Chương 6. Bánh này ngon tuyệt

Chương 6. Bánh này ngon tuyệt

Price:

Read more

Chính thân này là phật - Osho

Bài nói về Bài ca Thiền của Bạch Ẩn

Chương 6. Bánh này ngon tuyệt



Powered by RedCircle


Thiên đường mảnh đất thuần khiết là không xa.

Khi trong tôn kính chân lí này được nghe thấy cho dù một lần,

Người ca ngợi nó và vui mừng ôm choàng nó có công trạng không kết thúc.

Bao nhiêu công trạng hơn nữa người đó có nếu người đó quay vào trong

và xác nhận trực tiếp bản tính riêng của người đó, rằng bản tính riêng của người đó là vô bản tính - như vậy đã siêu việt trên lời vô dụng.

Cổng mở, và nhân quả là một;

chạy thẳng con đường - không hai, không ba. Coi hình tướng của vô tướng là hình tướng, đi và trở về, người đó bao giờ cũng ở nhà.

Coi ý nghĩ là ý nghĩ về vô ý nghĩ,

hát và múa, tất cả là tiếng nói của chân lí. Rộng là trời của samadhi vô biên,

Rạng ngời trăng tròn của bốn trí huệ. Cái gì còn lại để được tìm?

Niết bàn là rõ ràng trước người đó,

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, Chính thân này là Phật.

Con người sống trong ảo vọng. Con người sống qua ảo vọng. Con người sống vì ảo vọng. Tóm lại, con người sống vì ảo vọng. Do đó có sợ chân lí. Không ai muốn chân lí, mặc dầu mọi người liên tục tìm kiếm nó. Việc tìm kiếm đó là lừa dối, việc tìm kiếm nó là né tránh. Tìm kiếm chân lí ngụ ý né tránh chân lí.

Điều đó phải được hiểu - làm sao người tìm kiếm liên tục né tránh chân lí. Tìm kiếm ngụ ý nhìn ra xa, tìm kiếm ngụ ý nhìn đi đâu đó khác, tìm kiếm ngụ ý đi trên cuộc hành trình. Tìm kiếm ngụ ý trì hoãn - tìm kiếm ngụ ý nó sẽ xảy ra ngày mai hay ngày kia, nó không xảy ra ngay bây giờ. Nó không ở đây, nó ở kia. Nó không là cái này, nó là cái kia.

Con người liên tục sống trong ảo vọng. Nhưng để sống trong ảo vọng, người ta cần tránh chân lí, vì nếu chân lí tới, nó sẽ làm tan tành mọi ảo tưởng của bạn và mọi cái gọi là cuộc sống của bạn và mọi cái gọi là yêu của bạn. Chân lí có vẻ như thảm hoạ. Và Friedrich Nietzsche là đúng theo nghĩa mà ông ấy nói: Xin đừng trao chân lí cho nhân loại. Bằng không bạn sẽ phá huỷ niềm vui của mọi người, bạn sẽ phá huỷ nhiệt tình của họ, bạn sẽ phá huỷ sự thích thú của họ. Đừng trao chân lí cho nhân loại, bằng không mọi điều họ có, sẽ biến mất. Vì mọi điều họ có, là một loại mơ. Đừng đánh thức nhân loại, bằng không mơ sẽ bị đập tan tành. Và họ có thể thấy những giấc mơ đẹp - hay hi vọng thấy, ở đâu đó, lúc nào đó.

Đó là lí do tại sao Christ bị đóng đinh, Socrates bị đầu độc, Phật bị ném đá. Họ mang chân lí cho mọi người, những người đã trở thành gần như ảo vọng. Họ đem ánh sáng tới cho những người sống trong tối và mơ trong tối. Và mơ của họ phụ thuộc vào tối - khi ai đó mang ánh sáng vào, tối biến mất cùng mơ và ham muốn.

Người ta cảm thấy bị tổn thương bởi Phật hay Christ. Christ có vẻ không giống như đấng cứu tinh mà giống kẻ thù. Bằng không sao bạn đóng đinh Christ? Không có lí do khác. Lí do cơ bản là: ông ấy nhổ bật rễ bạn, ông ấy làm tan nát bạn. Điều này phải được hiểu rất sâu. Và khi bạn sống trong ảo vọng thì bạn tìm chân lí. Đó là lừa dối gấp đôi, để cho bạn có thể liên tục tự nhủ bản thân bạn và an ủi bản thân bạn rằng 'Mình đang đi tìm. Nhìn nỗ lực lớn lao làm sao mà mình đang làm, mình đang đổ năng lượng vào việc tìm kiếm nhiều làm sao - nhìn đấy!'

Việc tìm kiếm chân lí nảy sinh từ giả dối của bạn. Chính giả dối đặt bạn vào việc tìm chân lí. Nó là sự bảo vệ cho giả dối, nó là cách giả dối sống còn. Nó nói: Đi và tìm chân lí. Chân lí có đó xa xôi ở mảnh đất xa xăm nào đó. Bạn sẽ phải du hành, và việc du hành là lâu dài và việc du hành sẽ không được kết thúc sớm. Sẽ cần nhiều kiếp sống, sẽ cần hàng nghìn năm, nhưng cứ đi! Liên tục đi tìm, một ngày nào đó bạn sẽ thấy nó. Giả dối đó cho bạn hi vọng, nó cho bạn tương lai, nó cho bạn mơ tương lai. Thượng đế của bạn ở đâu đó xa xôi. Nó phải là xa xôi, vì gần cạnh Ngài, sẽ là nguy hiểm.

Cho nên bạn có thể kính trọng thầy chết nhưng bạn không thể kính trọng thầy sống. Thầy là quá gần, thầy là quá nguy hiểm. Christ bây giờ được tôn thờ, gần nửa trái đất đã trở thành người Ki tô giáo. Và khi ông ấy đã ở đây, không quá mười hai người đã theo ông ấy - và họ nữa, theo một cách nửa vời. Và họ nữa đã phản bội ông ấy trong khoảnh khắc cuối cùng. Và ngày ông ấy chết, ông ấy đã trở thành Thượng đế, ông ấy đã trở thành thiêng liêng. Và hàng triệu và hàng triệu người bắt đầu tới theo chân ông ấy, và suốt nhiều thời đại họ đã tới và tăng dần lên.

Tại sao Christ chết dường như là quan trọng hơn Christ sống? Lí do là: Christ sống có thể chứng tỏ gây tai hoạ cho ảo vọng của bạn. Christ chết không thể làm được bất kì cái gì cho bạn. Christ chết là trong kiểm soát của bạn, Christ sống không thể bị bạn kiểm soát. Christ chết chỉ là cái tên, lời - trống rỗng, bất lực. Christ sống là lửa. Bạn có thể chơi với từ 'lửa' nhưng bạn không thể tới gần bản thân lửa. Nó sẽ thiêu cháy bạn, nó sẽ phá huỷ bạn.

Nhưng trong chính sự phá huỷ của bạn lại là khả năng của việc sinh mới. Từ tro tàn cái mới sẽ được sinh ra. Huyền thoại về chim phượng hoàng không phải là huyền thoại, nó là biểu dụ cho việc tái sinh của con người. Bạn phải chết đi trước, để được tái sinh. Christ sống giống như cái chết. Christ chết là sự an ủi, thuận tiện, an ninh.

Mới đêm hôm nọ, một người đàn bà đã có đó và cô ấy nói cô ấy yêu thiền của tôi và nhiều điều đang xảy ra qua những việc thiền. Không chỉ điều đó, cô ấy đã bắt đầu dạy thiền của tôi cho những người khác và nhiều điều đang xảy ra cho họ. Nhưng cô ấy không thể được khai tâm bởi tôi. Tôi hỏi tại sao. Cô ấy nói vì các lí do tôn giáo - cô ấy có thể là người Ki tô giáo hay người Do Thái hay ai đó. Cô ấy không thể bỏ Christ chết vì một Christ sống. Cô ấy gọi nó là 'vì lí do tôn giáo'. Lí do thực là: tới gần tôi có thể là tai hoạ cho cô ấy. Christ là hoàn toàn được, nó chỉ là bức hình trên tường hay cái tên trong sách hay một từ trong mồm bạn. Nó không ngụ ý điều gì, nó là ồn ào.

Nhưng nếu bạn tới gần tôi - và khai tâm ngụ ý tới gần, khai tâm ngụ ý gần nhất có thể được - bạn sẽ bị thiêu cháy. Bạn sẽ bị thiêu cháy thành tro. Bạn sẽ biến mất.

