế trở thành nhiều ý nghĩa hơn là kinh nghiệm về Thượng đếp; đó là triết học. Triết gia hỏi: Ông ngụ ý gì khi ông dùng từ Thượng đế? Ông ngụ ý gì khi ông dùng từ chân lí? Ông ngụ ý gì khi ông dùng từ tốt? Ông ngụ ý gì khi ông dùng từ yêu?
Triết học nhiều ít là hiện tượng ngôn ngữ, vấn đề của ngôn ngữ và văn phạm, của việc chẻ sợi tóc và đấm bóng. Nó không liên quan tới thực tại chút nào. Nó nói về thực tại. Nhưng nhớ lấy, nói về thực tại là một điều và đi vào trong thực tại là chuyện hoàn toàn khác. Triết lí là nói, tôn giáo là kinh nghiệm.
Quan tâm của tôi là vào tôn giáo, không vào triết học chút nào.
Hàng xóm của Noah Webster đi vào trong phòng để thức ăn và thấy anh ta đang hôn cô phục vụ xinh xắn.
"Ông Webster của tôi ơi!" bà ấy kêu lên. "Tôi ngạc nhiên!"
"Không, bà bạn thân mến," ông Webster nói với nụ cười thể hiện sự quở trách. "Bà sững sờ, tôi ngạc nhiên."
Nó chỉ là vấn đề từ ngữ - thực tại bị gạt sang bên. Webster là nhà ngôn ngữ, nhà văn phạm lớn. Ông ấy đổi từ, ông ấy nói, "Không, bà bạn thân mến, bà sững sờ đấy. Bà đang dùng từ sai khi bà nói 'Tôi ngạc nhiên.' Bà sững sờ, tôi ngạc nhiên."
Nhấn mạnh - bạn thấy sự nhấn mạnh - không còn vào hành động hôn cô phục vụ xinh xắn, nhấn mạnh là vào từ sai hay từ đúng.
Các triết gia cứ liên tục dùng từ, và từ có cách riêng của chúng. Từ này mang tới từ khác, cứ thế mãi. Bạn có thể liên tục tới vô hạn; không có kết thúc cho từ. Bạn có thể bịa ra, chế ra, những từ mới, và bạn có thể tạo ra ồn ào tới mức bạn có thể làm mê hoặc mọi người. Triết học là thủ thuật đoạn tâm trí, một thủ đoạn rất phức tạp nhưng là thủ đoạn tâm trí.
Tôn giáo không liên quan gì với triết học, tôn giáo là chiều hướng khác toàn bộ. Nó đi ra ngoài lời, nó đạt tới kinh nghiệm. Tôn giáo có tính tồn tại, triết học có tính trí tuệ. Và bạn có thể hiểu ngay cả một điều nhỏ bé như bông hồng một cách trí tuệ.
Nếu bạn cố hiểu bông hồng và cái đẹp của nó một cách trí tuệ, hoặc bạn phải nói rằng cái đẹp là không thể định nghĩa được - đó là cách khác để nói rằng nó là không thể nghĩ được - hay bạn phải nói không có cái đẹp chút nào; nó toàn là phóng chiếu, nó toàn là ảo tưởng. Đây là hai phương án duy nhất cho triết học.
Triết gia nói, "Thượng đế là ảo tưởng, chân lí là ảo tưởng, yêu là ảo tưởng" - ông ấy cố chứng minh mọi thứ là ảo tưởng - và thế rồi đột nhiên ông ấy đâm ra lúng túng phải làm gì; ông ấy trong khổ sâu sắc, trong thất vọng lớn. Sống dường như chỉ là hỗn độn không có nghĩa cho nó. Thế thì tự tử dường như là lối ra duy nhất từ toàn thể đống lộn xộn này.
Nhiều triết gia nghĩ tới tự tử và nhiều người tự tử nữa. Và những người không thể tự tử được - họ phát điên. Chính ở giữa hai loại này, không sống không chết, chỉ treo trong tình trạng lấp lửng, đó là tính điên.
G. E. Moore đã viết một cuốn sách lớn, khi có liên quan tới sách, Principia Ethica. Trong hai trăm trang ông ấy đã thảo luận 'tốt' là gì. Nếu ai đó hỏi tôi, "Tốt là gì?" tôi sẽ nói, "Nó là không định nghĩa được" - ngay bây giờ, ngay lập tức. Nhưng ông ấy đi tới kết luận rằng nó là không thể định nghĩa được sau hai trăm trang - và hai trăm trang logic lớn. Ông ấy là một trong những nhà logic lớn nhất của thời đại này.
Ba cái tên này là rất quan trọng: G. E. Moore, Bertrand Russell, Ludwig Wittgenstein.
Hai trăm trang của một công trình gian khổ lớn - bao nhiêu mồ hôi và không cái gì của hứng khởi! - và thế rồi kết luận là ở chỗ tốt không thể định nghĩa được, bởi vì tốt là phẩm chất đơn giản như mầu vàng. Làm sao bạn có thể định nghĩa được mầu vàng? Vàng là vàng. Bạn có thể nói gì hơn về mầu vàng? Nhưng bạn có phải đi qua địa ngục này của hai trăm trang chỉ để đi tới kết luận đơn giản rằng sống là không định nghĩa được, nó là điều huyền bí - điều nhà huyền môn bao giờ cũng nói?
Bạn không thể giải được huyền bí của cuộc sống. Vâng, bạn có thể tận hưởng nó, bạn có thể đi sâu vào trong bí ẩn và trở thành một phần của nó, bạn có thể nhảy múa nó, bạn có thể hát nó, bạn có thể mở hội nó, nhưng bạn không thể hiểu được nó.
Triết học cố hiểu và đi tới không hiểu. Tôn giáo chưa bao giờ cố hiểu và đi tới hiểu biết sâu.
Thận trọng với lời đi! Lời là rất làm say mê, thôi miên. Thỉnh thoảng bạn có thể bị mắc vào trong toàn thể cái lưới lời.
Hai quí bà đang tiến hành cuộc điều tra nhà trường bấm chuông cửa, được trả lời bởi một người đàn ông đang cầm vòi tắm và che bản thân mình chỉ bằng một tờ báo. Ông ta bảo họ rằng ông ta là Peter Pepperpod, vợ là Pauline, các con trai là Paul và Peter Jr., cả hai đều ở trường của các bà. "Tôi là người đóng gói lạc cho xưởng lạc Planter's Peanuts và mặt khác làm việc bán thời tìm tòi lập kế hoạch tiệc tùng."
Về sau một trong hai quí bà đi nhà vệ sinh ở trạm bán xăng đầu tiên họ đi qua và không quay lại trong suốt mười lăm phút. Bà ấy giải thích cho bà kia, "Tôi vừa ngồi đó và chợt nghĩ về cái ông Peter Pepperpod dễ coi đó, người đóng gói lạc cho xưởng Planter's Peanuts và làm việc bán thời tìm tòi lập kế hoạch tiệc tùng, đứng đó với việc dò tìm sỗ sàng, sững sờ qua tờ báo, và điều đó làm cho bướm tôi co lại với lỗi nhỏ tới mức tôi không thể đái được!"
Đó là triết học là gì!
Đủ cho hôm nay.
Xem tiếp Chương 9 Quay về Mục lục

0 Đánh giá

Ads Belove Post