Read more
Con Đường Của Yêu – Osho
Chương 2. Mọi thứ vẫn tốt đẹp
Câu hỏi thứ nhất
Câu hỏi này là từ Veereshwar...
Nhiều người ở phương Tây đang tham gia vào việc tạo ra khoa học
hay công nghệ của chứng ngộ. Nhu cầu chắc chắn có đó, nhưng thầy thấy khả năng
này thế nào? Có phải là vô trách nhiệm khi tham gia vào việc tạo ra nó mà không
đạt tới trạng thái chứng ngộ không? Phương pháp Arica có là cách tiếp cận hợp
thức không?
Điều đầu tiên và nền
tảng nhất cần được nhớ là ở chỗ chứng ngộ không bao giờ có thể có công nghệ. Bởi
chính bản chất của nó điều đó là không thể được. Nhưng phương tây bị ám ảnh bởi
công nghệ, cho nên bất kì cái gì tới trong tay của phương tây, nó bắt đầu thu
cái đó vào trong công nghệ. Công nghệ là sự ám ảnh. Với thế giới bên ngoài,
khoa học là cách tiếp cận hợp thức, nhưng bộ phận, không toàn bộ; không phải là
cách tiếp cận duy nhất, nhưng là một trong những cách tiếp cận. Thơ ca là hợp
thức như khoa học.
Khoa học là tri thức
không có yêu, và đó là nguy hiểm trong nó. Vì nó là tri thức không có yêu, nó
bao giờ cũng trong phục vụ cho chết và không bao giờ trong phục vụ cho sống. Do
đó, toàn thể quá trình của khoa học đang dẫn con người tới tự tử toàn cầu. Một
ngày nào đó khi con người đã tự tử - Thế chiến thứ ba - gián sẽ nghĩ, 'Chúng ta
là thích hợp nhất để tồn tại.' Darwin nào đó, Darwin gián nào đó, sẽ chứng
minh, 'Chúng ta là thích hợp nhất vì chúng ta đã sống sót; sống sót của kẻ
thích hợp nhất.'
Con người đã tự tử;
con người đã phá huỷ bản thân mình. Tri thức không có yêu là nguy hiểm, vì
trong chính rễ của nó là chất độc.
Yêu giữ cân bằng,
không bao giờ cho phép tri thức đi quá xa, cho nên nó không bao giờ trở nên phá
huỷ. Khoa học là tri thức không có yêu; đó là nguy hiểm của nó. Nhưng nó là một
trong những cách tiếp cận hợp thức: đối thể, vật chất, có thể được biết mà
không có yêu - không có nhu cầu. Nhưng sự sống không chỉ là vật chất. Sự sống
được tràn ngập với cái gì đó cực kì siêu việt. Cái siêu việt đó bị bỏ lỡ. Và thế
rồi khoa học, dần dần, tự động biến thành công nghệ. Nó trở thành máy móc. Càng
ngày nó càng trở thành phương tiện để khai thác tự nhiên, để thao túng tự
nhiên. Chính bắt đầu của khoa học đã là với ý tưởng đó: làm sao chinh phục tự
nhiên. Đó là ý tưởng ngu xuẩn.
Chúng ta không tách rời
khỏi tự nhiên; làm sao chúng ta có thể chinh phục được nó? Chúng ta là tự
nhiên, cho nên ai sẽ chinh phục ai? Điều đó là ngớ ngẩn. Với sự ngớ ngẩn đó,
khoa học đã phá huỷ nhiều: toàn thể tự nhiên bị phá huỷ, bầu khí hậu bị đầu độc,
không khí, nước, biển, mọi thứ bị ô nhiễm. Toàn thể sự hài hoà đang chết, sinh
thái liên tục bị phá huỷ. Xin nhớ cho - điều này là đủ rồi, quá đủ rồi.
Đừng quay khoa học
vào bên trong. Nếu việc áp dụng phương pháp luận khoa học đã gây tàn phá thế
cho tự nhiên bên ngoài, nó sẽ còn tàn phá hơn cho tự nhiên bên trong - vì bạn
đang đi hướng tới cái tinh tế hơn. Ngay cả với tự nhiên bên ngoài, một loại tri
thức khác được cần mà được bắt rễ trong yêu; nhưng với cốt lõi bên trong nhất của
con người bạn, cái tinh tế nhất, cái siêu việt, tri thức không được cần tới
chút nào. Hồn nhiên được cần. Hồn nhiên cùng với yêu - thế thì bạn sẽ biết cái
bên trong, thế thì bạn sẽ biết phía bên trong của con người bạn, tính chủ thể.
Nhưng phương tây bị
ám ảnh bởi công nghệ. Dường như công nghệ đã thành công về bản chất: chúng ta
đã trở nên mạnh hơn. Chúng ta đã không trở nên mạnh hơn! Toàn thể ý tưởng này
chỉ là sai lầm; chúng ta đã không trở nên mạnh hơn. Chúng ta đang trở nên yếu
hơn mọi ngày vì tài nguyên tự nhiên đang bị cạn kiệt. Sớm hay muộn trái đất sẽ
trống rỗng, nó sẽ không phát triển bất kì cái gì. Chúng ta không trở nên mạnh,
chúng ta đang trở nên yếu hơn và yếu hơn và yếu hơn mọi ngày. Chúng ta đang
trên giường chết. Nhân loại không thể sống còn, cách thức nó đã hành xử với tự
nhiên, trong hơn năm mươi năm, sáu mươi năm, hay, nhiều nhất, một trăm năm - sẽ
là hư không. Nếu Thế chiến thứ ba không xảy ra, thế thì chúng ta sẽ tự tử chậm.
Trong vòng một trăm năm, chúng ta sẽ đi đời. Thậm chí không một dấu vết sẽ còn
lại.
Và con người sẽ không
phải là cái đầu tiên biến mất. Nhiều con vật khác, những con vật rất mạnh mẽ, đã
biến mất khỏi trái đất. Chúng đã gầm lên trên trái đất, chúng đã là vua của
trái đất, còn to hơn voi. Chúng không còn lại ở bất kì chỗ nào. Chúng đã nghĩ
chúng đã trở thành rất mạnh. Chúng đã rất khổng lồ, với năng lượng lớn vô cùng,
nhưng thế thì trái đất không thể cung cấp đủ để nuôi chúng ăn. Chúng bắt đầu trở
nên mỗi ngày một lớn hơn và lớn hơn; thế rồi một khoảnh khắc tới khi trái đất
không thể cung cấp được thức ăn cho chúng. Chúng phải chết.
Cùng điều này đang xảy
ra với con người: con người nghĩ con người đang trở thành ngày càng mạnh hơn.
Con người có thể lên tới mặt trăng; nhưng con người đang phá huỷ trái đất. Con
người đang phá huỷ toàn thể khả năng của sự sống tương lai. Từ từ, nhân loại
đang biến mất. Xin bạn, đừng biến công nghệ của bạn hướng vào cái bên trong; bạn
đã làm hại đủ rồi. Chứng ngộ không thể bị thu lại thành công nghệ.
Cho nên điều đầu
tiên: cuộc hành trình bên trong là của hồn nhiên, không của tri thức; chắc chắn
không của khoa học, tuyệt đối không của công nghệ. Nó nhiều phần là yêu, hồn
nhiên, im lặng. Thiền không thực sự là kĩ thuật. Vì bạn không thể hiểu được bất
kì cái gì khác hơn kĩ thuật, tôi phải nói dưới dạng kĩ thuật. Bằng không, thiền
không là kĩ thuật chút nào. Thiền không là cái bạn làm. Thiền là cái gì đó mà bạn
rơi vào, giống như yêu. Thiền là cái gì đó trong đó bạn có thể hiện hữu, nhưng
bạn không thể làm được nó. Việc làm dừng lại.
Làm sao có thể có
công nghệ cho việc không làm? Công nghệ có liên quan tới việc làm; bạn phải làm
cái gì đó. Thiền không phải là cái gì đó mà bạn làm. Chính là chỉ khi người làm
của bạn đã mất đi và bạn được thảnh thơi toàn bộ, không làm bất kì cái gì,
trong buông bỏ sâu, nghỉ ngơi... có thiền. Thế thì thiền nở hoa. Nó là việc nở
hoa của con người bạn. Nó chẳng liên quan gì tới việc trở thành. Nó không là
thành tựu, nó không là cải tiến; nó chỉ là hiện hữu cái mà bạn đã là vậy rồi.
Kĩ thuật nào được cần?
Mọi người ngu; đó là
lí do tại sao kĩ thuật phải được nói tới. Nếu bạn hiểu, không cái gì được cần.
Chỉ là im lặng và chỉ là bản thân bạn, không di chuyển theo bất kì hướng nào,
không di chuyển chút nào, và bạn sẽ thấy phúc lành, thiền. Khi thiền này đã trở
thành dòng chảy tự phát tới mức bạn thậm chí không cần ngồi cho nó trong tư thế
nào đó, tới mức bạn không tìm ra một góc nhỏ trong nhà nơi không ai làm phiền bạn,
khi ở bãi chợ nữa nó có đó - nói, bước, làm, ăn, nó có đó - khi nó bao giờ cũng
có đó, ngay cả khi bạn ngủ nó có đó, bạn liên tục cảm thấy nó, nó liên tục như
việc thở, hay nhịp đập của tim, đó là điều Kabir gọi là sahaj samadhi, cực lạc
tự phát. Nó không cần kĩ thuật. Nó chỉ cần tự phát, nó chỉ cần tính tự nhiên,
nó chỉ cần tính đơn giản.