Nhưng điều đó là hi vọng thực duy nhất. Nếu bạn biến mất như bạn vậy, bạn sẽ được sinh ra như bạn thực vậy. Chỉ việc biến mất của giả dối mà bạn mới trở thành, mới có thể là việc sinh ra của chân lí. Và chân lí là không xa xôi, nó ẩn ngay bên trong bạn. Và bạn đang bám lấy giả dối. Nhân cách của bạn là giả dối. Vì bởi vì nhân cách, bạn không thể tiến tới điều bản chất. Nhân cách được xã hội dạy cho bạn; xã hội tạo ra giả dối. Giả dối là rất rất thuận tiện. Giả dối vận hành như chất bôi trơn, giả dối làm cho cuộc sống trôi chảy. Bạn thấy ai đó và bạn mỉm cười. Và nụ cười này là giả dối - vì nó không tới từ tim bạn, nó chỉ được tô vẽ đó trên môi. Bạn đã tạo ra nó, bạn đã xoay xở có nó, nó là một loại bài tập môi. Nhưng nó bôi trơn mối quan hệ, người khác bắt đầu mỉm cười.

Nếu bạn là thực, nếu bạn là như bạn vậy, sẽ là khó khăn, mối quan hệ sẽ trở thành khó. Các nhà tâm lí học nói rằng nếu mọi người bắt đầu để lộ điều ở trong tim người đó, tình bạn sẽ biến mất khỏi thế gian, yêu sẽ biến mất khỏi thế gian. Điều đó là đúng. Sẽ không thể nào tìm ra bạn bè nếu bạn đơn giản nói điều có trong tim bạn. Nếu bạn nói điều có trong tim bạn, người bạn yêu sẽ bỏ bạn và người yêu bạn sẽ bỏ bạn.

Bạn liên tục giữ điều đó trong tim, và bạn liên tục diễn cái gì đó mà không thực sự có đó - bạn làm cái gì đó khác, chính cái đối lập. Bạn có thể giận nhưng bạn mỉm cười. Bạn có thể sôi lên bên trong nhưng bạn mỉm cười. Bạn có thể muốn la hét nhưng bạn liên tục hát. Bạn có thể muốn làm cái gì đó khác nhưng điều đó là không khả thi, nó không thực tế, nó không là điều đúng để làm.

Xã hội tạo ra nhân vật này, mặt nạ này quanh bạn, nhân cách này.

Có ba người trong bạn. Người-1 - đó là nhân cách. Từ personality-nhân cách bắt nguồn từ gốc Hi Lạp 'persona'. Trong kịch Hi Lạp họ thường dùng các mặt nạ, và tiếng nói sẽ bắt nguồn từ mặt nạ. 'Sona' nghĩa là tiếng nói, âm thanh, và 'per' nghĩa là qua mặt nạ. Mặt thực bạn không biết - ai là diễn viên thực. Có mặt nạ, và qua mặt nạ tiếng nói đi tới.

Dường như nó đang tới từ mặt nạ, và bạn không biết mặt thực. Từ 'personality-nhân cách' là hay, nó bắt nguồn từ kịch Hi Lạp.

Và đó là điều đã xảy ra. Trong kịch Hi Lạp họ chỉ có một mặt nạ. Bạn có nhiều. Mặt nạ chồng lên mặt nạ, như các lớp vỏ hành. Nếu bạn bỏ một mặt nạ ra, có mặt nạ khác, nếu bạn tháo mặt nạ đó ra, lại có mặt nạ khác. Và bạn có thể liên tục tháo và tháo và bạn sẽ ngạc nhiên: bạn đang mang bao nhiêu mặt nạ. Bao nhiêu! Trong nhiều kiếp bạn đã từng thu thập chúng. Và tất cả chúng là hữu dụng, vì bạn phải đổi nhiều lần. Bạn đang nói với người hầu, bạn không thể có cùng mặt mà bạn có, khi nói với ông chủ của bạn. Và chúng có thể cả hai cùng hiện diện trong phòng: khi bạn nhìn vào người hầu, bạn phải dùng mặt nạ này và khi bạn nhìn vào ông chủ của bạn, bạn phải dùng mặt nạ khác. Bạn liên tục thay đổi. Nó gần như đã trở thành tự động - bạn không cần thay đổi, nó tự thay đổi. Bạn nhìn vào ông chủ và bạn mỉm cười. Và bạn nhìn vào người hầu và nụ cười biến mất và bạn tỏ ra khó chịu - khó chịu như ông chủ khó chịu với bạn. Khi ông ta nhìn vào ông chủ của ông ta, ông ta mỉm cười.

Trong một khoảnh khắc, bạn có thể đổi mặt bạn nhiều lần. Người ta phải rất rất tỉnh táo để biết người ta có bao nhiêu mặt. Vô số. Chúng không thể được đếm.

Đây là người thứ nhất của bạn, người giả của bạn. Hay bạn có thể gọi nó là bản ngã. Nó đã được trao cho bạn bởi xã hội, nó là món quà từ xã hội - từ chính khách và tu sĩ và bố mẹ và nhà sư phạm. Họ đã trao cho bạn nhiều mặt, chỉ để làm cho cuộc sống của bạn được suôn sẻ. Họ đã lấy đi chân lí của bạn, họ đã cho bạn cái thay thế. Và vì những mặt thay thế này, bạn không biết bạn là ai. Bạn không thể biết được, vì các mặt thay đổi nhanh thế và chúng nhiều thế, bạn không thể tin cậy vào bản thân bạn được. Bạn không biết đích xác mặt nào là của bạn. Thực ra chẳng mặt nào trong những mặt này là của bạn.

Và Thiền nhân nói: Chừng nào ông chưa biết mặt nguyên bản của ông, ông sẽ không biết Phật là gì. Vì Phật là mặt nguyên bản của bạn. Bạn đã được sinh ra là Phật và bạn đang sống sự giả dối.

Món quà xã hội này phải bị bỏ đi. Đó là nghĩa của tính chất sannyas, việc khai tâm. Bạn là người Ki tô giáo hay người Hindu hay người Mô ha mét giáo, mặt đó phải bị bỏ. Vì nó không phải là mặt riêng của bạn - nó đã được trao cho bạn bởi người khác, bạn đã bị ước định cho nó. Và bạn thậm chí đã không được hỏi, bạn thậm chí đã không được yêu cầu. Nó đã bị áp đặt một cách cưỡng bức, bạo hành.

Mọi bố mẹ và mọi hệ thống giáo dục là bạo hành. Vì họ không chú ý gì tới bạn. Họ có những ý tưởng tiên thiên, họ đã biết cái gì là đúng. Và họ đặt cái 'đúng' lên bạn. Bạn quằn quại, bạn la hét bên trong, nhưng bạn bất lực. Đứa trẻ là bất lực thế và tinh tế thế, nó có thể được tạo khuôn theo bất kì cách nào. Và đó là điều xã hội làm. Trước khi đứa trẻ trở thành đủ mạnh, nó đã bị làm què theo cả nghìn lẻ một cách. Bị làm tê liệt, bị đầu độc.

Ngày bạn muốn trở thành có tính tôn giáo, bạn sẽ phải bỏ các tôn giáo. Ngày bạn muốn có quan hệ với Thượng đế bạn sẽ phải bỏ mọi ý thức hệ về Thượng đế. Ngày bạn muốn biết bạn là ai, bạn sẽ phải bỏ mọi câu trả lời đã được trao cho bạn. Mọi cái được vay mượn đều phải bị thiêu cháy.

Đó là lí do tại sao Thiền đã được định nghĩa là: 'Trực chỉ nhân tâm. Kiến tính thành Phật. Bất lập văn tự. Giáo ngoại biệt truyền.' Việc truyền tách biệt bên ngoài kinh sách: Koran không thể trao nó cho bạn, Dhammapada không thể trao, Kinh Thánh không thể trao, Talmud và Gita không thể trao. Không kinh sách nào có thể trao nó cho bạn. Và nếu bạn tin vào kinh sách, bạn sẽ liên tục bỏ lỡ chân lí.

