Chương 1. Thuốc về không sinh không diệt

Chương 1. Thuốc về không sinh không diệt

Price:

Read more

Coi nó là dễ (Tập 2) - Osho
Bài nói về Thiền
Chương 1. Thuốc về không sinh không diệt

"Chúng ta tới trong thế giới này một mình,
chúng ta ra đi một mình" -
điều này cũng là ảo tưởng.
Ta sẽ dạy ông con đường
không tới, không đi!
Chúng ta ăn, ị, ngủ, và dậy;
Đây là thế giới của chúng ta.
Mọi điều chúng ta phải làm sau điều đó
là chết.
Ta sẽ không chết, ta sẽ không đi đâu cả,
ta sẽ ở đây;
nhưng đừng hỏi ta bất kì cái gì,
ta sẽ không trả lời.
Dù nó có thể là bất kì cái gì,
Nó là mọi phần của thế giới ảo tưởng,
bản thân chết
không phải là thứ thực.
Ông nên ước ao biết con đường
trong cả hai thế giới này,
và thế giới kia,
hỏi con người có lòng tốt và chân thành.
Một sư hỏi thầy Pai-Chang,
"Phật là ai?"
Pai-chang đáp,
"Ông là ai?"
Chủ định của chư phật không phải là để nói cho bạn biết mà làm biến đổi bạn. Họ muốn đem tới thay đổi triệt để trong tâm thức của bạn, họ muốn thay đổi chính gốc rễ bạn. Họ muốn đem đôi mắt mới tới cho bạn, sáng tỏ mới. Chủ định của họ không phải là nói cho biết. Họ không có đó để truyền tri thức nào đó mà để cấy sự hiện hữu nào đó. Họ muốn chia sẻ ánh sáng của họ với bạn - chủ định không phải là nói cho biết mà là để làm chứng ngộ.
Do đó họ không bận tâm câu hỏi của bạn là gì. Câu trả lời của họ đôi khi có thể có vẻ rất không liên quan, ngớ ngẩn. Họ không hiện hữu - nhưng họ có một loại liên quan khác toàn bộ. Họ có liên quan tới bạn, không tới câu hỏi của bạn.
Bây giờ, sư này hỏi Thầy Pai-Chang, "Phật là ai?" Và Pai-Chang trả lời, "Ông là ai?"
Thấy ra vấn đề đi: ông ấy quay toàn thể câu hỏi này sang một chiều mới toàn bộ. Ông ấy không trả lời, thực ra ông ấy đang cho một câu hỏi sâu hơn câu hỏi mà sư này đã hỏi - ông ấy đang trả lời bằng câu hỏi khác. "Phật là ai?" - câu trả lời này là dễ, ông ấy có thể đã nói, "Gautam Siddhartha." Nhưng điều đó là không liên quan; ông ấy không quan tâm tới lịch sử của tư tưởng, ông ấy không quan tâm tới lịch sử chút nào. Ông ấy không quan tâm tới người nào đó có tên là Phật Gautam, ông ấy quan tâm nhiều tới việc thức tỉnh nào đó mà có thể xảy ra trong mọi người. Đó là Phật tính thực.
Ông ấy quay câu hỏi này sang hướng tới bản thân người hỏi. Ông ấy làm ra chiếc kiếm từ câu hỏi này và xuyên vào chính tâm. Ông ấy nói: "Ông là ai? Đừng hỏi ta về chư phật, chỉ hỏi một câu hỏi thôi: 'Tôi là ai?' và ông sẽ biết Phật là ai - vì mọi người đều đang mang tiềm năng của việc là phật; không có nhu cầu nhìn ra bên ngoài bản thân ông.
Lão Tử nói: Để tìm ra chân lí, người ta không cần đi ra khỏi phòng mình. Người ta thậm chí không cần mở cửa, người ta thậm chí không cần mở mắt - vì chân lí là bản thể ông. Biết nó là Phật tính.
Nhớ điều đó: các phát biểu của Thiền sư không phải là các phát biểu trong việc dùng từ thông thường. Họ không truyền đạt cái gì đó mà bạn không biết. Họ gây choáng cho bạn, khơi gợi bạn, vào phẩm chất mới của tâm thức.
Lắng nghe những lời kinh này với điều này trong tâm trí bạn. Nhất Hưu không làm sâu sắc bất kì triết lí nào. Đây là những cú gây choáng cho đệ tử của ông ấy - và chúng có cái đẹp mênh mông và tiềm năng mênh mông để gây choáng cho bất kì ai. Lắng nghe:
"Chúng ta tới trong thế giới này một mình,
chúng ta ra đi một mình…"
Điều này đã được nói đi nói lại mãi, suốt nhiều thời đại. Mọi người tôn giáo đều đã từng nói điều này: "Chúng ta tới trong thế giới này một mình, chúng ta đi một mình." Mọi sự cùng nhau đều là ảo tưởng. Chính ý tưởng về cùng nhau nảy sinh vì chúng ta một mình, và sự một mình gây tổn thương. Chúng ta muốn nhận chìm tính một mình của chúng ta vào trong mối quan hệ...
Đó là lí do tại sao chúng ta trở nên bị thu hút nhiều thế trong yêu. Cố nhìn ra vấn đề đi. Bình thường bạn nghĩ bạn đã rơi vào yêu với người đàn bà hay với người đàn ông vì cô ấy đẹp, anh ấy đẹp. Điều đó không phải là chân lí. Chân lí chính là điều đối lập: bạn đã rơi vào yêu vì bạn không thể một mình được. Và nếu người đàn bà đẹp mà không sẵn có, bạn chắc đã rơi vào yêu người đàn bà xấu rồi. Cho nên đẹp không phải là vấn đề. Nếu đàn bà mà không sẵn có chút nào bạn chắc đã rơi vào yêu đàn ông nữa. Cho nên đàn bà cũng không phải là vấn đề.