Cho nên tôi nói với bạn:
Được phúc lành là người dốt nát, vì vương quốc của họ là vương quốc của Thượng
đế. Trở thành hồn nhiên và trở thành dốt nát đi. Đừng vẫn còn am tường.
Nhưng ở phương tây điều
đó đang xảy ra. Bây giờ họ đang cố thao túng tâm trí, họ đang cố tạo ra máy để
thao túng tâm trí. Điều này đang sẽ là nguy hiểm hơn nhiều so với khoa học. Điều
này sẽ là nguy hiểm hơn nhiều, vì một khi bạn biết cách thao túng tâm trí con
người, bạn sẽ thu con người cũng thàn máy tự động automata: đó là điều đang xảy
ra. Một khi bạn biết rằng con người và tâm trí của con người có thể bị thao
túng, bị thao túng toàn bộ, thế thì mọi tự do sẽ bị mất đi, mọi tính cá nhân sẽ
bị mất đi. Thế thì điện cực có thể được đặt vào đầu bạn mà không có việc biết của
bạn, và bạn có thể bị thao túng từ Delhi, từ Moscow, từ Washington, từ Capitol.
Chỉ bằng sóng radio bạn có thể bị thao túng. Toàn thể đất nước có thể bị ra lệnh,
và không ai sẽ thấy mệnh lệnh đang tới từ bất kì chỗ nào - nó sẽ tới từ bên
trong bạn. Điện cực có đó; chỉ trên sóng radio bạn có thể bị ra lệnh, và bạn sẽ
tuân theo nó một cách tự động. Mọi tự do sẽ bị mất đi. Bạn có thể bị thôi miên
vào bất kì khoảnh khắc nào. Bạn có thể bị đặt vào trong bất kì ảo giác nào và bạn
sẽ tin vào điều đó; nó sẽ thực thế - và nó sẽ tới từ bên trong bạn. Thế thì từ
Delhi, từ Moscow, từ Washington, từ London, từ các vị trí thủ đô... Không cần
giữ cảnh sát và không cần giữ quan toà: điều này là quá đắt và không kinh tế.
Những điều này giống như xe bò kéo - không cần. Công nghệ tốt hơn sẽ sẵn có;
không cần giữ tất cả những người này để áp đặt, không cần ngay cả tu sĩ liên tục
thuyết giảng đạo đức và tôn giáo. Chỉ từ vị trí thủ đô các mệnh lệnh có thể được
cho: rằng tất cả các bạn hạnh phúc - và tất cả các bạn sẽ hạnh phúc; rằng tất cả
các bạn hài lòng - và các bạn sẽ cảm thấy hài lòng. Bạn có thể trên giường chết,
đau khổ, nhưng nếu mệng lệnh tới rằng bạn hạnh phúc và không có chết, bạn sẽ
tin bạn hạnh phúc và không có chết. Và điều này sẽ tới từ bên trong bạn.
Đó là điều Delgado đề
nghị cho ngày nào đó, và ông ấy nói, 'Thế thì con người sẽ hạnh phúc. Không người
nào sẽ bất hạnh.' Nhưng hạnh phúc này sẽ không là hạnh phúc thực.
Thế rồi có các máy
qua đó sóng alpha có thể được tạo ra trong tâm trí của bạn, chỉ bằng kích thích
điện. Điều đó là nguy hiểm, vì điều đó sẽ không cho phép bạn biết thực tại. Và
những sóng alpha đó sẽ được tạo ra từ bên ngoài; chúng sẽ không là đúng, chúng
sẽ không là thực. Và Thượng đế sẽ biến mất. Thế thì không có nhu cầu về Thượng
đế. Bạn không hạnh phúc, cho nên tại sao tìm hạnh phúc? Và bạn sẽ tin vào giáo
điều - bất kì giáo điều nào ngẫu nhiên có đó, được các chính khách và tu sĩ đi
theo - bạn sẽ tin vào giáo điều, bạn sẽ tuyệt đối tin vào giáo điều, và sẽ
không có hoài nghi. Nghi ngại sẽ biến mất. Đây là bước nguy hiểm.
Thiền phải không bị
thu lại trong công nghệ, và chứng ngộ không thể bị thu lại.
Chứng ngộ ngụ ý nhận
biết, chứng kiến. Chứng ngộ không là của thân thể không là của tâm trí. Nó là của
cõi bên kia. Thân thể có thể bị thao túng bởi máy móc, tâm trí có thể bị thao
túng bởi máy móc, nhưng hồn của bạn ở bên ngoài và không thể bị thao túng bởi bất
kì máy móc nào dù là bất kì cái gì.
Bạn hỏi, 'Nhiều người
ở phương tây được tham gia vào việc tạo ra khoa học hay công nghệ của chứng ngộ.'
Những người đó là tội phạm. Họ là những người nguy hiểm; tránh họ ra. Cùng những
người này đã tham gia vào việc tạo ra công nghệ hai trăm năm trước. Họ đã phá
huỷ tự nhiên, giờ họ đang quay sang tâm thức. Họ sẽ phá huỷ cái đó nữa.
Bây giờ có một phong
trào trên khắp thế giới để phản đối sinh thái tự nhiên, cái 'tính tự nhiên' của
tự nhiên. Nhưng điều đó thực sự quá muộn. Bây giờ không cái gì có thể được làm,
không cái gì mấy có thể được làm. Và những người này, người đang lan truyền cho
sinh thái dường như là người gàn sinh thái, một loài khác của nhân chứng
Jehovah - cuồng tín, tranh đấu liều lĩnh cho cái gì đó mà dường như không thể
được.
Trước nạn dịch công
nghệ quay sang tâm thức con người, dừng nó lại. Dừng nó lại trong hạt mầm.
Và bạn nói, 'Nhu cầu
này chắc chắn có đó.' Nó không đâu, chắc chắn không. Không có nhu cầu. 'Nhưng
làm sao bạn thấy khả năng này?' Cũng không có khả năng này. Nhưng con người là
nguy hiểm: một thứ càng không thể được, con người càng trở nên bị hấp dẫn và
thách thức. Đó là điều Edmund Hillary đã nói khi ông ấy lên tới đỉnh Everest.
Ai đó hỏi ông ấy, 'Tại sao ông đã cố điều đó chút nào? Vấn đề là gì? Tại sao?'
Edmund Hillary đã
nói, 'Tôi phải làm, vì Everest có đó. Vì nó có đó, tôi phải lên. Nó đứng như một
thách thức.' Bất kì cái gì không thể chinh phục được đều là thách thức cho bản
ngã của con người.
Không có khả năng
nào; một cách tự nhiên, điều đó sẽ không bao giờ xảy ra - nhưng điều rất không
thể được đó có thể trở thành thách thức cho những người điên, bị ám ảnh này,
người muốn thu mọi thứ vào trong kĩ thuật. Họ không thể tạo ra công nghệ của chứng
ngộ được. Điều đó là không thể được chút nào, trong chính thực tại. Nhưng họ có
thể tạo ra công nghệ mà có thể thao túng tâm trí, và thậm chí lừa dối mọi người,
và tạo ra ảo tưởng về chứng ngộ.
Đó là điều đang xảy
ra với ma tuý: ma tuý đã trở thành công nghệ của chứng ngộ. Và guru của ma tuý,
Ginsberg, liên tục nói dường như mọi nhà huyền bí của thế giiới đều nói cùng điều,
đều cố cho bạn cùng cái nhìn mà LSD có thể cho, hay nấm psilocybin, hay cần sa.
Điều đó là vô nghĩa. Không ma tuý nào có thể dẫn bạn tới chứng ngộ, nhưng ma
tuý có thể tạo ra ảo tưởng về chứng ngộ.
'Tham gia vào việc tạo
ra của nó mà không đạt tới trạng thái chứng ngộ là vô trách nhiệm?'
Chỉ những người đã
không biết chứng ngộ có thể thử nó. Những người đã biết thậm chí không thể nghĩ
về khả năng này. Và nó là vô trách nhiệm.
'Phương pháp Arica có
là cách tiếp cận hợp thức không?'
Phương pháp Arica là
công nghệ, kĩ thuật, tri thức mà không có yêu - và do đó nguy hiểm có đó. Nó sẽ
biến mọi người thành robot.
Bao giờ cũng nhớ, tự
do là mục đích; moksha, tự do tuyệt đối, là mục đích. Bạn có thể biến con người
thành robot; họ sẽ ít khổ hơn. Thực ra, nếu bạn trở thành robot hoàn hảo, làm
sao bạn có thể khổ được? Máy không bao giờ khổ; tất nhiên, không bao giờ hạnh
phúc nữa, nhưng không bao giờ khổ. Phương pháp Arica, hay bất kì phương pháp
nào mà tồn tại không có yêu, là nguy hiểm. Và trong điều này lần nữa lại rất
khó làm phân biệt - vì cùng phương pháp có thể được dùng với yêu, và thế thì nó
có nghĩa; và cùng phương pháp có thể được dùng không có yêu và nó trở thành
nguy hiểm. Và rất khó để thấy từ bên ngoài liệu phương pháp được dùng với yêu
hay không với yêu.
Phương pháp Arica đã
được chọn từ các trường phái khác nhau: Sufi, Gurdjieff, Tây Tạng, Ấn Độ, Nhật
Bản. Nó có tính chiết trung. Từ khắp thế giới, họ đã chọn các kĩ thuật. Ngay chỗ
đầu tiên, chúng được chọn từ các trường phái khác nhau; không có hài hoà trong
chúng, không có trung tâm trong chúng. Điều đó cũng giống như một thứ được chồng
chất - đám đông người, đám đông hỗn tạp, không phải một họ - vì các kĩ thuật tới
từ các trường phái khác nhau.