Chân lí ở trong bạn. Nó phải được đương đầu ở đó. 'Kiến tính thành Phật. Trực chỉ nhân tâm.' Bạn không đi bất kì đâu. Và bất kì chỗ nào bạn đi, bạn sẽ vẫn còn là người cũ, cho nên phỏng có ích gì? Bạn có thể đi tới Himalayas, điều đó sẽ không làm thay đổi bất kì cái gì. Bạn sẽ mang mọi điều bạn có đi cùng bạn. Mọi điều bạn đã trở thành, mọi điều bạn đã được đóng vai, bạn sẽ mang mọi thứ nhân tạo của bạn. Mặt tổng hợp của bạn, tri thức vay mượn của bạn, kinh sách của bạn, sẽ liên tục bám bên trong bạn. Ngay cả ngồi một mình trong hang ở Himalayas, bạn cũng sẽ không một mình. Các thầy giáo sẽ có đó quanh bạn, và các tu sĩ và chính khách và bố mẹ và toàn thể xã hội. Điều đó có thể là không thấy được thế, nhưng nó sẽ có đó bên trong bạn, xúm vào bạn. Và bạn sẽ vẫn còn là người Hindu ở đó hay người Ki tô giáo hay người Mô ha mét giáo. Và bạn sẽ liên tục lặp lại các lời như vẹt. Nó sẽ không thay đổi, nó không thể thay đổi.

Tôi đã đọc một câu chuyện Bavarian hay; bạn có thể đã nghe về nó. Hãy suy ngẫm về nó đi.

Thiên thần từ Munich

Alois Hingerl, người khuân vác số 172 tại ga trung tâm Munich, đã làm việc hăng hái tới mức một hôm ông ấy chết đột tử. Hai thiên thần bé nhỏ mang ông ấy lên Cõi trời mà thực khó khăn, ở đó Thánh Peter đón chào ông ấy và bảo ông ấy rằng từ giờ trở đi tên ông ấy sẽ là Angel Aloisius. Thánh đưa cho ông ấy cây đàn hạc và thông báo cho ông ấy về các qui tắc nhà Cõi trời. 'Từ tám giờ sáng tới mười hai giờ trưa,' thánh nói, 'ông sẽ hân hoan. Và từ mười hai giờ trưa tới tám giờ tối ông sẽ hát kinh kính chúa.'

'Cái gì đang diễn ra vậy?' Aloisius hỏi. 'Từ tám giờ sáng cho tới mười hai giờ trưa, hân hoan sao? Và từ mười hai giờ trưa tới tám giờ tối hát kinh kính chúa sao? Vậy... hmhm... ấy a, và khi nào tôi có cái gì đó để uống?'

'Ông sẽ có năng lượng vào đúng lúc,' Peter nói, hơi bực mình, và bỏ ông ấy đi.

'Chết tiệt!' Angel Aloisius càu nhàu. 'Điều đó sẽ tệ hơn là kéo lê! Mình phải hân hoan từ tám tới mười hai giờ sao? Và mình tưởng không có việc trong Cõi trời.' Nhưng chung cuộc ông ấy đã ngồi lên mây và bắt đầu hát như ông ấy được bảo: 'Hallelujah! Hallelujah!'

Một thiên thần trí thức đầy sinh khí lướt qua. 'Này, ông!' Aloisius gọi. 'Một nhúm thuốc hít thì sao? Tới bây giờ đi, chúng ta hít một chút!' Nhưng thiên thần bị chán ghét bởi ý tưởng tầm thường này. Ông ấy chỉ thì thào 'Kinh kính chúa' và bay đi mất.

Aloisius trở nên bực bội. 'Ui chao - loại kẻ ngốc gì thế này?' ông ta hét kên. 'Nếu ông không có thuốc hít nào, thì ông không có, chứ gì? Người ta chẳng lẽ không mong đợi một câu trả lời nhã nhặn được sao? Ông là đồ nhà quê thộn! Ồ! Bạn thân, họ đã lên đây là người gì vậy! A, a, mình đã lao vào cái gì vậy!' Và một lần nữa ông ta ngồi xuống mây của mình và tiếp tục hân hoan.

Nhưng cơn giận của ông ta đã biểu lộ trong việc hát, và ông ta quát to tới mức Cha Trời ở cửa bên cạnh thức dậy từ giấc ngủ trưa và hỏi với vẻ ngạc nhiên: 'Tiếng ồn này từ đâu tới vậy?' Lập tức Ngài cho mời thánh Peter đến, ông này chạy ngay tới, và cùng nhau, họ nghe thấy tiếng hân hoan khiếm nhã của Angel Aloisius: 'Hallelujah! Cứt! Hallelujah! Phân! Hallelujah! Đéo! Hallelujah!' Thánh Peter hấp tấp đi ra và lôi Aloisius ra trước Đức Ngài.

Cha Trời nhìn ông ta một lúc lâu rồi Ngài nói: 'Ồ, ta thấy rồi: một thiên thần từ Munich. Đó là điều ta đã nghĩ! Giờ hãy nói cho ta, mọi lời la hét này là gì?'

Đó đích xác là điều Aloisius đã từng chờ đợi. Ông ta bực bội tới mức ông ta bắt đầu ngay. 'Tôi không thích mọi thứ này! Tôi không thích có cánh! Tôi không thích hát bài kinh kính chúa! Tôi không thích uống năng lượng thay cho bia! Và hãy để tôi làm cho rõ ràng: tôi không thích hát!'

'Thánh Peter,' Đức Ngài nói 'điều này sẽ không bao giờ có tác dụng! Nhưng ta có một ý tưởng. Chúng ta sẽ sử dụng ông ta làm sứ giả truyền đạt lời khuyên Cõi trời của chúng ta cho chính phủ bang Bavaria. Cho nên ông ta có thể bay tới Munich một hay hai lần một tuần, và hồn tốt của ông ta sẽ nghỉ ngơi trong an bình!'

Khi Aloisius nghe thấy điều này, ông ta cảm thấy quả thực rất hạnh phúc. Chẳng mấy chốc ông ta nhận việc chuyển giao đầu tiên, một bức thư, và ông ta bay xuống thế gian.

Và khi một lần nữa ông ta cảm thấy đất của Munich ở dưới chân mình, với ông ta dường như là bây giờ ông ta mới thực sự ở Cõi trời. Và, theo thói quen cũ của mình, ông ta lập tức đi tới Hofbrauhaus và thấy chỗ ngồi quen thuộc vẫn còn trống và đang đợi ông ta. Ông già tốt bụng Kathi, người phục vụ, vẫn đó và ông ấy gọi một chầu bia khác, và chầu nữa, và lại chầu nữa… và ông ta chỉ ngồi và vẫn ngồi từ đó tới nay.

Và đó là lí do mà chính phủ bang Bavaria tới ngày nay, vẫn phải làm mà không có Hướng dẫn Thiêng liêng.

Bất kì chỗ nào bạn đi, bạn sẽ là bản thân bạn. Ngay cả trong Cõi trời hay trong Himalayas. Bạn không thể khác được. Thế giới không ở bên ngoài bạn, bạn là thế giới. Cho nên bất kì chỗ nào bạn đi, bạn mang thế giới của bạn đi cùng bạn.

Thay đổi thực không phải là của nơi chốn, thay đổi thực không phải là ở bên ngoài, thay đổi thực phải là ở bên trong. Và tôi ngụ ý gì bởi thay đổi thực? Tôi không ngụ ý rằng bạn phải hoàn thiện bản thân bạn, vì hoàn thiện lại là giả dối. Hoàn thiện nghĩa là bạn sẽ liên tục đánh bóng nhân cách của bạn. Bạn có thể làm nó thành đẹp vô cùng - nhưng nhớ, nó càng đẹp, càng nguy hiểm, vì sẽ càng khó bỏ nó.

Đó là lí do tại sao chuyện xảy ra là đôi khi, tội nhân trở thành thánh nhân. Nhưng cái gọi là người đáng kính của bạn không bao giờ trở thành vậy. Họ không thể trở thành được - họ có nhân cách có giá trị thế, được trang điểm nhiều thế, được đánh bóng, và họ đã để nhiều đầu tư vào nhân cách, cả đời họ đã là một loại đánh bóng. Bây giờ, bỏ những nhân cách đẹp đó đi thì quá đắt. Tội nhân có thể bỏ nó, anh ta không có đầu tư vào trong nó. Thực ra anh ta chán ngán với nó, nó xấu thế. Nhưng làm sao một người đáng kính bỏ nó dễ dàng thế được? Nó đã trả giá cho người đó tốt thế, nó đã là lợi nhuận thế. Nó đã làm cho người đó ngày càng được kính trọng hơn, người đó đang đi lên ngày một cao hơn, người đó đang đạt tới cực đỉnh của thành công. Rất khó cho người đó thôi trèo tiếp lên chiếc thang thành công này. Nó là chiếc thang không đầu cuối, bạn có thể leo tiếp mãi mãi.