Bạn sẽ rơi vào yêu thôi. Bạn định né tránh bản thân bạn bằng cách này cách khác. Và có những người không rơi vào yêu với đàn bà hay đàn ông - thế thì họ rơi vào trong yêu tiền. Họ bắt đầu đi vào trong tiền hay vào trong trò quyền lực, họ trở thành chính khách. Điều đó nữa cũng là để né tránh tính một mình của bạn. Nếu bạn quan sát một người, nếu bạn quan sát bản thân bạn một cách sâu sắc, bạn sẽ ngạc nhiên - mọi hoạt động của bạn đều có thể được qui về một nguồn duy nhất. Nguồn đó là ở chỗ bạn sợ tính một mình của bạn. Mọi thứ khác chỉ là cái cớ. Nguyên nhân thực là ở chỗ bạn thấy bản thân bạn rất một mình.
Và là một mình là khổ. Dường như không có đâu mà đi, không người nào để có quan hệ, không người nào để nhận chìm bản thân bạn vào. Thơ cũng được, dục cũng được, rượu cũng được - nhưng cái gì đó được cần để cho bạn có thể nhận chìm tính một mình của bạn, để cho bạn có thể quên đi rằng bạn một mình. Đây là chiếc gai trong linh hồn liên tục gây đau. Và bạn liên tục thay đổi cái cớ của bạn.
Công việc của thầy là mang bạn tới nguyên nhân nguyên thuỷ. Mọi cái gọi là chuyện tình của bạn đều không là gì ngoài các lối thoát. Và tôi bao hàm mọi chuyện tình. Hoạ sĩ đang trong yêu với bức tranh của người đó. Và điều này không phải là ngẫu nhiên rằng nếu một người bị thu hút quá nhiều vào thơ của mình, người đó sẽ né tránh đàn bà, vì họ sẽ là việc sao lãng. Và đàn bà tự nhiên nghi ngờ đàn ông, người có bất kì sở thích riêng nào, bất kì mối quan tâm nào, bị cuốn hút sâu, vì thế thì họ cảm thấy ghen tuông, thế thì họ biết rằng anh ta có người đàn bà khác nữa. Nếu người đàn ông kết với khoa học, người đàn bà giận dường như anh ta đã trong yêu với người đàn bà khác nào đó. Cô ấy không muốn khoa học này đứng giữa bản thân cô ấy và anh ta.
Và những người đã từng là người tìm kiếm và người nghiên cứu và hoạ sĩ, họ bao giờ cũng phải vẫn còn sống độc thân. Điều đó không chỉ là ngẫu nhiên. Họ có một loại chuyện tình khác; họ không cần đàn bà, họ không cần đàn ông.
Cứ quan sát tâm trí bạn. Theo một cách nào đó và theo cả nghìn cách đó là đang cố chỉ một việc: "Làm sao quên đi sự kiện rằng mình đang một mình?"
Mới hôm nọ, tôi đã đọc những dòng này của T. S. Eliot:
Tất cả chúng ta thực ra có không đáng yêu và không thể yêu được không?
Thế thì người ta một mình...
Nếu yêu là không thể được thế thì người ta là một mình. Yêu phải được làm thành có thể; nếu nó là không thể được thì nó phải được bịa ra, được tin vào. Nếu nó gần như là không thể được thế thì ảo tưởng phải được tạo ra - vì người ta cần né tránh tính một mình của người ta.
Khi bạn một mình bạn sợ. Nhớ lấy, sợ không tới từ ma. Khi bạn một mình nỗi sợ tới từ tính một mình của bạn. Nhưng bạn liên tục che giấu nguyên nhân đó, vì thấy nguyên nhân đó là được biến đổi bởi việc thấy nó. Khi bạn đi vào trong rừng một mình bạn không thực sự sợ ma hay kẻ trộm hay kẻ cướp, vì họ có nhiều trong đám đông. Họ sẽ làm gì trong rừng? - mọi nạn nhân của họ đều sẵn có ở đây.