Kĩ thuật Sufi nhất định
là khác với kĩ thuật Thiền. Cả hai vận hành, cả hai làm việc, nhưng chúng làm
việc trong hệ thống riêng của chúng. Chúng không thể làm việc bên ngoài hệ thống.
Dường như bạn lấy một phần của chiếc xe này, và cố ấn phần đó vào chiếc xe khác
của cách làm khác. Và nó không làm việc, và bạn phân vân: 'Sao nó không làm việc?'
Nó vẫn thường làm việc trong xe thứ nhất; đã có hài hoà, điều đó được ngụ ý cho
xe đó. Phương pháp Thiền làm việc trong triết lí Thiền; phương pháp Sufi làm việc
trong triết lí Sufi; phương pháp Tây Tạng làm việc với Phật giáp bí truyền huyền
bí Tây Tạng; phương pháp Yoga làm việc với hệ thống của Patanjali.
Bạn không thể chỉ chọn
những phương pháp đó từ bất kì chỗ nào, bằng không bạn có thể làm ra chiếc xe với
vài phần từ Rolls Royce, vài phần từ Lincoln, vài phần từ Cadillac, và vài phần
từ Fiat - và bạn liên tục trộn lung tung các bộ phận từ mọi nơi. Bạn có thể ở
trong nguy hiểm... Nó sẽ không đi bất kì đâu ngay chỗ đầu tiên, và bạn may mắn
nếu bó không chuyển động. Nó chuyển động thì sao? - thế thì bạn còn không may
hơn.
Arica đã chọn từ các
trường phái khác nhau. Arica rất tham, chiết trung; nhưng không tồn tại trung
tâm. Nó không là dàn nhạc, nó là cái chợ ồn ào.
Điều thứ nhất: nếu bạn
theo phương pháp Arica quá nhiều, bạn sẽ không tới trung tâm của bạn. Bạn sẽ đi
tới nhiều kinh nghiệm ở ngoại vi, nhưng bạn sẽ không bao giờ tới trung tâm của
bạn. Và mọi kinh nghiệm của bạn sẽ không là của một họ, nhưng là mảnh mẩu. Và
điều đó là nguy hiểm; bạn có thể sụp đổ thành từng mảnh.
Điều thứ hai: không
có yêu, vì không có trung tâm - và yêu chỉ nảy sinh từ trung tâm. Tuyển tập này
của nhiều phương pháp thế là vô hồn, không có hồn trong nó. Cho nên bạn có thể
trở nên rất, rất hiệu quả trong các phương pháp, và vậy mà bạn sẽ thấy rằng tim
bạn không nở hoa. Bạn sẽ trở nên hiệu quả, nhưng bạn sẽ không trở nên phúc lạc.
Bạn có thể trở nên ít khổ, bạn có thể ít căng thẳng, bạn có thể trở nên có năng
lực kiểm soát bản thân bạn hơn, bạn có thể có bản ngã mạnh hơn, nhưng bạn sẽ
không có hồn.
Những phương pháp này
tất cả đều hợp thức được lấy ra trong hoàn cảnh riêng của chúng. Nhưng Arica
chưa có bất kì triết lí nào, nó không có hài hoà. Và đây không phải là cách để
tạo ra hài hoà; cách này là chính cái đối lập. Thực ra, Phật giáo được sinh ra
khi Phật đã trở nên chứng ngộ. Trung tâm tới trước và thế rồi ông ấy bắt đầu tạo
ra vài phương pháp để giúp những người còn chưa chứng ngộ, để giúp họ đi tới
trung tâm mà ông ấy đã đạt tới. Trung tâm tới trước, thế rồi ngoại vi.
Cho nên điều đó là với
Jalaluddin Rumi: ông ấy đã trở nên chứng ngộ trước hết, và khi ông ấy đã trở
nên chứng ngộ, ông ấy nhảy múa, ông ấy xoay tít - không để trở nên chứng ngộ;
ông ấy không bao giờ biết về điều đó. Ông ấy chỉ thích xoay tít rất nhiều, và
ông ấy cảm thấy rất an bình. Nó đã là trùng hợp ngẫu nhiên. Khi ông ấy đang
xoay tít ông ấy đã trở nên chứng ngộ. Khi ông ấy đã trở nên chứng ngộ, ông ấy bắt
đầu nghỉ về cách giúp mọi người; trung tâm tới trước. Thế rồi ông ấy bắt đầu
các phương pháp Sufi. Cùng điều đó là trường hợp của Patanjali.
Với Arica, điều đó là
khác toàn bộ. Không có người chứng ngộ ở trung tâm; tất nhiên, có người rất láu
lỉnh, người đã tập hợp nhiều phương pháp từ nhiều nguồn và nhiều chiều hướng và
nhiều truyền thống - nhưng không có trung tâm. Nó chỉ là ngoại vi. Cho nên những
người đi vào Arica, sớm hay muộn, sẽ cảm thấy bị mắc kẹt. Nó sẽ đem bạn đi tới
mức độ nào đó, và thế rồi đột nhiên bạn sẽ thấy: sẽ không có trưởng thành. Và bạn
sẽ trở nên khô khan, như sa mạc... vì chừng nào yêu chưa tuôn chảy, hoa không
bao giờ tới, cây không mọc, sông không chảy.
Việc nở hoa tối thượng
bao giờ cũng là việc nở hoa của yêu.
Câu hỏi thứ hai:
Một hôm thầy đã nói rằng các bạn là người bản ngã. Hôm khác, lại
nói rằng người bản ngã không thể hạnh phúc, và thầy nói các bạn là hạnh phúc. Xin
thầy có thể bình luận?
Đừng bao giờ nghe điều
tôi nói! Chỉ nhìn tôi thôi, nghe tôi. Đừng quá bận tâm bởi lời. Nhìn thẳng đi:
bạn có thể thấy bất kì bản ngã nào trong người này đang ngồi ở đây nói với bạn
không? Đừng quá quan tâm tới điều tôi nói. Thực ra, duy nhất người vô ngã tuyệt
đối có thể nói, 'Tôi là người bản ngã lớn nhất thế giới.'
Bình thường, bản ngã
cố che giấu bản thân nó. Bạn nói với ai đó, 'Anh là người bản ngã'; người đó sẽ
cảm thấy bị xúc phạm. Người đó có thể vậy, nhưng người đó sẽ cảm thấy xúc phạm.
Người đó càng bản ngã, người đó càng sẽ cảm thấy bị xúc phạm. Bản ngã muốn vận
hành từ vô ý thức, từ góc tối. Nó không bao giờ tới trong ánh sáng. Tôi có thể
nói với bạn rằng tôi là người bản ngã lớn nhất trên thế giới, vì không có vấn đề
gì.
Và tôi bảo bạn rằng bản
ngã của tôi bao gồm tất cả. Làm sao bản ngã có thể bao gồm tất cả? Bản ngã phải
loại trừ, bằng không định nghĩa bị mất. Bản ngã phải nói: Bạn là bạn và tôi là
tôi, và tôi cao hơn bạn, và vĩ đại hơn bạn. Bản ngã phải phụ thuộc vào định
nghĩa, việc phân ranh giới. Khi tôi nói rằng tôi bao hàm tất cả các bạn, bản
ngã của tôi là bao la tới mức nó bao hàm tất cả - nó không loại trừ bất kì cái
gì, thậm chí không cả quỉ - thế thì cái 'bạn' biến mất. Và khi cái 'bạn' biến mất,
làm sao cái 'tôi' có thể tồn tại?
Nhưng câu hỏi này là
từ một người Anh. Điều đó là tự nhiên. Chứng ngộ không có cảm giác khôi hài.
Anh ấy coi nó là nghiêm chỉnh; họ là những người nghiêm chỉnh. Anh ấy phải đã bắt
đầu nghĩ, 'Người này đang mâu thuẫn.'
Tôi là người không
nghiêm chỉnh. Tôi được phép mâu thuẫn.
Người ta nói rằng bất
kì khi nào một chuyện cười được kể cho người Anh, anh ta cười ba lần. Lần thứ
nhất, khi anh ta nghe chuyện cười - và tất nhiên, anh ta không bao giờ hiểu nó.
Anh ta cười chỉ để là lịch sự, để cho người kia không cảm thấy bị xúc phạn - rằng
bạn đã không hiểu, hay chuyện cười của người đó đã bị bỏ qua. Không để làm cho
người đó ngượng ngùng, anh ta cười to. Thế rồi anh ta cười lần thứ hai trong
đêm, vào nửa đêm, khi anh ta bắt được ý của chuyện cười này. 'Đúng!' anh ta
nói, thế rồi anh ta cười. Và thế rồi anh ta cười lần thứ ba vào cái lố bịch
riêng của mình - cười vào chuyện cười lúc nửa đêm! 'Ngu làm sao!' - và phi người
Anh làm sao!
Câu hỏi thứ ba:
Tò mò và khao khát mạnh để có mục đích vĩnh hằng đã mang tôi tới
trại của thầy. Chẳng lẽ người hoài nghi tò mò không thể trở thành người đi theo
tốt được sao? Lời khuyên của thầy với tôi, rời khỏi trại ngay lập tức, dường
như khá khắc nghiệt.