Ai đó đã hỏi Henry Ford khi ông ấy sắp chết, đang trên giường chết - ông ấy vẫn đang lập kế hoạch cho ngành công nghiệp mới nào đó, doanh nghiệp mới nào đó - ai đó đã hỏi ông ấy, 'Thưa ông, ông sắp chết! Và các bác sĩ nói rằng ông sẽ không sống quá vài ngày. Họ thậm chí còn không chắc chắn về điều đó; ông có thể chết hôm nay hay ngày mai. Bây giờ thì tại sao? Và đã từng làm việc này cả đời ông. Và ông có nhiều tiền thế, nhiều hơn tiền ông có thể tiêu, nhiều hơn ông có thể làm bất kì cái gì bằng chúng. Nó là tiền vô dụng. Tại sao ông liên tục làm tăng doanh nghiệp của ông?

Trong một khoảnh khắc, Henry Ford ắt đã dừng việc lập kế hoạch lại, và nói 'Nghe đây. Tôi không thể dừng được. Điều đó là không thể được. Chỉ chết sẽ dừng tôi lại, tôi không thể dừng lại. Trong khi tôi còn sống, tôi sẽ liên tục đạt tới bậc thang cao hơn. Tôi biết nó là vô nghĩa, nhưng tôi không thể dừng được!'

Khi bạn đang thành công trong thế giới, khó mà dừng lại. Khi bạn đang trở nên giầu hơn, khó mà dừng lại, khi bạn đang trở nên nổi tiếng, khó mà dừng lại. Bạn càng có nhân cách được tinh luyện, bạn càng bám lấy nó.

Cho nên tôi không nói rằng bạn phải hoàn thiện bản thân bạn. Mọi thầy lớn, từ Phật tới Bạch Ẩn, không ai đã nói hoàn thiện. Cảnh giác với cái gọi là "sách hoàn thiện'. Thị trường Mĩ đầy những sách đó: hãy cảnh giác. Vì hoàn thiện sẽ không dẫn bạn tới đâu cả. Vấn đề không phải là hoàn thiện, vì với hoàn thiện, giả dối sẽ được hoàn thiện. Nhân cách sẽ được hoàn thiện - sẽ trở nên được đánh bóng hơn, sẽ trở nên tinh vi hơn, sẽ trở nên có giá trị hơn, sẽ trở nên quí giá hơn - nhưng điều đó không phải là biến đổi. Biến đổi tới, không bằng con đường hoàn thiện mà bằng hủy bỏ nhân cách hoàn toàn.

Giả dối không thể trở thành chân lí. Không có cách nào hoàn thiện giả dối để cho nó trở thành chân lí. Nó sẽ vẫn còn là giả dối. Nó sẽ có vẻ càng giống chân lí hơn nhưng nó sẽ vẫn còn là giả dối. Và nó càng có vẻ giống chân lí, bạn sẽ càng mê mải hơn trong nó, bị bắt rễ trong nó. Giả dối có thể có vẻ giống chân lí tới mức bạn thậm chí có thể trở nên quên lãng sự kiện rằng nó là giả dối.

Giả dối bảo bạn: Hãy tìm chân lí đi. Hãy hoàn thiện tính cách của mình, nhân cách của mình. Hãy tìm chân lí đi, trở thành cái này, trở thành cái nọ đi. Giả dối liên tục cho bạn những chương trình mới: Hãy làm cái này, và thế thì mọi thứ sẽ tốt và mình sẽ hạnh phúc mãi mãi. Hãy làm cái này, làm cái nọ. Cái này đã thất bại sao? Đừng lo, tớ có kế hoạch khác cho cậu. Giả dối liên tục cho bạn các kế hoạch, và bạn liên tục đi vào những kế hoạch đó và phí hoài cuộc đời của bạn.

Thực ra, tìm chân lí cũng bắt nguồn từ giả dối. Điều đó sẽ khó hiểu nhưng nó phải được hiểu. Tìm chân lí bắt nguồn từ bản thân giả dối. Nó là cách thức của giả dối để bảo vệ bản thân nó - nó cho bạn ngay cả việc đi tìm chân lí, bây giờ làm sao bạn có thể giận nhân cách của bạn được? Và làm sao bạn có thể gọi nó là giả dối? Nó thúc bạn, nó ép bạn, nó đẩy bạn đi tìm chân lí mà.

Nhưng việc tìm ngụ ý đi xa. Còn chân lí là ở đây, và giả dối đẩy bạn đi tới chỗ kia. Và chân lí là bây giờ, và giả dối nói 'lúc đó' và 'ở kia'. Giả dối bao giờ cũng nói hoặc về quá khứ, hoặc về tương lai, nó không bao giờ nói về hiện tại. Và chân lí là hiện tại. Chính khoảnh khắc này! Nó là ở đây bây giờ. Đó là điều Bạch Ẩn ngụ ý khi ông ấy nói:

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, chính thân này là Phật.

Cho nên cái 'người' đầu tiên là giả dối, đóng vai. Nhân cách giả bao quanh bạn. Mặt công khai, cái rởm. Nó là lừa dối. Xã hội đã áp đặt nó lên bạn và bạn đã trở thành người hợp tác với nó. Bạn phải bỏ sự hợp tác của bạn với xã hội giả dối. Vì chỉ khi bạn là hoàn toàn trần trụi, bạn mới là bản thân bạn. Mọi quần áo là xã hội. Mọi ý tưởng và mọi sự đồng nhất mà bạn nghĩ bạn là, đều là xã hội - được cho bởi người khác. Họ có động cơ của họ để trao những ý tưởng đó cho bạn. Nó là khai thác tinh vi.

Khai thác thực không phải là kinh tế hay chính trị, khai thác thực là tâm lí. Đó là lí do tại sao mọi cuộc cách mạng,mãi cho tới giờ, đã thất bại. Cho đến nay, không cuộc cách mạng nào đã thành công. Lí do? Vì họ đã không nhìn vào việc khai thác sâu sắc nhất là tâm lí. Họ chỉ liên tục thay đổi những thứ bề mặt. Xã hội tư sản trở thành cộng sản, nhưng nó không tạo ra khác biệt. Dân chủ trở thành độc tài, xã hội dân chủ trở thành độc tài, xã hội độc tài trở thành dân chủ, nó không tạo ra khác biệt. Đây chỉ là những thay đổi bề mặt, như nước vôi, nhưng cấu trúc sâu bên dưới vẫn còn là một.

Khai thác tâm lí là gì? Khai thác tâm lí là ở chỗ: không ai được phép là bản thân người đó. Rằng không ai được chấp nhận như bản thân người đó. Rằng không ai được kính trọng. Làm sao bạn có thể kính trọng mọi người nếu bạn không chấp nhận họ như họ vậy? Nếu bạn áp đặt mọi thứ lên họ và thế rồi bạn kính trọng, bạn chỉ kính trọng những áp đặt riêng của bạn. Bạn không kính trọng họ như họ là vậy, bạn không kính trong sự trần trụi của họ. Bạn không kính trọng tính tự nhiên của họ, bạn không kính trọng tính tự phát của họ, bạn không kính trọng nụ cười thực và nước mắt thực của họ. Bạn kính trọng chỉ những cái rởm, giả vờ, đóng vai. Bạn kính trọng việc đóng vai của họ.

Cái người-1 này phải hoàn toàn bị bỏ đi. Freud đã giúp ích nhiều để làm cho nhân loại nhận biết về tính rởm nào đó của nhân cách, về tâm trí có ý thức. Cuộc cách mạng của ông ấy là sâu hơn nhiều so với cuộc cách mạng của Marx, cuộc cách mạng của ông ấy là sâu hơn nhiều so với bất kì cuộc cách mạng nào khác. Nó đi sâu, mặc dầu nó không đi đủ xa.

Nó đạt tới người thứ hai của bạn, người-2. Nó là bạn bị đè nén, bạn bản năng, bạn vô ý thức. Nó là mọi điều mà xã hội đã không cho phép, nó là mọi điều mà xã hội đã ép buộc bên trong con người bạn và bị khoá ở đó. Nó chỉ tới trong mơ của bạn, nó chỉ tới trong các ẩn dụ, nó chỉ tới khi bạn say, nó chỉ tới khi bạn không còn trong kiểm soát. Bằng không, nó vẫn còn xa xôi khỏi bạn. Và nó là đích thực hơn, nó không rởm.

Freud đã làm nhiều việc để làm cho con người nhận biết về nó. Và tâm lí nhân loại và những nhóm trưởng thành đặc biệt, đương đầu và các nhóm khác, đã giúp ích vô cùng để làm cho bạn nhận biết về mọi cái đang la hét bên trong bạn, mọi cái đã từng bị đè nén, bị nhồi nhét. Và đó là phần sống còn của bạn. Đó là sự sống thực của bạn, sự sống tự nhiên. Tôn giáo đã kết án nó là phần con vật của bạn, họ đã kết án nó là nguồn tội lỗi. Nó không phải là nguồn tội lỗi, nó là nguồn sự sống. Và nó không thấp hơn ý thức. Nó sâu hơn ý thức, chắc chắn, nhưng nó không thấp hơn ý thức.