Khi bạn một mình trong phòng và trời tối, bạn không sợ ma; ma chỉ là những phóng chiếu. Bạn thực sự sợ tính một mình của bạn - đó là ma duy nhất. Đột nhiên bạn phải đối diện với bản thân bạn, đột nhiên bạn phải nhìn vào cái hư không hoàn toàn và tính một mình và không có cách nào lập quan hệ. Bạn đã hét to lên và không ai nghe cả. Bạn đã từng dò dẫm trong bóng tối và bạn không bao giờ bắt gặp một bàn tay nắm lấy bạn. Bạn đã ở trong tính một mình lạnh lẽo này - không ai ôm bạn, không ai có đó để ôm bạn. Không ai có đó để sưởi ấm bạn.
Đây là nỗi sợ, nỗi đau khổ của con người. Nếu yêu là không thể được thế thì người ta là một mình. Do đó yêu phải được làm thành có thể, nó phải được tạo ra - cho dù nó là rởm, nó phải được tạo ra. Người ta phải liên tục yêu, vì nếu không sẽ không thể nào sống được.
Và bất kì khi nào xã hội bắt gặp sự kiện rằng yêu là giả, thế thì hai điều trở thành có thể: hoặc mọi người bắt đầu tự tử, hoặc mọi người bắt đầu trở thành sannyasins. Và cả hai điều này là như nhau. Tự tử là nỗ lực thông thường chỉ để phá huỷ bản thân bạn: nếu bạn không có đó thế thì không ai sẽ một mình. Nhưng điều đó không có tác dụng; bạn lại sớm vào trong thân thể khác. Điều đó không bao giờ có tác dụng.
Tính chất sannyas là tự tử tối thượng. Nếu người ta một mình, thế thì người ta một mình. Điều đó phải được chấp nhận, nó phải không bị né tránh: nếu người ta một mình, thế thì sao? Nếu đó là sự kiện, thế thì đó là sự kiện - thế thì người ta phải đi vào trong nó. Tính chất sannyas nghĩa là đương đầu với tính một mình của người ta, đi vào trong nó. Đi vào trong nó mặc cho mọi nỗi sợ. Chết đi trong nó. Nếu chết xảy ra qua nó, điều đó là được, nhưng người ta sẽ không né tránh chân lí. Nếu tính một mình là chân lí, thế thì người ta chấp nhận và đi vào trong nó. Đó là nghĩa của tính chất sannyas. Và người ta thực sự tự tử. Người ta biến mất.
Đây là biến đổi mà tôi đang nói tới. Chư phật không quan tâm tới thông tin, họ quan tâm tới biến đổi. Toàn thế giới của bạn là phương cách lớn để trốn thoát khỏi bản thân bạn. Chư phật phá huỷ các phương cách của bạn, họ đem bạn trở lại bản thân bạn.
Đó là lí do tại sao chỉ người hiếm hoi, người dũng cảm, mới ở trong tiếp xúc với phật. Tâm trí bình thường không thể chịu được điều đó; sự hiện diện của phật là không thể chịu đựng nổi. Tại sao? Tại sao mọi người đã từng chống lại Phật và Christ và Zarathustra và Lão Tử nhiều thế? Bởi lí do nào đó: đây là những người không cho phép bạn có xa hoa về cái không thực, thoải mái của dối trá, thuận tiện của việc sống trong ảo tưởng. Đây là những người không cho phép bạn; đây là những người liên tục buộc bạn hướng tới chân lí. Và chân lí là nguy hiểm.