Thứ nhất: tò mò và
khao khát mạnh không bao giờ tồn tại cùng nhau. Tò mò không bao giờ là khao
khát. Tò mò là mang tính trẻ con: người ta đơn giản muốn biết. Nó giống như ngứa
- không cái gì nghiêm chỉnh được tham gia vào, bạn không sẵn sàng trả bất kì
cái gì cho nó. Bạn đơn giản tò mò. Bạn không nghiêm chỉnh về nó, nó không phải
là khao khát sâu sắc trong bạn. Không phải là biết nó bạn sẽ thay đổi cuộc sống
của bạn, phong cách của bạn, cách thức của bạn, con người của bạn. Chỉ nhân tiện,
bạn muốn biết; bạn không quá quan tâm.
Nhiều người tới tôi:
họ hỏi một câu hỏi. Ai đó tới và nói, 'Thầy nghĩ gì? Thượng đế có tồn tại hay
không?' Bây giờ, ngay cả hỏi câu hỏi như vậy cũng cần một người rất đần. Câu hỏi
này là bao la, không thể nói ra lời, tới mức nếu bạn thực sự khao khát, bạn sẽ
không có khả năng nói nó thành lời. Bạn có thể kêu, bạn có thể khóc, nhưng bạn
sẽ không có khả năng thốt ra nó. Câu hỏi này là bao la thế, vô cùng thế. Làm
sao bạn có thể nói được nó? Ngay cả nói nó ra cũng làm cho nó thành báng bổ; nó
là linh thiêng. Câu hỏi này là linh thiêng, thánh thiện tới mức bạn thổn thức với
nó, nhưng bạn không thể trình bày chính xác nó.
Tôi cũng biết những
người đó. Họ tới và họ bắt đầu run, và họ nói, 'Chúng tôi không biết điều chúng
tôi phải hỏi.' Đôi khi một người tới tôi và nói, 'Osho ơi, tôi phải hỏi thầy
cái gì?' Bây giờ đây là người có phẩm chất khác toàn bộ. Người đó thậm chí
không thể hình thành được câu hỏi của mình - vì cuộc sống là bao la và lớn thế;
làm sao đặt nó vào câu hỏi được? Khoảnh khắc bạn đặt nó vào trong câu hỏi, nó
có vẻ trẻ con. Câu hỏi và câu trả lời chỉ tồn tại trong trường học, không trong
cuộc sống.
Ai đó tới và hỏi,
'Thượng đế có tồn tại không?' và người đó mong đợi câu trả lời, có hay không. Bạn
đã được huấn luyện ở trường học, cao đẳng, đại học, để trả lời. Mọi thứ và bất
kì cái gì ban đã được huấn luyện là trả lời. Bạn chưa bao giờ được huấn để hỏi,
nhớ lấy; bạn đã được huấn luyện để trả lời. Giấy thi của bạn đơn giản cho bạn
vài câu hỏi; bạn phải trả lời - 'Thượng đế có tồn tại không?' - và bạn đợi đó.
Và tất nhiên chỉ có thể có hai cầu trả lời, có hoặc không. Nhưng liệu có nghĩa
mà nói, 'Có, Thượng đế tồn tại' không? Nó sẽ giải quyết được bất kì cái gì chút
nào không? Bạn phải đã nghe nói câu trả lời đó trước rồi. Hay, nếu nó được trả
lời, 'Không, Thượng đế không tồn tại,' liệu điều đó sẽ giúp bạn you chút nào
không? Bạn đã nghe câu trả lời đó trước rồi nữa; cả hai câu trả lời đều được biết
rồi. Bạn đang hỏi cái gì?
Tốt hơn cả là im lặng,
tốt hơn cả là đập rộn ràng. Tốt hơn cả là kêu và khóc, tốt hơn cả là mở tim bạn
ra. Sự mãnh liệt của bạn, khát khao của bạn, sẽ không phải là tò mò. Tò mò
không bao giờ tồn tại với khao khát mạnh. Và bạn nói, 'Tò mò và khao khát mạnh
để có mục đích vĩnh hằng đã mang tôi tới trại của thầy.' Tôi không nghĩ vậy. Tò
mò có thể đã mang bạn tới. Và người này đã từng hỏi những câu hỏi ngu xuẩn; anh
ấy phải đã hỏi ít nhất một trăm câu hỏi trong mười ngày.
Khao khát mãnh liệt sẽ
làm ra một câu hỏi từ mọi câu hỏi. Nếu khao khát của bạn là mãnh liệt, thế thì
mọi câu hỏi được thu lại một câu hỏi, và câu hỏi đó là 'Tôi là ai?' Bây giờ mọi
thứ khác là không liên quan.
Người khao khát không
lo nghĩ về Thượng đế, người đó không lo nghĩ về liệu có địa ngục hay cõi trời,
người đó không lo nghĩ về các kiếp sống quá khứ, người đó không lo nghĩ về lí
thuyết Nghiệp và tái sinh. Toàn thể vấn đề của người đó là: Tôi không biết tôi
là ai. Đây là câu hỏi đầu tiên và cuối cùng: 'Tôi phải biết điều này. Nếu tôi
đã biết điều này, thế thì mọi thứ khác là phụ, có thể được biết; nhưng nếu tôi
không biết bản thân tôi, phỏng có ích gì mà biết bất kì cái gì khác?' Khi có
đam mê về chân lí, thế thì bạn chỉ có một câu hỏi: Tôi là ai? Và trong hàng
trăm câu hỏi người này đã hỏi, đã không có một câu hỏi nào về 'Tôi là ai?' Anh
ta đã không hỏi câu hỏi đó. Người này là tò mò; và anh ta nói, '... có mục đích
vĩnh hằng' - người này tham nữa.
Bạn không biết bản
thân bạn và bạn khao khát mục đíhc vĩnh hằng. Tham, bản ngã: họ ham muốn thế giới,
họ ham muốn thế giới khác nữa. Họ ham muốn tiền, số dư ngân hàng lớn hơn, nhà lớn
hơn, xe lớn hơn, và thế rồi họ bắt đầu ham muốn cõi trời và thiên đường và Thượng
đế. Mọi thứ phải ở trong nắm tay họ... những người tham.
Bạn phải biết bạn là
ai, và bằng việc biết điều đó cái vĩnh hằng được lộ ra. Không phải bằng việc chộp
lấy cái vĩnh hằng mà bạn biết bản thân bạn, không. Bạn không thể chộp lấy cái
vĩnh hằng. Bạn tí hon thế. Nghĩ mà xem: một người, một người rất ngẫu nhiên,
nghĩ tới chộp lấy cái vĩnh hằng! Một cơn sốt nhỏ sẽ giết bạn. Chín mươi tám chấm
sáu độ và bạn là ổn; bốn hay năm độ dưới chín mươi tám, và bạn mất rồi. Bốn,
năm độ dưới chín mươi tám, và bạn mất rồi. Bạn không thể tồn tại bên ngoài một
trăm mười đó, và bạn muốn chộp lấy cái vĩnh hằng sao?
Bạn không thể tồn tại
mà không thở trong hơn vài phút - trong hơn tám phút bạn không thể tồn tại - và
bạn muốn chộp lấy cái vĩnh hằng sao?
Thân thể mà đang chết
rồi... Từ chính khoảnh khắc bạn được sinh ra, thân thể bạn đang chết đi. Bẩy
mươi năm không là gì trong quá trình vô thời gian này, trong tính vĩnh hằng
này. Người sẽ sống bẩy mươi năm muốn chộp lấy tính vĩnh hằng sao? Cái đầu nhỏ
thế - bạn sẽ để cái vĩnh hằng vào đâu trong nó? Cứ dường như ai đó đang cố để
toàn thể biển vào trong chiếc thìa.
Tôi đã nghe nói về một
triết gia lớn; đó chắc phải là Aristotle. Tôi không biết đích xác, nhưng tôi ngờ
vậy.
Ông ấy đang bước đi
trên bãi biển vào một sáng có mặt trời, và ông ấy thấy một người điên. Người
này có vẻ điên. Và ông ta đang lấy nước từ biển vào chiếc thìa cà phê, và đang
đổ nó ra. Ông ta đã đào một cái lỗ, và ông ta sẽ chạy ra biển và quay lại, lặp
đi lặp lại. Aristotle thấy ông ta và ông ấy nói, 'Ông làm gì vậy?' Ông ấy tới gần
và ông ấy nói, 'Ông đang làm gì vậy?' Người này nói, 'Tôi đã quyết định làm trống
rỗng toàn thể đại dương trong cái hố này.' Aristotle nói, 'Ông đã phát điên rồi?
Bằng chiếc thìa cà phê này sao? Và cái lỗ bé này sao? Và đại dương bao la kia
sao?' Và người điên bắt đầu cười, 'Tôi nghĩ rằng ông mới điên. Tôi đã nghe nói
rằng ông muốn hiểu chân lí vĩnh hằng. Trong cái đầy nhỏ bé này sao? Ai điên!'
Người này phải đã là
một người thấy vĩ đại. Ông ta gây choáng cho Aristotle lắm, nhưng ông ta là
đúng. Chân lí bao giờ cũng gây choáng. Đừng tham về chân lí, vì chân lí tới chỉ
khi bạn không tham. Và khi bạn không tham, bạn không nhỏ. Tham làm bạn nhỏ. Khi
mọi tham biến mất, biên giới của bạn biến mất. Thế thì bạn không phải là cái lỗ
nhỏ bên cạnh đại dương. Thế thì đại dương là cái lỗ nhỏ bên cạnh bạn... khi
tham không có đó. Chân lí không phải là cái gì đó mà bạn phải sở hữu, nó là cái
gì đó mà phải sở hữu bạn. Bạn phải cho phép điều đó.