Và không cái gì là sai nếu nó có tính con vật. Con vật là đẹp, cây cũng vậy. Chúng vẫn sống trần trụi trong sự đơn giản hoàn toàn của chúng. Chúng vẫn chưa bị phá huỷ bởi các tu sĩ và các chính khách, chúng là một phần của Thượng đế. Chỉ con người đã đi lạc lối. Con người là con vật bất thường duy nhất trên thế gian - bằng không mọi con vật đơn giản là bình thường. Do đó có niềm vui, cái đẹp, mạnh khoẻ. Do đó có sức sống. Bạn đã không thấy điều đó sao? Khi con chim đang tung cánh bạn đã không cảm thấy ghen tị sao? Bạn đã không thấy nó trong con hươu đang chạy nhanh trong rừng sao? Bạn đã không cảm thấy ghen tị về sức sống, về niềm vui vô cùng của năng lượng sao?

Đứa trẻ: bạn đã không cảm thấy ghen tị sao? Có thể vì bạn cảm thấy ghen tị thế, đó là lí do tại sao bạn liên tục kết án tính trẻ con. Bạn liên tục kết án. Montague là đúng khi ông ấy nói rằng thay vì bảo mọi người 'Đừng là trẻ con' chúng ta nên bắt đầu bảo mọi người 'Đừng là người lớn'. Ông ấy là đúng, tôi đồng ý. Đứa trẻ là đẹp, người lớn là điều xấu là gì. Người đó không còn tuôn chảy, người đó bị chặn theo nhiều cách. Người đó bị đông cứng, người đó đờ đẫn và chết. Người đó đã mất sự say mê, người đó đã mất nhiệt tình, người đó đơn giản kéo lê. Người đó bị chán, người đó không có cảm giác về điều huyền bí. Người đó không bao giờ cảm thấy ngạc nhiên, người đó đã quên mất ngôn ngữ của ngạc nhiên. Điều huyền bí đã biến mất với người đó. Người đó có những giải thích, điều huyền bí không còn đó. Do đó người đó đã mất thơ ca và điệu vũ và mọi thứ là có giá trị và mọi thứ cho nghĩa và ý nghĩa cho sự sống, mọi thứ cho hương vị cho sự sống.

'Người' thứ hai này là có giá trị hơn nhiều so với người thứ nhất. Đó là chỗ tôi chống lại mọi tôn giáo, đó là chỗ tôi chống lại mọi tu sĩ, vì họ bám lấy người thứ nhất, bên ngoài nhất. Hãy đi tới người thứ hai đi. Nhưng người thứ hai không phải là kết thúc - đó là chỗ Freud không tới đích. Và đó là chỗ tâm lí nhân loại cũng không tới đích - đi sâu hơn chút nữa so với Freud, nhưng vẫn không đi đủ sâu để tìm thấy người thứ ba.

Có 'người' thứ ba, người-3. Bạn thực, mặt nguyên bản, cái ở bên ngoài người-1 và người-2, cả hai. Cái siêu việt. Phật tính. Nó là tâm thức thuần khiết không phân chia. Người thứ nhất mang tính xã hội, người thứ hai mang tính tự nhiên, người thứ ba mang tính thiêng liêng. Hay, nếu bạn muốn dùng lời của Bạch Ẩn, người thứ nhất là thân vật lí, người thứ hai là thân phúc lạc, và người thứ ba là thân tinh tuý. Đây là ba thân Phật.

Và nhớ, tôi không nói rằng người thứ nhất không hữu dụng chút nào. Nếu người thứ ba tồn tại, thế thì người thứ nhất có thể được dùng một cách tốt đẹp. Nếu người thứ ba tồn tại, người thứ hai có thể được dùng một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ nếu người thứ ba tồn tại. Nếu trung tâm vận hành tốt, thế thì ngoại vi nữa cũng là được, thế thì chu vi nữa cũng là được. Nhưng không có trung tâm, chỉ chu vi, là một loại chết.

Đó là điều đã xảy ra cho con người. Đó là lí do tại sao ở phương Tây, nhiều nhà tư tưởng thế nghĩ rằng sự sống là vô nghĩa. Nó không vô nghĩa. Chính chỉ là vì bạn đã mất cái chạm vào cội nguồn của bạn mà từ đó nghĩa nảy sinh.

Dường như cây đã mất tiếp xúc của nó với rễ riêng của nó. Bây giờ không hoa nào tới. Bây giờ tán lá bắt đầu biến mất, lá rụng và không lá mới nào tới. Và dịch cây dừng chảy, nhựa cây không tồn tại nữa. Cây trở thành chết, cây đang chết.

Và cây có thể bắt đầu triết lí, cây có thể trở thành người hiện sinh, một Sartre hay ai đó khác, và cây có thể bắt đầu nói rằng không có hoa trong sự sống. Rằng sự sống không có hoa, rằng không có hương thơm, rằng không còn bất kì chim nào nữa. Và cây thậm chí có thể bắt đầu nói rằng điều đó bao giờ cũng vậy, và cổ nhân đã chỉ lừa bản thân họ rằng có hoa - họ đã tưởng tượng. 'Nó bao giờ cũng là vậy, mùa xuân đã không bao giờ tới, mọi người đã chỉ mơ tưởng. Chư phật này và những người Jaina này, họ đã đơn giản tưởng tượng, mơ tưởng, rằng hoa nở và có niềm vui lớn và chim tới và ánh mặt trời. Không có gì cả. Mọi thứ là tối, mọi thứ là ngẫu nhiên, và không có nghĩa.' Cây có thể nói điều đó.

Và điều thực không phải là không có nghĩa, không phải là không còn hoa nữa, không phải là hoa không tồn tại, không phải hương thơm là hoang tưởng, nhưng đơn giản rằng cây đã mất tiếp xúc với rễ riêng của nó.

Chừng nào bạn chưa được bắt rễ trong Phật tính, bạn sẽ không nở hoa. Bạn sẽ không hát, bạn sẽ không biết mở hội là gì. Và làm sao bạn có thể biết Thượng đế nếu bạn không biết mở hội? Nếu bạn đã quên cách nhảy múa, làm sao bạn có thể cầu nguyện? Nếu bạn đã quên cách hát và cách yêu, thế thì Thượng đế là chết. Không phải Thượng đế chết. Thượng đế chết trong bạn, chỉ trong bạn. Cây của bạn khô héo, nhựa cây đã biến mất. Bạn sẽ phải tìm rễ lần nữa. Tìm những rễ này ở đâu? Rễ phải được tìm thấy ở đây và bây giờ. Đó là toàn thể thông điệp của bài ca về thiền của Bạch Ẩn. Trước khi chúng ta đi vào trong bài ca này, có đôi điều.

Con người dường như là tổng cộng của những ngày của mình, của mọi điều người đó làm từ bắt đầu tới kết thúc. Nhưng đây không phải là người thực. Điều bạn làm chỉ ở trên ngoại vi. Điều bạn cảm, đi sâu hơn một chút. Điều bạn hiện hữu, mới thực sự là rễ. Con người không phải là tổng cộng các hành động của mình. Chính khách là tổng cộng các hành động của ông ta, vì ông ta sống chỉ ở chu vi. Đó là lí do tại sao dễ viết sử về các chính khách. Khó viết sử về chư phật, vì họ sống ở chiều sâu thế, nơi chúng ta không thể đạt tới họ. Họ sống trong vĩnh hằng tới mức thời gian không ghi chép về họ. Họ tồn tại theo cách siêu việt tới mức, họ không để lại dấu vết nào trên trái đất. Họ giống như chim trên trời: họ bay nhưng không dấu chân nào còn lại.

Chính khách để lại dấu chân. Họ sống trong bùn, trong bẩn, họ kéo lê bản thân họ trong thực tại trần tục. Họ để lại nhiều dấu chân, họ để lại nhiều cuộc đổ máu đằng sau họ. Phật tồn tại dường như ông ấy chưa bao giờ tồn tại. Ông ấy tồn tại một cách vắng lặng thế, ông ấy tồn tại như không gian, không gian trống rỗng.

Hãy nhớ, con người không phải là tổng cộng các hành động của mình. Và nếu người đó là vậy, người đó còn chưa là con người; người đó chỉ là hư cấu, người đó sống trong ảo vọng.