Chân lí đầu tiên cần trải nghiệm là ở chỗ người ta là một mình. Chân lí đầu tiên cần trải nghiệm là ở chỗ yêu là ảo tưởng. Cứ nghĩ về điều này đi, cứ nghĩ về tầm cỡ của nó, rằng yêu là ảo tưởng. Và bạn đã sống chỉ qua ảo tưởng đó...


Bạn đã trong yêu với bố mẹ bạn, bạn đã trong yêu với anh em và chị em của bạn, thế rồi bạn bắt đầu rơi vào yêu với người đàn bà hay người đàn ông. Bạn trong yêu với đất nước bạn, nhà thờ của bạn, tôn giáo của bạn, và bạn trong yêu với xe hơi của bạn, và với kem nữa - vân vân và vân vân. Bạn đang sống trong mọi ảo tưởng này.
Và đột nhiên bạn thấy bản thân bạn trần trụi, một mình, mọi ảo tưởng đã biến mất. Điều đó gây đau.
Mới sáng nay, Vivek đã nói - và cô ấy đã từng nói đi nói lại với những bài nói này của Nhất Hưu - "Những bài nói này là nặng nề, chán lắm." Chúng nhất định là như vậy rồi, vì bất kì khi nào bất kì ảo tưởng nào của bạn bị động tới nó đều tạo ra bất ổn lớn. Bạn trở nên sợ; bằng cách nào đó bạn đã xoay xở nó - và bạn biết sâu bên dưới rằng không có đáy cho nó nhưng bạn không muốn nhìn. Việc thấy sẽ là kinh hoàng; bạn muốn liên tục vẫn còn trong ảo tưởng.
Không ai muốn thấy rằng yêu của mình là giả. Mọi người đều sẵn sàng tin rằng yêu quá khứ của họ là giả - nhưng yêu này sao? Không, yêu này là thực. Khi nó đã biến mất họ sẽ nói nó cũng là giả - nhưng thế thì yêu khác là thực. Trong bất kì ảo tưởng nào họ đang sống, họ đều giả vờ rằng ảo tưởng này là thực. "Người khác - Nhất Hưu có thể đúng, Osho có thể đúng về các yêu khác, chúng đã là giả, chúng tôi biết. Nhưng yêu này sao? Yêu này là việc khác toàn bộ. Đây không phải là yêu thường, tôi đã tìm ra bạn tri kỉ của tôi."

Không ai đã bao giờ tìm ra bạn tri kỉ - làm sao bạn có thể tìm ra bạn tri kỉ được? Tính một mình là tuyệt đối. Đây chỉ là nỗ lực để tự lừa bản thân bạn - và bạn có thể liên tục lừa dối. Đó là điều bạn đã từng làm suốt nhiều thời đại, trong nhiều kiếp sống thế...