Nhưng con người là rất
am hiểu, và tri thức không bao giờ cho phép chân lí đi vào. Trong cả trăm câu hỏi
anh ấy đã từng biểu lộ tri thức của anh ấy: mọi kinh sách mà anh ấy biết, và mọi
thứ anh ấy đã nghe, và mọi thứ đã được ước định trong đầu anh ấy.
'Chẳng lẽ người tò
mò, nghi ngờ không trở thành người đi theo tốt được sao?' Người tò mò, người
nghi ngờ, thậm chí không thể trở thành người đi theo được. Người đi theo tốt là
xa xôi, vì để đi theo bạn cần ở trong tin cậy. Để đi cùng ai đó vào trong cái
không biết, ít nhất bạn sẽ phải có chút ít tin cậy. Và người này không biết tới
tin cậy. Anh ta có nghi ngờ; nhưng anh ta không biết tin cậy. Hoài nghi không
thể dẫn bạn vào trong cuộc hành trình bên trong. Hoài nghi là tốt trong khoa học;
khoa học phụ thuộc vào hoài nghi. Hoài nghi là phương pháp trong thế giới khoa
học. Nếu bạn tin cậy, bạn sẽ không đi vào trong khoa học chút nào; bạn phải
không tin cậy. Khoa học là phương pháp không thân thiện; nó tuỳ thuộc và sự đối
lập.
Tôn giáo, huyền môn,
là khác toàn bộ, đối lập đối xứng. Tin cậy là phương pháp ở đó, không phải hoài
nghi. Nếu bạn tin cậy tôi, bạn có thể đi cùng tôi. Không có cách khác.
Và người hỏi này nói,
'Lời khuyên của thầy cho tôi, rời khỏi trại ngay lập tức, dường như khá khắc
nghiệt.'
Khắc nghiệt sao? Bạn
nói khắc nghiệt? Thế thì bạn không biết bất kì cái gì về Thầy. Nó không phải là
khắc nghiệp! Nó rất lịch thiệp... Bạn có nghe nói về các Thiền sư không? Nếu
như bạn hỏi cùng câu hỏi này với một Thiền sư, ông ấy chắc đã nhảy lên bạn rồi.
Ông ấy chắc đã nện cho bạn đây đó. Ông ấy chắc đã tống bạn ra khỏi đạo tràng rồi.
Một ngày nào đó tôi sẽ làm điều đó; cứ đợi đấy. Bằng không, tại sao tôi đã có
Sant và Kamal và Gurudayal? Họ sẽ làm việc nện. Bạn đợi một chút nữa đi, bạn
tin cậy tôi một chút nữa đi, và bạn sẽ thấy.
Khắc nghiệt, bạn nói?
Nó không khắc nghiệt đâu; nó đơn giản là từ bi với bạn đấy.
Bạn cần điều đó, bạn
xứng đáng điều đó - vì người am hiểu cần cú choáng, sốc điện. Tôi không ở đây để
làm cho bạn am hiểu hơn, tôi ở đây để giúp bạn bỏ mọi tri thức của bạn. Công việc
này gần như kiểu người ta đang ngủ say và bạn phải đánh thức người đó. Tất
nhiên, điều đó là khắc nghiệt. Bạn đã không tự mình thấy điều đó sao? - khi
chuông báo thức tắt đi sáng sớm và bạn sẵn sàng cho Thiền Động, và bạn muốn nói
'nó thật chết tiệt!' và bạn muốn ném đồng hồ đi. Điều đó là khắc nghiệt.
Thầy là việc báo động.
Thầy phải rất gây choáng: thầy phải lay bạn tới tận gốc rễ, vì thầy phải nhổ bật
rễ tâm trí của bạn và cấy vào bạn một thế giới khác hoàn toàn. Thầy phải thay đổi
mức độ hiện hữu của bạn. Điều đó là không dễ, nó là gian nan. Nó là đau đớn nữa.
Nó cần hi sinh. Nếu bạn sẵn sàng hi sinh, chỉ thế thì hãy ở đây. Bằng không, rời
khỏi tôi đi - vì bạn sẽ phí thời gian của bạn và của tôi nữa. Nếu bạn sẵn sàng
trải qua mọi đau khổ này, điều là phải có, hi sinh này...
Từ này 'hi sinh' là
hay. Nó ngụ ý: làm cái gì đó một cách linh thiêng, làm cái gì đó thành thiêng
liêng. Nếu bạn sẵn sàng nhận cú choáng từ tôi trong tin cậy sâu sắc, trong yêu,
chúng sẽ trở thành linh thiêng. Thế thì khắc nghiệt của tôi sẽ không có vẻ như khắc
nghiệt, nó sẽ có vẻ như từ bi. Bạn sẽ cảm thấy rằng tôi đã nói vậy vì tôi đã
yêu nhiều thế. Bằng không, sao tôi phải bận tâm?
Câu hỏi thứ tư:
Thầy, Phật, Jessus, v.v. toàn là đàn ông. Thầy nói đàn bà ở gần
với vô trí hơn. Tại sao thầy đã chọn thân thể đàn ông? Tại sao không có thầy
đàn bà?
Nó là từ Deva Chandan
- tất nhiên, người đàn bà thuộc vào phong trào giải phóng phụ nữ. Nó là có ý
nghĩa. Câu hỏi này phải được hiểu.
Điều đó chưa bao giờ
là vậy trong quá khứ - rằng đàn bà đã bao giờ là Thầy lớn - và điều đó sẽ không
bao giờ là vậy trong tương lai nữa. Lí do là ở chỗ tâm trí nữ tính, bởi chính bản
chất của nó, là không năng nổ. Và là Thầy người ta phải năng nổ. Điều đó không
liên quan gì tới tính ưu việt nam tính. Nó chẳng liên quan gì tới xã hội trọng
nam. Câu hỏi của bạn gần như thế này: Tại sao đàn ông bao giờ cũng là bố và
không bao giờ là mẹ? Không cái gì có thể được làm về điều đó; điều đó là tự
nhiên. Duy nhất một lần điều đó đã xảy ra: để tôi kể cho bạn một giai thoại.
Một linh mục đi bệnh
viện để việc mổ thăm dò xác định nguyên nhân của đau bụng mà ông ta đã chịu đựng.
Trong bệnh viện, đồng thời, một cô gái trẻ chưa chồng đến và cho sinh ra một em
bé mà, cô ấy giải thích cho bác sĩ, cô ấy không muốn giữ.
Bác sĩ nhanh trí tiến
tới giường linh mục khi ông ta tỉnh lại sau mổ và giải thích cho ông ta rằng
phép màu đã xuất hiện: Thượng đế đã cho ông ta một đứa con trai. Linh mục, ban
đầu choáng, nhận cậu bé trong tay mình và cúi đầu trong lời cầu nguyện, cám ơn
Thượng đế vì phép màu này.
Còn gì khác để làm?
Nhiều năm trôi qua.
Linh mục và cậu bé đã sống với nhau như bố và con. Thời gian tới khi cậu bé rời
nhà vào đại học. Đêm trước khi ra đi, linh mục lại gần cậu bé và nói một cách
nghẹt thở, 'Con ta, ta cần làm thú tội kinh khủng với con.' Cậu bé phân vân
nhìn lên khi linh mục tiếp tục nói. 'Ta bao giờ cũng làm con tin rằng ta là bố
con. Này, con, điều đó không đúng. Ta là mẹ con. Giám mục là bố con.'
Duy nhất tâm trí nam
có thể là Thầy. Là Thầy ngụ ý có tính năng nổ. Đàn bà không thể năng nổ. Đàn bà,
bởi chính bản chất của mình, có tính tiếp nhận. Đàn bà là bụng mẹ, cho nên đàn
bà có thể trở thành đệ tử tốt nhất có thể được. Rất khó cho đàn ông trở thành đệ
tử, rất đơn giản cho đàn bà trở thành đệ tử.
Quan hệ Thầy-đệ tử là
quan hệ đàn ông-đàn bà. Bạn có thể đã không nhìn vào điều đó theo cách đó,
nhưng thử nhìn vào nó theo cách đó đi. Đệ tử có tính tiếp nhận, đệ tử là bụng mẹ.
Đó là lí do tại sao rất khó cho nam trở thành đệ tử - ngần ngại nào đó, kháng cự
nào đó, tranh đấu nào đó, bản ngã nào đó tiếp tục. Rất khó cho đàn ông trở
thành đệ tử. Đệ tử vĩ đại nhất bao giờ cũng là đàn bà: Mary Magdalene đã là đệ
tử lớn nhất mà Jesus có. Nhưng cô ấy không thể trở thành tông đồ, cô ấy không
thể trở thành Thầy. Vâng, Phật cũng đã được bao quanh bởi những đàn bà đẹp, cực
kì có năng lực. Mahavira đã được bao quanh: Mahavira có bốn mươi nghìn
sannyasins - ba mươi nghìn đàn bà, mười nghìn đàn ông. Tỉ lệ bao giờ cũng là vậy.
Bốn đệ tử tới - ba đàn bà, một đàn ông. Và một đàn ông đó không rất đáng tin cậy:
anh ta có thể đã tới vì đàn bà, anh ta có thể đã không tới vì Thầy. Nguy hiểm
đó bao giờ cũng tồn tại.
Nhưng các Thầy vĩ đại
nhất bao giờ cũng là đàn ông. Bây giờ điều này là nghịch lí, nhưng đây là cách
nó là vậy - vì Thầy phải đi ra trong cả nghìn lẻ một cách, để làm việc trên bạn.