Bạn không phải là điều bạn làm. Cho nên đừng quá bận tâm với việc làm của bạn, hãy bắt đầu đi sâu hơn vào trong hiện hữu đi. Đó là lí do tại sao mọi cách thiền, về căn bản đều là cách ngồi im lặng - im lặng tới mức mọi hành động dừng lại. Trên bình diện vật lí, trên bình diện tâm trí, hành động dừng lại, ý nghĩ dừng lại. Vì ý nghĩ cũng là hành động trên bình diện tâm trí - bạn đang làm cái gì đó. Khi mọi việc làm biến mất và bạn đơn giản hiện hữu ở đó, chỉ ở đó, sự hiện diện, thế thì thiền xảy ra.

Ngồi im lặng, không làm gì, xuân tới và cỏ tự nó mọc lên.

Đó là nghĩa của từ 'toạ thiền'. 'Toạ' nghĩa là ngồi không làm gì. Và 'thiền' nghĩa là: trong việc ngồi đó, khi bạn không làm bất kì cái gì, bạn rơi vào bản thân bạn, bạn đương đầu với bản thân bạn, bạn nhìn bản thân bạn. Đó là Zen, dhyana, thiền. Từ 'toạ thiền' là hay. 'Ngồi và nhìn vào bản thân bạn' - đó là nghĩa của nó.

Con người là nhiều hơn tổng cộng các hành động của mình, ý nghĩ của mình, tình cảm của mình. Đằng sau các hành động, ý nghĩ và tình cảm có con người khác - cái hiện hữu, cái về bản chất, hiện hữu. Nhưng nhiều người, nếu có, ít khi biểu lộ bản thân họ trong hiện hữu bản chất của họ. Rất ít người đã bao giờ đạt tới điểm đó của tính hiện hữu bản chất của họ, tới chính nền tảng hiện hữu của họ. Những người đạt tới, chỉ họ mới biết rằng sự sống là phúc lành. Niềm vui vô cùng, mở hội vĩnh hằng.

Nhưng nếu bạn vẫn còn trên bề mặt, bạn chỉ biết khổ, không gì khác. Đau đớn, không gì khác. Để tôi nói điều đó theo cách này: Người-1 chỉ biết khổ và đau đớn. Người-3 biết cực lạc của hiện hữu và niềm vui của hiện hữu. Và Người-2 không biết cực lạc không biết đau đớn. Nó biết vui thú/đau đớn, nó chỉ ở giữa. Cực lạc là vượt quá niềm vui mà không có bất kì giới hạn nào cho nó, niềm vui vô hạn. Đau đớn là khổ vô hạn, không có giới hạn cho nó. Ngay ở giữa hai điều này, tồn tại con vật và đứa trẻ. Nó biết chơi, nó biết vui thú/đau đớn. Nó không biết đau đớn, không biết cực lạc. Nó không biết cái vô hạn.

Nếu đứa trẻ đi hướng tới người thứ nhất, điều xã hội bắt buộc nó làm, nó sẽ biết đau đớn. Nếu nó tìm ra ai đó có thể giúp nó đi tới người thứ ba, nó sẽ biết cực lạc. Tìm ra thầy, không là gì khác ngoài việc tìm ra người đã biết sự hiện hữu bản chất của mình, để cho ông ấy có thể giúp bạn đi hướng tới hiện hữu bản chất riêng của bạn.

Thầy không phải để được đi theo, thầy không phải để được bắt chước, thầy chỉ để được hiểu. Trong chính việc hiểu đó, là cuộc cách mạng.

Sự sống thực của con người là cách mà người đó vứt bỏ giả dối bị người khác áp đặt lên người đó. Lột trần, trần trụi, tự nhiên, người đó là điều người đó là vậy. Đây là vấn đề hiện hữu, và không phải là vấn đề trở thành. Giả dối không thể trở thành chân lí, nhân cách không thể trở thành hồn bạn. Không có cách nào làm cái không bản chất thành cái bản chất. Cái không bản chất vẫn còn là không bản chất và cái bản chất vẫn còn là bản chất, chúng là không chuyển đổi được. Và phấn đấu hướng tới chân lí không là gì ngoài việc tạo ra nhiều rối ren hơn. Chân lí phải không được đạt tới. Nó không thể được đạt tới, nó đã là hoàn cảnh rồi. Chỉ giả dối phải bị bỏ đi.

Mọi mục tiêu và đích và lí tưởng và mục đích và ý thức hệ, tôn giáo và hệ thống hoàn thiện và tốt hơn đều là giả dối. Hãy cảnh giác về chúng. Nhận ra sự kiện rằng như bạn vậy, bạn là giả dối. Bị thao túng, được trau dồi, bởi những người khác. Phấn đấu theo chân lí là việc làm sao lãng và trì hoãn. Nó là cách thức che giấu của giả dối. Hãy thấy giả dối đi, nhìn sâu vào trong giả dối của nhân cách của bạn đi. Vì thấy giả dối là làm dừng giả dối. Không còn giả dối là không tìm kiếm thêm về bất kì chân lí nào - không có nhu cầu. Khoảnh khắc giả dối biến mất, chân lí có đó trong mọi cái đẹp và rạng ngời của nó. Trong việc thấy giả dối, nó biến mất và cái còn lại là chân lí.

Thấy giả dối của việc phấn đấu theo chân lí là rơi vào trong im lặng vĩnh hằng. Tĩnh lặng tới khi bạn thấy giả dối của nhân cách của bạn. Không có gì thêm để làm. Do đó có tĩnh lặng - bạn có thể làm cái gì?

Mới hôm nọ, một sannyasin đã nói 'Tôi có thể làm gì? Bất kì cái gì tôi làm, tôi thất bại. Tôi có thể làm gì?' Không có gì thực sự được làm. Việc làm sẽ không giúp gì, việc làm sẽ lại là cùng đường mòn. Chỉ hiện hữu sẽ biến đổi bạn, chứ không phải việc làm. Cho nên khi người ta thất bại đi thất bại lại, chỉ thế thì sáng suốt mới nảy sinh rằng 'Việc làm không bao giờ dẫn mình tới bất kì chỗ nào.' Ngày lưỡi kiếm đó đánh bạn - rằng 'Việc làm sẽ không dẫn mình tới bất kì chỗ nào' - bạn sẽ làm gì? Không cái gì còn lại để làm.

Trong bất lực hoàn toàn của bạn, người ta buông xuôi. Và im lặng và tĩnh lặng. Đây là im lặng làm biến đổi - không phải im lặng mà bằng cách nào đó, bạn áp đặt lên bản thân bạn bằng việc lặp mật chú hay làm thiền siêu việt TM; cái đó không phải là im lặng thực, cái đó là im lặng được tạo ra. Bất kì im lặng nào bạn xoay xở để tạo ra sẽ thuộc về nhân cách. Nó sẽ không hữu dụng gì mấy, nó sẽ không đi sâu hơn điều đó - làm sao việc làm của bạn có thể đi sâu hơn bạn được? Khi bạn đã hoàn toàn thất bại, khi bạn đã thấy thất bại tối thượng của bạn và bạn đã thấy rằng không có khả năng nào và không có hi vọng nào cho bạn thành công, bạn sẽ làm gì trong im lặng đó? Bạn sẽ chỉ ở đó. Mọi thứ đã dừng lại. Tâm trí không còn xoay tròn bất kì ý nghĩ nào.

Và trong chính khoảnh khắc đó, cánh cửa mở ra. Và im lặng đó là hiện hữu, im lặng đó là Phật.

Tĩnh lặng này không phải là cái đối lập của hành động, nó không được mang tới bởi ý định hay bởi sự rút lui khỏi thế giới. Người ta không thể rút lui khỏi thế giới, người ta là thế giới. Cái muốn trốn thoát giữ người ta bị cầm tù - vì ước muốn không có ham muốn vẫn là ham muốn, và ý định để là tĩnh lặng vẫn là rối loạn. Bạn không thể quyết chí cho im lặng của bạn, ý định là cơ sở của mọi rối loạn. Ý định phải biến mất. Bạn chỉ có thể nhìn vào trong cái vô tích sự của nó. Làm, quyết chí, hoàn thiện, làm bản thân bạn tốt hơn, thành đạt, đạt tới - tất cả những từ này chỉ là phóng chiếu của giả dối.

Khi giả dối đã được thấy trong tính toàn bộ của nó... có chiếu sáng, chứng ngộ.

Bây giờ lời kinh của Bạch Ẩn.

Thiên đường mảnh đất thuần khiết là không xa.