Nhưng bạn quên. Và bạn quên vì chấn thương lúc sinh. Khi đứa trẻ được sinh ra nó nhớ - nó nhớ hoàn hảo mọi điều đã xảy ra trong kiếp quá khứ; nó biết điều đó. Nhưng chấn thương sinh lại tới mức, cơn đau của việc sinh là tới mức... Nó sống trong bụng mẹ một cách thoải mái trong chín tháng - bạn sẽ không bao giờ ở trong thoải mái như thế lần nữa, thậm chí hoàng đế cũng không thể ở trong thoải mái như thế.
Bạn đã nổi trong chất lỏng ấm. Và mọi nhu cầu đều được đáp ứng, và bạn không có trách nhiệm nào, không lo nghĩ. Bạn chỉ ngủ say và mơ, mơ những điều dịu ngọt. Bạn hoàn toàn được bảo vệ, an ninh. Mọi thứ đã xảy ra theo cách riêng của nó; không một nỗ lực nào được cần về phần bạn.
Và đột nhiên một ngày sau chín tháng, mọi thế giới đó bị phá huỷ. Bạn bị nhổ bật rễ. Bạn đã được bắt đất trong bụng mẹ, bạn đã được kết nối với người mẹ: bạn bị ngắt ra. Và bạn phải đi qua kênh sinh, một kênh rất chật hẹp.
Đứa trẻ cảm thấy đau vô cùng. Đau tới mức nó trở nên vô ý thức. Đó là cơ chế dựng sẵn trong tâm trí - bất kì khi nào cái gì đó trở thành không thể chịu đựng nổi, tâm trí đơn giản tắt bạn đi để cho bạn không cần cảm thấy nó.
Thực ra, gọi bất kì đau nào là không thể chịu nổi là sai về mặt tồn tại, vì bất kì khi nào đau trở thành không thể chịu nổi bạn đều trở thành vô ý thức. Cho nên bạn chưa bao giờ biết cái đau không thể chịu nổi - nếu bạn biết nó, và bạn có ý thức, nó vẫn là chịu được. Một khi nó đạt tới điểm nó trở thành không thể chịu nổi, ngay lập tức toàn thể cơ chế này cho ý thức đều bị tắt đi. Bạn rơi vào trong cơn mê - thuốc mê tự nhiên.
Cho nên từng đứa trẻ đều trải qua kênh sinh trong cơn mê, và điều đó phá vỡ kí ức của nó. Và lần nữa nó bắt đầu lừa quanh theo cùng cách cũ, cứ tưởng rằng nó đang làm cái gì đó mới.
Không ai làm bất kì cái gì mới. Mọi điều bạn đang làm bạn đều đã từng làm nhiều lần thế, nhiều triệu lần thế. Nó không là cái gì mới. Giận này, tham này, dục này, tham vọng này, sở hữu này - bạn đã làm nó cả triệu lần. Nhưng bởi vì chấn thương khi sinh mà đã có gián đoạn, kẽ hở. Và vì kẽ hở đó quá khứ của bạn không còn sẵn có cho bạn.
Qua la hét nguyên thuỷ sâu, quá khứ có thể trở thành sẵn có. Nếu bạn có thể đi lùi lại trong chấn thương khi sinh bạn có thể nhớ được các kiếp quá khứ của bạn. Nhưng bạn sẽ phải đi sâu vào trong chấn thương khi sinh. Và một khi bạn đã đạt tới vào trong trạng thái bụng mẹ của tâm thức bạn, đột nhiên bạn sẽ thấy toàn thể tiểu sử của bạn. Và nó là dài. Nó là tẻ nhạt - nó không là gì ngoài đau khổ, thất bại và thất vọng.
Trong tâm xã mới, chúng ta sẽ làm nỗ lực để làm cho bạn nhớ các kiếp sống quá khứ của bạn. Thế thì bạn sẽ không nghĩ rằng những lời này của Nhất Hưu là chán - thế thì bạn sẽ thấy đây là chân lí.
Nhưng bạn đang sống cuộc sống không thực, cứ tưởng bạn đang làm cái gì đó mới. Và vì bạn nghĩ nó là mới, bạn vẫn còn mê say nó, bởi phép thần của cái mới. Nếu bạn có thể đi tới biết rằng bạn đã rơi vào yêu hàng triệu lần, và mỗi lần nó đều là thất bại, sẽ không thể nào rơi vào trong cái bẫy này lần nữa được.

Bạn sẽ thấy rằng nó là vô tích sự - rằng không có bạn tri kỉ, rằng chưa bao giờ có cả. Tính một mình đó là tuyệt đối. Rằng không có cách nào để giao cảm, không có cách nào để trao đổi. Rằng không ai có thể hiểu được bạn, và bạn không thể hiểu được bất kì ai.