Thầy phải đi ra - để giúp bạn, để cầm tay bạn, để bảo vệ bạn, để gây choáng cho
bạn, để kéo bạn vào trong cái không biết, để đẩy bạn. Thầy phải làm cả nghìn lẻ
một điều mà có tính năng nổ; đó là lí do tại sao. Điều đó không liên quan gì tới
xã hội trọng nam. Ngay cả trong tương lai, khi mọi bình đẳng đã được thiết lập
tuyệt đối, đàn ông sẽ là bố, và đàn bà sẽ là mẹ. Và phép màu không xảy ra.
Câu hỏi thứ năm:
Mọi thứ là hoàn bảo, nhưng cũng có Thế chiến thứ ba đang tới. Thầy
nói: đừng cố thay đổi thế giới - nhưng chỉ ngay bên ngoài cổng đạo tràng, con của
người ăn xin có vẻ như nó sắp chết đói. Làm gì đây?
'Mọi thứ là hoàn hảo
nhưng cũng có Thế chiến thứ ba đang tới' - điều đó sẽ là hoàn hảo nữa. Nó sẽ giết
chết hoàn toàn. Nó sẽ là chiến tranh toàn bộ - sự hoàn hảo, hoàn hảo nhất đã
bao giờ có. Bây giờ, vấn đề nảy sinh: chiến tranh thế giới đang tới, và chúng
ta đang làm gì ở đây? Thiền sao? Bạn phải đi vào trong thế giới và ngăn cản chiến
tranh thế giới. Bạn có thể làm được điều đó không? Liệu có thể ngăn cản được nó
không? Liệu có thể làm bất kì cái gì về nó không? Bạn sẽ phí cuộc đời của bạn.
Bạn có cuộc sống rất ngắn. Vài khoảnh khắc này là rất có giá trị - và chúng
chưa bao giờ có giá trị thế trước đây, vì Thế chiến thứ ba đang tới. Trước đây,
bao giờ cũng có thời gian. Bây giờ dường như bất kì khoảnh khắc nào, thời gian
sẽ bị kết thúc. Nó có thể xảy ra sáng mai. Bất kì ai cũng có thể nổi cáu.
Richard Nixon, khi
ông ta ở trong rối loạn sau vụ Watergate, có ý tưởng trong đầu để tạo ra Thế
chiến thứ ba. Ông ta có chìa khoá để lẩy cò cho hiện tượng này, và tất nhiên
ông ta lo âu sâu sắc và phiền não. Và tôi phải nói một điều này thiên về người
này: rằng ông ta đã cưỡng lại cám dỗ này. Chắc sẽ rất dễ dàng để lẩy cò chiến
tranh, và ông ta chắc đã trở thành tổng thối Mĩ cuối cùng... thất bại đắt đỏ...
và ông ta chắc đã có toàn thể lịch sử. Ông ta chắc đã là người lịch sử nhất
trong tất cả mọi người. Tất nhiên, chắc sẽ không có người nào viết ra lịch sử;
đó là điều khác. Và chắc đã tốt hơn, ít nhất cho ông ta, không ở trong nhục nhã
như vậy. Ông ta có thể đã cứu được bản ngã riêng của ông ta. Chừng này phải được
nói về người này: rằng ông ta đã cưỡng lại cám dỗ này, điều không rất dễ dàng.
Ông ta có thể đã đơn giản bắt đầu thả bom nguyên tử lên Moscow. Trong vòng mười
lăm phút, chỉ trong vòng mười lăm phút mọi hồn trên trái đất sẽ chết.
Chúng ta có năng lực
để giết toàn thể trái đất bẩy lần. Chúng ta có năng lực siêu giết. Từng người
trên trái đất này có thể bị giết bẩy lần; rằng nhiều bom nguyên tử và bom khinh
khí là sẵn sàng, chồng chất, đang chờ đợi. Bất kì ngày nào, bất kì chính khách
nào cũng có thể nổi cáu - và chính khách là người điên. Họ không rất lành mạnh;
bằng không tại sao họ ở trong chính trị ngay chỗ đầu tiên? Bạn đang ngồi trên
núi lửa.
Chưa bao giờ trước
đây sự việc là nguy hiểm thế. Và bạn nghĩ: 'Mình đang làm gì ở đây? Thiền sao?'
Cái gì khác để làm?
Trong khi thời gian vẫn
có đó, thiền đi. Nếu núi lửa bùng phát và bạn chết khi thiền, bạn sẽ biết vị của
bất tử. Và nếu nhiều người trên thế giới quyết định thiền, Thế chiến thứ ba có
thể không bao giờ xảy ra. Vì điều này đã được quan sát lặp đi lặp lại, suốt nhiều
thế kỉ; rằng nếu một làng một trăm người chỉ một người bắt đầu thiền, toàn thể
phẩm chất của tâm thức của làng thay đổi - chỉ một phần trăm thôi - vì một người
đi tới tiếp xúc với một trăm người của làng, một làng nhỏ. Người đó có quan hệ
với mọi người: ai đó là bác và ai đó là cái gì đó khác; ai đó là anh và ai đó
có quan hệ qua vợ. Anh ta có quan hệ, được nối liền. Anh ta bắt đầu rung động ở
năng lượng khác, năng lượng có tính thiền. Toàn thể phẩm chất của tâm thức của
làng thay đổi với việc thiền của một người. Nếu chỉ một phần trăm nhân loại bắt
đầu thiền, có khả năng rằng Thế chiến thứ ba có thể được tránh. Không có khả năng
khác.
Tại sao, ngay chỗ đầu
tiên, mọi người bạo hành tới mức họ phải đánh nhau lặp đi lặp lại? Trong thời
gian ba nghìn năm đã có năm nghìn cuộc chiến tranh, năm cuộc chiến tranh cho mỗi
năm. Toàn thể nhân loại dường như không lành mạnh: chúng ta chỉ đánh nhau và
không làm cái gì. Bây giờ, từ bạo hành của ba nghìn năm này, có việc đi tới cao
trào - cách thức chung cuộc, cách thức toàn bộ. Bạn sẽ muốn đi vào trong thế giới
và thuyết phục các chính khách, hay thu xếp cuộc tuần hành phản đối hướng tới
Washington và Moscow. Điều đó sẽ không giúp đỡ. Vì bạn có quan sát không? - những
người tham gia tuần hành phản đối là những người rất bạo hành. Bạn đã không
quan sát điều đó sao? Việc la hét của họ, các khẩu hiệu của họ; họ toàn là những
người bạo hành, hung hăng. Có thể họ ủng hộ hoà bình, nhưng họ sẵn sàng tranh đấu
cho điều đó.
Và tranh đấu là vấn đề.
Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ bắt đầu la hét, bạn sẽ tạo ra khẩu hiệu, và bạn sẽ nổi
nóng bởi nó; bạn sẽ bắt đầu đánh nhau.
Đó là điều các chính
khách bao giờ cũng làm. Moscow không ủng hộ chiến tranh, Washington cũng không.
Người cộng sản nói: Chúng ta phải thu xếp chiến tranh vì chúng ta muốn hoà bình
trên thế giới; và người tư bản nói cùng điều này. Người tư bản và người cộng sản
và người phát xít là không khác nhau; tất cả họ đều chuẩn bị cho chiến tranh,
và tất cả họ đều nói họ đang chuẩn bị cho hoà bình. Bây giờ bạn liên tục tuần
hành phản đói, và bạn là người bạo hành.
Tuần hành phản đối
duy nhất có thể là: thiền, ngồi im lặng, và tạo ra năng lượng thiền.
Có lần trong đạo
tràng này đã có một cuộc thi, cuộc thi viết mô tả về người có tính thiền. Và tất
nhiên, như có thể được mong đợi, Mulla Nasrudin về nhất. Mô tả của anh ấy thực
sự hay. Mulla Nasrudin đã giải thích sự khác biệt giữa người có tính thiền và
người không có, theo cách này: 'Người phi thiền là người nếu anh ta nhảy từ nhà
chọc trời, lao vèo, bộp! - xong. Người có tính thiền vẫn đang gõ ngón tay lách
cách nửa đường xuống vẫn nói, 'Đến giờ vẫn tốt.'
Nếu điều đó sắp xảy
ra, nó sắp xảy ra; bạn gõ ngón tay và nói, 'Đến giờ vẫn tốt.' Bạn vẫn sống. Thế
chiến thứ ba còn chưa xảy ra; đừng bỏ lỡ cơ hội này để nhảy múa. Và bằng việc
múa của bạn, tôi đang nói bạn sẽ tạo ra gợn sóng. Thiền đi: bằng việc thiền của
bạn, bạn sẽ xả ra phẩm chất năng lượng khác vào trong thế giới.
Nếu bạn có thể chuyển
đổi một phần trăm của toàn thể thế giới thành người mầu cam, nhảy múa, ca hát,
thiền, không chính trị chút nào... Những người tuần hành phản đối đó mang tính
chính trị; chính trị là căn nguyên. Chúng ta cần những người phi chính trị. Tôi
chưa bao giờ đi bầu cử trong đời tôi, và mọi người sẽ tới tôi và họ sẽ nói,
'Nhưng thầy có thể bầu cho người thầy thích.' Tôi nói, 'Với bất kì người nào
tôi bầu, điều đó sẽ thành chính khách, Tôi không thể bầu được. Tôi là người
không tham gia. Tất cả họ là như nhau; tên họ là khác thôi.'