Thiền nhân gọi trạng thái vô trí là 'thiên đường mảnh đất thuần khiết'. Cho nên xin đừng diễn giải nó theo cách Ki tô giáo. Thiên đường, với người Ki tô giáo, là đâu đó chỗ kia trên trời. Với Phật tử, đặc biệt đối với người như Bạch Ẩn, nó là trạng thái vô trí.

Thiên đường mảnh đất thuần khiết là không xa.

Dừng suy nghĩ và bạn hiện hữu ở đó. Và thực ra, đó là nghĩa Kinh Thánh của chuyện ngụ ngôn về việc đuổi Adam ra. Anh ta đã không bị đuổi, không có ai đuổi anh ta. Anh ta đã chỉ ăn trái của Cây Tri thức - anh ta đã trở thành tâm trí. Bạn càng tích luỹ nhiều tri thức, bạn càng trở thành tâm trí. Adam đã trở nên am tường, anh ta đã trở thành tâm trí, và đó là việc đuổi khỏi thiên đường. Nếu anh ta có thể bỏ tâm trí của mình, anh ta sẽ đột nhiên thấy bản thân mình lại trong thiên đường, và anh ta cũng sẽ thấy rằng anh ta bao giờ cũng đã ở đó. Ngay cả khi anh ta nghĩ anh ta đã đánh mất nó, nó không bị mất. Nó chỉ bị quên. Anh ta trở nên quá bị ám ảnh với tri thức, đó là lí do tại sao nó đã bị quên.

Ngày đứa trẻ bắt đầu trở nên am tường, nó đánh mất thiên đường. Từng Adam đánh mất nó lặp đi lặp lại. Và đừng nghĩ rằng điều đó đã xảy ra một lần trong lịch sử, và chúng ta đang khổ vì Adam cổ đại đó. Không. Nó đã xảy ra cho cuộc sống của chúng ta - cho từng cuộc sống, cho từng đứa trẻ. Trong vài tháng, đứa trẻ sống trong Vườn Eden. Nó không biết gì. Không biết gì, nó là vô trí - nó đơn giản tồn tại từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, nó không có lo nghĩ. Khi nó cảm thấy đói, nó khóc, khi nó cảm thấy được thoả mãn nó rơi vào ngủ. Khi nó hạnh phúc nó mỉm cười, khi nó giận nó la hét. Nhưng nó không có ý tưởng nào về bất kì cái gì. Nó không ca ngợi nụ cười, không kết án la hét. Nó không cảm thấy xấu hổ vì kêu và khóc, cũng không cảm thấy thích thú rằng nó đã là đứa con tốt vào ngày hôm nay. Nó không biết bất kì cái gì về mọi thứ vô nghĩa này. Nó không biết cái gì tốt, không biết cái gì xấu, nó không phân biệt. Nó sống hoàn toàn là một với thực tại. Và bất kì cái gì xảy ra, thì xảy ra; không có bác bỏ.

Nhưng dần dần, nó sẽ trở nên am tường, nó sẽ bắt đầu học mọi thứ. Ngày nó bắt đầu học mọi thứ, nó bị mắc bẫy bởi rắn. Bây giờ nó đã bắt đầu ăn quả của cây, sớm hay muộn thiên đường sẽ biến mất. Bãi biển sẽ có đó, nhưng không còn đẹp nữa. Bướm sẽ vẫn chấp chới trong gió, nhưng với đứa trẻ chúng không tồn tại thêm gì nữa. Cái tồn tại là số học, địa lí, lịch sử. Hoa vẫn nở nhưng chúng không nở cho đứa trẻ này thêm nữa, nó ngập quá nhiều trong bài tập về nhà. Thỉnh thoảng nó vẫn nghe chim hót bên cửa sổ, nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi. Và toàn thể xã hội cố lôi nó xa khỏi điều đó.

Thầy giáo sẽ nói 'Nhìn lên bảng đen! Các con đang làm gì ở đó? Tập trung vào thầy!' Đứa trẻ đã tập trung. Tiếng chim hót hay thế, bên ngoài cửa sổ, đứa trẻ đang tập trung, hoàn toàn tập trung. Thầy giáo này đã làm sao lãng nó; bây giờ nó phải nhìn lên bảng đen. Và chẳng có gì để nhìn, nó chỉ là bảng đen. Nhưng dần dần chúng ta sẽ xoay xở làm sao lãng đứa trẻ.

Việc đuổi ra, không phải bởi Thượng đế mà bởi xã hội. Xã hội lôi từng Adam và Eve ra khỏi Vườn Eden. Và một khi bạn đã trở nên quá nhiều của cái đầu, rất khó vào lại sự thuần khiết đó, thiên đường mảnh đất thuần khiết đó. Các Thiền sư nói, cũng giống Jesus đã nói: Chừng nào ông chưa giống như trẻ nhỏ, ông sẽ không vào trong vương quốc của Thượng đế.

Một nhà truyền giáo Ki tô giáo đi tới một Thiền sư và bắt đầu đọc Bài giảng trên Núi. Thiền sư lắng nghe và ông ấy nói luôn 'Bất kì ai đã nói điều đó, đều phải rất gần với Phật tính.' Thiền sư này chưa bao giờ nghe nói về Christ, ông ấy chưa bao giờ đọc Kinh Thánh, nhưng ông ấy nói 'Bất kì ai đã nói điều đó đều phải rất gần với Phật tính.' Và khi nhà truyền giáo đọc 'Được ân huệ là những người nghèo trong tâm linh, vì tâm linh của họ là vương quốc của Thượng đế' Thiền sư nói 'Giờ dừng lại. Giờ đừng đọc thêm nữa. Giờ không cần đọc thêm cái gì nữa. Bất kì ai đã nói điều đó là đều là Phật.'

'Nghèo trong tâm linh' ngụ ý trống rỗng tâm trí. 'Nghèo trong tâm linh' ngụ ý trống rỗng - mọi ý nghĩ đã biến mất. Thế thì bạn lại trở lại trong thiên đường.

Thiên đường mảnh đất thuần khiết là không xa.

Nó chỉ ở kia! Đập trong tim bạn. Từng hơi thở của bạn đi và chạm vào thiên đường mảnh đất thuần khiết, từng khoảnh khắc. Bạn sống từ nó. Mọi đêm khi bạn rơi vào giấc ngủ và mơ biến mất, bạn lại ở trong nó. Đó là lí do tại sao đến sáng, bạn cảm thấy tươi tắn thế, lại trẻ trung, khoẻ khắn. Bạn đã ở trong chuyến đi ngắn tới thiên đường mảnh đất thuần khiết.

Khi trong tôn kính, chân lí này được nghe thấy cho dù một lần,

Người ca ngợi nó và vui mừng ôm choàng nó, có công trạng không kết thúc.

Bạch Ẩn nói 'Khi trong tôn kính chân lí này được nghe thấy cho dù một lần.' Vấn đề không phải là nghe chân lí này nhiều lần. Nếu bạn nghe cho dù một lần thôi, nếu bạn đã hiểu nó, cho dù một khoảnh khắc trong tin cậy và tôn kính sâu sắc, nó là của bạn mãi mãi. Hoài nghi làm sao lãng. Hoài nghi không cho phép bạn hiểu, hoài nghi không cho phép bạn thấy nó. Hãy lắng nghe trong tôn kính, trong yêu đi. Ở trong quan hệ.

Đó là cách hiện hữu cùng thầy - trong quan hệ, được bắc cầu. Nhưng những điều nhỏ bé, những điều rất nhỏ bé, làm sao lãng bạn. Những điều rất nhỏ bé mà chẳng có nghĩa gì - nhưng bạn bị sao lãng bởi những thứ nhỏ bé đó, và hoài nghi nảy sinh. Và hoài nghi trở thành mây và bạn trở nên mù.

…trong tôn kính chân lí này được nghe thấy cho dù một lần,

Thế là đủ.

Bao nhiêu công trạng hơn nữa người đó có, nếu người đó quay vào trong…

Ngay cả nghe chân lí là được giải thoát. 'Bao nhiêu công trạng hơn nữa người đó có, nếu người đó quay vào trong' - người không chỉ nghe nó nhưng nhìn vào bên trong và thấy nó...

và xác nhận trực tiếp bản tính riêng của người đó, rằng bản tính riêng của người đó là vô bản tính…

Khi bạn nhìn sâu vào trong bản thân bạn, bạn sẽ không tìm thấy bất kì cái gì ở đó cản trở cái nhìn của bạn. Nó là không gian thuần khiết. Bản tính của bạn là vô bản tính. Nó là trống rỗng, sunyata.

như vậy đã siêu việt trên lời vô dụng.