Tôi biết những bài nói này nhất định gây chán. Tại sao? Vì những bài nói này sẽ chạm tới vết thương nào đó trong bạn và mủ sẽ bắt đầu rỉ ra. Và bao giờ cũng nhớ: đôi khi điều tốt là để mở vết thương ra, vì đó là điều kiện cho việc chữa nó. Nhưng dũng cảm được cần tới, chắc chắn; không có dũng cảm không cái gì có thể được làm. Giữ cho vết thương mở ra cần dũng cảm lớn - nhưng đó là điều kiện cho việc chữa lành nó!
Bạn sẽ muốn che giấu nó. Bạn sẽ muốn che giấu nó đằng sau hoa, bạn sẽ muốn quên về vết thương này. Bạn sẽ muốn đi vào trong an ủi nào đó: "Có thể yêu còn chưa xảy ra - giờ nó có thể xảy ra. Lần này mình có thể có khả năng làm nó."
Nhưng yêu không thể nào là có thể được. Làm cho nó thành có thể không phải là vấn đề phụ thuộc vào bạn. Bản thân yêu là điều không thể được. Nó giữ cho bạn bị mơ tưởng, nó giữ cho bạn trong một loại trạng thái mơ. Nhất Hưu nói:
"Chúng ta tới trong thế giới này một mình,
chúng ta ra đi một mình…"
Tính cùng nhau là ảo tưởng. Tính một mình là nền tảng hơn. Yêu là ảo tưởng, thiền là nền tảng hơn - nhưng chung cuộc điều đó nữa cũng là ảo tưởng. Đó là chỗ Nhất Hưu đi thêm một bước lên trước và lấy cú nhảy lượng tử. Bạn đã nghe nó nhiều lần rồi: "Chúng ta tới trong thế giới này một mình, và chúng ta ra đi một mình." Nhưng Nhất Hưu nói:
điều này cũng là ảo tưởng.
Ta sẽ dạy ông con đường
không tới, không đi!
Đó là Thiền, Thiền thuần khiết. Tôn giáo bình thường dạy: Yêu là ảo tưởng. Thiền chung cuộc dạy: Ngay cả thiền cũng là ảo tưởng. Để tôi làm cho điều đó thành rõ ràng cho bạn. Yêu có nghĩa là tính cùng nhau - khả năng của việc hiện hữu cùng nhau, khả năng của việc bị mất hút vào trong nhau, khả năng của trao đổi, khả năng của lập quan hệ. Khi yêu thất bại, thất bại hoàn toàn, bạn bắt đầu đi tới thiền. Thiền nghĩa là năng lực hiện hữu một mình. Chúng là các cực, yêu và thiền. Thiền nghĩa là năng lực không lập quan hệ - không có nhu cầu lập quan hệ, người ta là đủ lên bản thân mình.

Nhiều người liên tục bám lấy thế giới của yêu; vài người thoát khỏi nó, và thế rồi họ liên tục bám lấy thế giới của thiền. Thiền nói: Nếu ông bám lấy thế giới của thiền, nếu ông bắt đầu bám lấy tính một mình của ông, ông vẫn ở xa xôi với chân lí. Vì nếu tính cùng nhau là giả, làm sao tính một mình có thể là thực được?