Bây giờ người theo chủ
nghĩa hoà bình này cũng là người chính trị. Tôi muốn bạn tạo ra vài người phi
chính trị. 'Phi chính trị' là điều tôi ngụ ý bởi tính tôn giáo - người nói, 'Được,
nếu nó sẽ xảy ra, nó sẽ xảy ra thôi. Tại sao tôi phải phí thời gian của tôi?
Tôi phải thiền, tôi phải tận hưởng, tôi phải vui mừng. Trong khi đó, tôi đi nhảy
múa. Nếu nó sẽ xảy ra, nó sẽ xảy ra, nhưng tại sao tôi phải bỏ lỡ điệu múa? Thời
gian là ngắn.' Nếu bạn bắt đầu nhảy múa, nếu bạn bắt đầu yêu, nếu bạn trở thành
thân thiện, nếu bạn tận hưởng cuộc sống, bạn sẽ tạo ra năng lượng mà sẽ là ủng
hộ hoà bình - không nghĩ về hoà bình chút nào. Cho nên tôi không nói về hoà
bình, tôi nói về yêu. Hoà bình đi theo năng lượng yêu như cái bóng.
Tôi biết có nghèo
nàn, có người ăn xin, nhưng làm gì? Bất kì cái gì bạn làm đều sẽ không giúp đỡ.
Suốt nhiều thế kỉ, mọi người đã phục vụ mọi người, cúng dường, cho tiền, quần
áo, thức ăn; nhiều hành động nhân đức đã có đó, nhưng không cái gì đã xảy ra.
Thế rồi đã có các nước cộng sản nơi họ thấy rằng tôn giáo đã thất bại. Thực ra,
tôn giáo chưa bao giờ được thử, nhưng có vẻ dường như tôn giáo đã thất bại vì
những người này được coi là 'người tôn giáo': những người cúng dường, cho từ
thiện, và làm những điều như điều đó. Những người này không phải là người tôn
giáo, những người này là người mặc cảm. Họ cảm thấy mặc cảm. Khi một người tích
luỹ quá nhiều tiền người đó bắt đầu cảm thấy mặc cảm. Bây giờ người đó phải làm
cái gì đó để đỡ gánh nặng mặc cảm của mình, cho nên người đó cho từ thiện. Đây
chỉ là để an ủi lương tâm riêng của người đó.
Chuyện xảy ra:
Andrew Carnegie đã tặng
cho nhiều thư viện, nhiều trường cao đẳng, nhiều trường đại học, đại học y và cả
nghìn lẻ một các viện. Khi ông ấy chết - ông ấy đã là một trong các trùm tư bản
vô đạo - ông ấy hỏi thư kí của ông ấy, 'Tôi đã tặng bao nhiêu tiền trong cả đời
tôi?' Ông ấy đã tặng hàng triệu đô la. Viên thư kí chạy tới thủ quĩ và hỏi; đó
là một danh sách lớn. Ông ấy lắng nghe: tổng số tiền là hàng triệu và hàng triệu
đô la. Ông ấy ngạc nhiên. Ông ấy mở tròn mắt, ông ấy đột nhiên trở nên rất sống
động, và ông ấy nói, 'Nhưng từ đâu, tôi tự hỏi, tôi có thể có được ngần ấy tiền?
Từ đâu? Tôi đã tặng ngần ấy sao? Nhưng từ đâu mà tôi có thể có được ngần ấy tiền?'
Bạn đã có được nó từ cùng người bạn biếu tặng. Từ túi này bạn lấy ra, với tay
kia bạn tặng, và tất nhiên, bạn không bao giờ cho toàn thể, tổng số tiền. Bạn
chỉ cho một phần của nó. Đó là thủ đoạn. Và điều này đã không giúp đỡ.
Nếu bạn cần một thế
giới không nghèo, tham phải biến mất. Không, từ thiện sẽ không giúp gì; nó đã
không giúp rồi. Tham phải biến mất, tích trữ phải biến mất. Đó là điều tôi đang
cố dạy bạn: nếu bạn yêu cuộc sống, bạn không bao giờ trở thành người tích trữ.
Cuộc sống là đẹp thế; ai bận tâm về ngày mai? Đó là lí do tại sao tôi liên tục
lặp đi lặp lại: sống trong khoảnh khắc, thế thì sẽ không có người ăn xin. Nhưng
bạn sống trong tương lai - thế thì sẽ không có người ăn xin. Bạn tích luỹ cho
tương lai; thế thì chắc chắn, không thể sẵn có cho mọi người sống động ngay bây
giờ.
Đất là đủ cho những
người đang sống động. Nếu không ai tụ tập cho tương lai, tích trữ cho tương
lai, nghĩ về tương lai, mọi người sẽ hạnh phúc, và mọi người sẽ có đủ. Nhưng bạn
nghĩ về tương lai. Bạn không hài lòng ngay bây giờ: bạn nghĩ, 'Ngày mai mình sẽ
hạnh phúc.' Cho nên bạn hi sinh hiện tại của bạn, và bạn hi sinh sự hiện diện của
ai đó khác nữa, để nghe tương lai. Người ăn xin trên phố không phải là vấn đề,
người ăn xin trên phố đơn giản là triệu chứng; tham của bạn là vấn đề. Bạn có
thể cho người ăn xin cái gì đó; tôi không nói không cho. Điều đó sẽ cho bạn sự
an ủi rằng bạn đã làm cái gì đó - bạn cho người ăn xin. Và người ăn xin là
trong cùng thuyền: người đó cũng tích trữ. Người đó không thể có tính ăn xin thế
như người có có vẻ, vì tôi biết về người ăn xin, người có số dư ngân hàng. Nó
có thể chỉ là nghề nghiệp của người đó, cho nên người đó phải có tính chất ăn
xin. Người đó phải tỏ ra rằng người đó sắp chết, vì bạn trở nên không thương
xót thế: chừng nào ai đó chưa sắp chết, bạn sẽ không động lòng. Người đó phải
ngồi đó, run trong lạnh. Người đó có thể đam đương có chăn, người đó có đủ tiền;
nhưng người đó không thể đảm đương điều đó - vì nếu người đó có chăn bạn sẽ
không cảm thấy thương tiếc, bạn sẽ không cảm thấy mặc cảm. Việc run của người
đó cho bạn sự run. Người đó phải giả vờ.
Tôi thường biết một
sinh viên. Anh ta là sinh viên của tôi ở đại học. Tôi hỏi anh ta, 'Em sống ở
đâu?' Anh ta nói, 'Thưa thầy xin đừng hỏi.' Tôi cứ khăng khăng, cho nên anh ta
nói, 'Em chưa bao giờ nói điều đó cho bất kì ai vì bố em đã bảo em không nói điều
đó cho bất kì ai. Nhưng em có thể nói điều đó cho thầy. Xin đừng nói điều đó
cho bất kì người nào.' Tôi nói, 'Có chuyện gì vậy?' Anh ta nói, 'Bố em là người
ăn xin. Thầy phải đã thấy ông ấy; ông ấy ăn xin ở ga tầu hoả.' Tôi nói, 'Ông ấy
là bố em à?' 'Ông ấy là bố em ạ. Và ông ấy có đủ tiền. Nhưng em không thể nói
điều đó cho bất kì người nào, bằng không danh tiếng của ông ấy như người ăn xin
sẽ lâm nguy.' Và cậu học sinh này thường bao giờ cũng sống như người giầu. Và
người ăn xin đó tôi biết, vì tôi liên tục du hành, hay mọi người tôi tới và đi
từ ga này. Và tôi là một trong những người ông ấy đã lừa; ông ấy bao giờ cũng lấy
cái gì đó từ tôi. Tới và đi, tôi phải cho ông ấy cái gì đó. Ông ấy sẽ không bỏ
tôi. Tôi nói, 'Được, lần sau tôi sẽ gặp'.
Thế là lần sau tôi
đi, ông ấy chạy tới: 'Tôi sắp chết, và vợ tôi rất ốm và đang trong bệnh viện.'
Tôi nói, 'Và con trai ông thì sao?' Ông ta nói, 'Con trai nào?' Tôi nói, 'Anh
ta là sinh viên của tôi.' Ông ấy nói, 'Thưa thầy, xin đừng nói điều đó cho bất
kì người nào, và tôi sẽ không bao giờ làm thấy khó chịu thêm nữa!'
Nếu bạn muốn giúp đỡ,
bạn giúp đỡ. Nhưng nhớ, đó không là chén trà của tôi. Nó là cuộc dạo chơi của bạn,
và xin bạn, đừng cố đặt cuộc dạo chơi của bạn lên tôi. Nếu bạn muốn giúp người
ăn xin, giúp họ đi. Bạn giúp cho tới chính cực đoan đi. Khi bạn trở thành người
ăn xin thế thì người khác sẽ giúp bạn. Đây là cách mọi sự vẫn đang tiếp diễn -
vì từ thiện đã không giúp đỡ; chủ nghĩa cộng sản tới, và chủ nghĩa cộng sản
cũng đã không giúp đỡ. Nó đã không làm cho bất kì ai thành giầu. Nó đã đơn giản
làm cho người giầu thành nghèo. Người nghèo vẫn còn nghèo; chỉ người giầu đã biến
mất. Nhưng bây giờ không có so sánh.