Chỉ khi bạn nhìn vào trong bản tính của bạn… và chẳng tìm thấy gì. Bạn chỉ thấy trống rỗng vô hạn ở đó. Lời sẽ không có bất kì nghĩa nào thêm nữa, bạn đã siêu việt trên lời. Bạn đã nhìn vào trong bản tính của bạn và bây giờ, bạn biết không lời nào có thể giải thích nó, không lời nào có thể định nghĩa nó, không lời nào thậm chí có thể chỉ ra nó. Mọi kinh sách trở thành vô nghĩa.

Cổng mở, và nhân quả là một…

Khi bạn nhìn vào bên trong bản thân bạn và không có nội dung, và vô bản tính đã được cảm thấy, bạn đã thấy bầu trời bên trong của bạn...

Cổng mở, và nhân quả là một;

Và cội nguồn và mục đích là một. Bây giờ bạn không đi bất kì chỗ nào, bạn đã đi tới cội nguồn của bạn. Và ở tại cội nguồn, là ở tại mục đích. Ở tại chỗ bắt đầu, là ở tại chỗ kết thúc.

chạy thẳng con đường - không hai, không ba. Coi hình tướng của vô tướng là hình tướng, đi và trở về, người đó bao giờ cũng ở nhà.

Và một khi bạn đã thấy hình tướng của vô tướng, một khi bạn đã thấy ý nghĩ về vô ý nghĩ, một khi bạn đã thấy bản tính của cái vô bản tính, bạn là con người mới toàn bộ. Điều xảy ra...

đi và trở về, người đó bao giờ cũng ở nhà.

Thế thì bất kì chỗ nào bạn ở, bạn ở nhà. Trong nhà tù, bạn ở nhà, trong đền chùa, bạn ở nhà, trong cửa hàng, bạn ở nhà, trong Himalayas, bạn ở nhà, trong bãi chợ, bạn ở nhà. Bạn đơn giản ở nhà. Một khi bạn đã thấy trung tâm của bạn, hiện hữu bản chất của bạn, thì Phật tính của bạn, đã được thoáng nhìn qua. Thế thì bất kì chỗ nào bạn ở, bạn đều ở nhà, vì tất cả là nhà bạn. Thế thì không có nhu cầu từ bỏ thế giới.

Thiền nhân không chống lại thế giới. Họ nói: Chống lại thế giới là vẫn còn bị gắn bó với thế giới. Đi tới cực đoan đối lập, không phải là biến đổi. Khi bạn không còn chọn giữa hai cực đoan, bạn lắng đọng ở giữa. Và chỗ giữa mới là con đường.

chạy thẳng con đường - không hai, không ba.

Nó là đường đơn giản - một.

đi và trở về, người đó bao giờ cũng ở nhà. Coi ý nghĩ là ý nghĩ về vô ý nghĩ,

hát và múa, tất cả là tiếng nói của chân lí.

Thế thì bất kì cái gì bạn làm, bạn diễn đạt chân lí. Bất kì cái gì. Ăn, bạn diễn đạt chân lí. Bước đi, bạn diễn đạt chân lí. Khi một Thiền sư đánh đệ tử, ông ấy đang diễn đạt chân lí. Khi Kabir hát, ông ấy đang diễn đạt chân lí, khi Meera múa, cô ấy đang diễn đạt chân lí. Jesus diễn đạt chân lí khi chết trên cây chữ thập, và Krishna diễn đạt chân lí khi hát trên chiếc sáo. Bất kì cái gì bạn làm, không có cách nào né tránh việc diễn đạt chân lí. Bạn là chân lí. Giả dối đã bị bỏ đi.

hát và múa, tất cả là tiếng nói của chân lí. Rộng là trời của samadhi vô biên,

Rạng ngời trăng tròn của bốn trí huệ. Cái gì còn lại để được tìm?

Niết bàn là rõ ràng trước người đó,

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, Chính thân này là Phật.

Hãy nhớ từ 'này'.

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen…

Và một khi bạn đã biết tới cội nguồn của bạn, dù bạn ở bất kì đâu, bạn ở trong thiên đường hoa sen.

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, Và chính thân này là Phật.

Và bất kì cái gì bạn làm - bất kì cái gì, không có bất kì điều kiện nào - là việc diễn đạt của chân lí.

Tôi đã nghe một chuyện hay về Lão sư Taji, một Thiền sư lớn.

Khi Lão sư Taji sắp chết, các đại đệ tử của ông ấy tập hợp lại tại bên giường ông ấy. Một trong số họ nhớ Lão sư thích một loại bánh, đã để ra nửa ngày tìm cửa hàng bánh ở Tokyo làm ra loại bánh này, mà bây giờ anh ta đang dâng lên cho Lão sư Taji. Với nụ cười mệt mỏi, Lão sư sắp chết nhận miếng bánh và chậm rãi bắt đầu nhai nó. Khi Lão sư trở nên yếu hơn, các đệ tử của ông ấy nghiêng người gần lại và hỏi liệu ông ấy có lời cuối cùng nào cho họ không.

'Có' lão sư đáp.

Các đệ tử nghiêng người tới một cách hăm hở. 'Xin thầy nói cho chúng tôi!'

'Ôi chao, nhưng cái bánh này ngon tuyệt!' Và với điều đó, ông ấy chết.

Hãy suy ngẫm về nó đi. Thật là một con người tuyệt vời! Cách cư xử thật người làm sao! Vị Phật. Từng hành động và từng lời và từng cử chỉ trở thành việc diễn đạt chân lí. Trong khoảnh khắc đó, chỉ cái đó là đúng, vị của chiếc bánh. Trong khoảnh khắc đó, bất kì cái gì khác sẽ là giả, không thực. Nếu như ông ấy mà nói về Thượng đế, điều đó chắc đã không là thực. Nếu như ông ấy đã nói về niết bàn, điều đó chắc đã không là thực. Trong khoảnh khắc đó, vị trên lưỡi ông ấy vẫn còn sống động. Trong khoảnh khác đó, đó là cử chỉ đích thực của ông ấy.

Ông ấy nói 'Ối chao, nhưng cái bánh này ngon tuyệt.' Cái bánh này.

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, Chính thân này là Phật.

Thiền nhân nói về bốn trí huệ.

Rộng là trời của samadhi vô biên,

Rạng ngời trăng tròn của bốn trí huệ.

Trí huệ thứ nhất có tên là 'trí huệ của gương'. Khi không có ý nghĩ bạn trở thành tấm gương. Đây là trí huệ thứ nhất, trở thành tựa gương. Trí huệ thứ hai có tên là 'trí huệ của tính cùng một'. Khi bạn trở thành gương không ý nghĩ nào, mọi phân biệt trong thế giới biến mất. Thế thì nó, tất cả là một. Thế thì hoa hồng và chim và đất và trời và biển và cát và mặt trời tất cả là một, nó là một năng lượng.

Khi bạn là gương - trí huệ thứ nhất - trí huệ thứ hai nảy sinh từ trí huệ thứ nhất: trí huệ về tính cùng một. Nhị nguyên biến mất. Và từ trí huệ thứ hai nảy sinh trí huệ thứ ba, trí huệ của cái nhìn tâm linh. Khi bạn đã thấy rằng mọi thứ khắp thế giới nó là một năng lượng, chỉ thế thì bạn có thể thấy bên trong bản thân bạn rằng bạn cũng là năng lượng đó. Thế thì người thấy và cái được thấy trở thành một, người quan sát và cái được quan sát trở thành một. Đó là trí huệ thứ ba, trí huệ của cái nhìn tâm linh. Phật có từ đặc biệt cho nó, ông ấy gọi nó là dhamma chakkhu - mắt chân lí, hay pháp nhãn. Cái nhìn tâm linh mở ra - điều người yogis gọi là 'con mắt thứ ba'. Điều Christ cũng gọi là 'một mắt', khi hai con mắt trở thành một. Dhamma chakkhu mở, trí huệ của cái nhìn tâm linh được đạt tới.

Và từ trí huệ thứ ba, nảy sinh trí huệ thứ tư, trí huệ hoàn hảo. Khi bạn đã thấy rằng tất cả là cùng một, và khi bạn đã nhìn vào bên trong và đã thấy rằng bên ngoài và bên trong cũng là cùng một, bạn đã trở thành hoàn hảo. Thực ra, nói rằng bạn đã trở thành hoàn hảo là không đúng, bạn bao giờ cũng hoàn hảo. Bây giờ nó được khải lộ cho bạn - nó chỉ là việc khải lộ. Trong khoảnh khắc đó người ta biết...

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, Chính thân này là Phật.

Xem tiếp Chương 7 - Quay về Mục lục

0 Đánh giá

Ads Belove Post

Powered by RedCircle