Đó là lí do tại sao
người Nga không cho phép công dân của họ đi và xem Mĩ. Điều đó là nguy hiểm, vì
người nghèo Mĩ là giầu hơn người giầu Nga. Điều đó là nguy hiểm. Ở Nga, người
giầu đã biến mất; mọi người là nghèo. Bình đẳng đã được thiết lập vì mọi người
đều là nghèo. Không ai là giầu, đúng, nhưng nghèo đã không thay đổi, và tham đã
không thay đổi. Bây giờ nhà nước đã trở thành tham. Bây giờ nhà nước lập kế hoạch
cho tương lai: bẩy mươi phần trăm ngân sách của họ đi vào chuẩn bị chiến tranh.
Đất nước vẫn còn đói: mọi người không có giầy, mọi người không có quần áo -
nhưng bẩy mươi phần trăm ngân sách đi vào chuẩn bị chiến tranh cho tương lai,
cho chiến tranh thế giới thứ ba nào đó. Đây là chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa cộng sản đã
thất bại, thất bại hơn cách từ thiện cổ - vì nó đã tạo ra giai cấp mới. Người
giầu không có đó, nhưng có quan chức. Tư sản đã biến mất, nhưng quan chức đã bước
vào. Bây giờ người giầu không có đó, nhưng đảng viên Đảng cộng sản có đó; bây
giờ người đó là ưu tú. Và cùng áp bức tiếp tục theo cách mạnh hơn nhiều. Trước
đây sự nô lệ không hề có trên trái đất như tồn tại ở Nga và Trung Quốc.
'Vậy làm gì?' bạn hỏi.
Gợi ý của tôi là: không nghĩ rằng bạn có thể ngăn cản được thế chiến thứ ba,
không nghĩ bạn có thể thay đổi nghèo nàn. Bạn có thể thay đổi chỉ bản thân bạn.
Bỏ tham của bạn, bỏ tương lai của bạn, bỏ tâm trí của bạn, trở nên yêu thương
hơn, trở nên thành tâm hơn, và sống từ tim. Và nếu nhiều người bắt đầu sống
theo cách đó, đó là cách duy nhất để thay đổi thế giới. Thế giới không thể được
thay đổi một cách trực tiếp vì không có hồn cho thế giới. Hồn tồn tại trong cá
nhân; duy nhất cá nhân có thể được thay đổi.
Nếu bạn vẫn còn là
người tích trữ - tham, bạo hành, bị đè nén - xã hội này sẽ tiếp tục. Và bạn có
thể cho người ăn xin tiền và người đó sẽ vẫn còn là người ăn xin, vì tiền không
bao giờ thay đổi bất kì cái gì. Tôi đã thấy các triệu phú, và dầu vậy vẫn là
người ăn xin; keo kiệt tới mức bất kì cái gì họ có đều không tạo ra khác biệt.
Tôi đã nghe...
Hai người tị nạn Do
Thái đi qua nhà của John D. Rockefeller. 'Giá mà tôi chỉ có hàng triệu của ông
ta,' một người trong họ thở dài, 'tôi chắc giầu hơn ông ta.'
'Điều đó chẳng có
nghĩa gì,' người kia nhắc nhở anh ta. 'Nếu mà ông có hàng triệu của ông
Rockefeller, ông chắc chỉ giầu như ông ta thôi, không giầu hơn.'
'Ông sai rồi,' người
thứ nhất đảm bảo cho anh ta. 'Đừng quên rằng bên cạnh đó tôi có thể giảng bài
tiếng Do Thái.'
Bây giờ người ăn xin
vẫn còn là người ăn xin: người đó sẽ giảng bài tiếng Do Thái bên cạng đó, cho
dù người đó có mọi tiền của John D. Rockefeller.
Mọi người không thay
đổi. Tiền không bao giờ thay đổi bất kì cái gì. Nếu bạn thay đổi, đó là việc
hoàn toàn khác. Tôi không nói đừng có từ bi; tôi đang nói có từ bi, nhưng đừng
nghĩ rằng bằng từ bi của bạn mà thế giới sẽ thay đổi. Đừng hi vọng điều đó. Cho
bất kì cái gì bạn có thể cho, chia sẻ bất kì cái gì bạn có thể chia sẻ, nhưng
chia sẻ chỉ từ yêu. Đừng nghì dưới dạng chính trị, về thay đổi thế giới; bằng
không bạn sẽ bị thất vọng. Quên tất cả về nó đi. Bạn làm bất kì cái gì bạn
thích làm. Nếu bạn gặp người ăn xin, và bạn có cảm giác nảy sinh trong bạn, làm
cái gì đó, bất kì cái gì bạn cảm thấy thích làm. Tôi không nói không làm bất kì
cái gì. Tôi đơn giản nói đừng hi vọng rằng bạn đang thay đổi thế giới. Không
cái gì đang được thay đổi.
Cách duy nhất để thay
đổi thế giới là thay đổi mức độ tâm thức - và điều đó bạn có thể làm chỉ trong
bản thân bạn. Nó không thể được làm cho bất kì người nào khác từ bên ngoài.
Vâng, nếu bạn thay đổi mức độ tâm thức của bạn, bạn tạo ra các rung rộng điều
làm thay đổi mọi người, điều làm thay đổi mọi người mà không có tri thức của họ.
Một môi trường khác
được cần trên thế giới - không phải xã hội khác mà là môi trường khác. Rung động
tâm linh khác được cần. Đó là lí do tại sao tôi không quan tâm một cách trực tiếp:
tôi không muốn làm cho bạn thành người phụng sự xã hội, nhà truyền giáo, và mọi
sự như thế. Tôi muốn bạn là tuyệt đối ích kỉ.
Trước hết cố biết bạn
là ai: đây là nguyên tắc thứ nhất về tính ích kỉ. Trước hết cố yêu: đây là
nguyên tắc thứ hai của tính ích kỉ. Yêu bản thân bạn để cho bạn có thể yêu người
khác. Và nguyên lí thứ ba về tính ích kỉ: sống khoảnh khắc này một cách vui sướng,
mở hội - và thế thì cái gì đó sẽ bắt đầu xảy ra qua bạn. Bạn sẽ trở thành điểm
lẩy cò; quá trình thế giới bắt đầu.
Bất kì khi nào vị Phật
xảy ra, quá trình thế giới bắt đầu. Bạn trở thành vị Phật, người thức tỉnh. Đó
là mọi điều bạn có thể làm.
Câu hỏi cuối cùng:
Nó là từ Swami Yoga Chinmaya.
Như Kabir hát con đường của yêu, tôi xin lỗi hỏi một câu hỏi cá
nhân. Tôi không thể cưỡng được cám dỗ, cho nên... Khi nào thầy có bạn gái cuối
cùng, và mối quan hệ yêu cuối cùng?
Và anh ta đã biến mất;
tôi không thể thấy anh ta ở đây. Bất kì khi nào anh ta hỏi một câu hỏi, anh ta
trốn liền. Mới hôm nọ anh ta đã ngồi ngay hàng đầu, giờ anh ta đã biến mất.
Các bạn toàn là bạn
gái của tôi, kể cả con trai.
Nhưng điều này sẽ
không thoả mãn cho anh ta; anh ta cần cái gì đó bí truyền. Cho nên đặc biệt với
anh ta - xin các bạn, không ai khác nên nghe nó, các bạn đóng tai lại. Nó là đặc
biệt chỉ cho Swami Yoga Chinmaya, vì thứ bí truyền phải rất bí mật.
Tôi đã có một bạn gái
khi tôi còn trẻ. Thế rồi cô ấy chết. Nhưng trên giường chết cô ấy hứa với tôi
cô ấy sẽ quay lại. Và tôi đâm sợ. Và cô ấy đã quay lại. Cái tên của cô bạn gái
là Shashi. Cô ấy chết năm 47. Cô ấy là con gái của bác sĩ nào đó, Bs. Sharma, của
làng tôi. Ông ấy giờ cũng chết rồi. Và bây giờ cô ấy đã tới là Vivek... để chăm
nom tôi. Vivek không thể nhớ được điều đó. Tôi thường gọi Shashi là 'Gudiya',
và tôi bắt đầu gọi Vivek là 'Gudiya' nữa, chỉ để cho sự liên tục.
Cuộc sống là vở kịch
lớn, trò chơi lớn - nó đi từ kiếp này sang kiếp khác sang kiếp khác.
Điều này là đặc biệt
cho Chinmaya. Tôi hi vọng không ai khác đã nghe thấy nó.
Và câu hỏi thực sự,
thực sự cuối cùng:
Tôi đã nghe nói, Osho
ơi, rằng khi thầy bước đi bàn chân thầy không chạm đất. Thầy có cái gì đó để
nói về nó không?
Điều đó đúng đấy. Khi
tôi bước đi, bàn chân tôi không chạm đất đâu - nhưng không có gì huyền bí về nó
cả. Chúng không chạm đất vì tôi bao giờ cũng đi giầy.
Nếu điều đó không thoả
mãn cho bạn - vì bạn muốn Thầy của bạn phải là người làm phép màu lớn - thế thì
chỉ để thoả mãn cho bạn, tôi muốn nói rằng những đôi giầy đó làm bằng nhận biết,
và nếu bạn cũng đi các đôi giầy của nhận biết, bàn chân bạn sẽ không chạm đất.
Điều đó là đơn giản, nó không phải là điều huyền bí.
Và bạn đã hỏi, 'Thầy
có cái gì để nói về nó không?' Điều đó là nguy hiểm. Thời gian hết rồi. Tôi chẳng
có gì để nói về nó, nhưng tôi phải nói, điều đó mất chín mươi phút... và thời
gian hết rồi... và bóng đái của tôi đầy rồi... và tôi muốn đi vào phòng tắm.
Tôi xin lỗi.
Xem Chương 3 – Quay Về Mục Lục
0 Đánh giá