Đây là cách mạng lớn mà Thiền mang lại trong thế giới của tôn giáo. Nếu tính cùng nhau là giả thế thì tính một mình cũng không thể là thực được - vì tính một mình có thể được hiểu chỉ trong hoàn cảnh của tính cùng nhau.
Nếu yêu là giả thế thì thiền cũng không thể là thực được. Những người đã quyết định ủng hộ thiền chống lại yêu, họ đã chọn một cực. Và cực này phụ thuộc vào cực kia.
Nghĩ mà xem: nếu tối là giả, làm sao sáng có thể là thực được? Nếu đau là giả, làm sao sướng có thể là thực được? Nếu sinh là giả, làm sao chết có thể là thực được? Nếu 'ta' là giả, làm sao 'người' có thể là thực được? - hay ngược lại. Chúng tồn tại như các cặp. Yêu và thiền là một cặp, lấy nhau mãi mãi.
Và nếu bạn quan sát một cách im lặng sự vận hành của tâm trí bạn, bạn sẽ thấy điều đó đang xảy ra một cách liên tục...
Bạn đang trong yêu với một người, và ngay lúc đó bạn bắt đầu cảm thấy bạn cần không gian riêng của bạn. Đó là nhu cầu về thiền - bạn có thể không nhìn nó theo cách đó, nhưng nó đích xác là điều đó. Ở cùng nhau, bạn bắt đầu cảm thấy bị ngột ngạt, chật chội, chen chúc. Và bạn bắt đầu thấy ra vấn đề rằng bạn cần không gian riêng của bạn. Bạn muốn ở một mình trong vài ngày.
Mới hôm nọ, tôi nhận được một bức thư từ một nữ sannyasin. Người yêu của cô ấy đã bỏ sang phương Tây và cô ấy rất lo nghĩ và căng thẳng, cũng là tự nhiên, vì cô ấy sẽ một mình ở đây mà không có người yêu. Và anh ta phải đi vì những lí do nào đó, vì trách nhiệm nào đó - anh ta chắc đã thích ở cùng cô ấy, nhưng anh ta phải đi. Cho nên cô ấy rất rối loạn, trong đau đớn.
Nhưng cô ấy ngạc nhiên - khi anh ta rời đi cô ấy cảm thấy như một gánh nặng đã rời khỏi cô ấy. Cô ấy cảm thấy rất thoải mái. Cô ấy viết thư cho tôi, cảm thấy rất mặc cảm. Dường như một loại phản bội: người yêu của cô ấy đã đi và bạn cảm thấy sung sướng! Bạn đáng phải than vãn, bạn đáng phải khóc lóc, bạn đáng phải bước quanh với mặt dài để cho mọi người biết rằng người yêu của bạn đã đi. Và cô ấy cảm thấy sung sướng thế, dường như cô ấy chưa bao giờ cảm thấy trong đời mình!
Bây giờ cái gì đang xảy ra? Không cần cảm thấy mặc cảm. Nếu mọi người nhận biết, điều này sẽ xảy ra cho mọi người. Bất kì khi nào người yêu của bạn đi, bạn sẽ nhảy múa. Thế là cuối cùng bạn có thể được một mình! Nó có thể không lâu - trong vòng vài ngày bạn sẽ phát mệt với tính một mình của bạn và bạn sẽ bắt đầu khao khát người yêu. Đây là một cực.
Yêu tạo ra nhu cầu một mình - ở một mình nhất định xảy ra qua yêu. Và khi bạn một mình, tính một mình tạo ra nhu cầu để yêu - điều đó nhất định xảy ra qua việc ở một mình. Chúng là đối tác, các đối tác trong cùng một kinh doanh.
Thiền nói: Những người đã trốn lên Himalayas và đang ngồi trong hang động một mình là ngu cũng như những người đang săn đuổi đàn bà hay săn đuổi đàn ông và tưởng rằng họ đang sống cuộc sống của họ. Cả hai đều ngu! vì cả hai đã chọn các cực.
Và điều đó được chứng minh bởi hàng nghìn năm kinh nghiệm rằng người ngồi trong hang động ở Himalayas chỉ nghĩ về đàn bà và không gì khác. Và tất nhiên người đó trở nên ngày càng sợ đàn bà hơn - vì cô ấy đang tới ngay cả chỗ đó, nếu không về vật lí thì về tâm lí. Anh ta trở nên mê mải tới mức có những khoảnh khắc khi anh ta bắt đầu phóng chiếu người đàn bà gần như có về mặt vật lí, dường như cô ấy có đó. Anh ta có thể bắt đầu có ảo giác.
Trong kinh sách Ấn Độ có những câu chuyện về các rishis lớn đang thiền trên Himalayas; thế rồi một hôm đột nhiên đàn bà đẹp từ trời xuống làm sao lãng họ. Tại sao họ phải quan tâm làm sao lãng những người đáng thương đó? để làm gì?
Chẳng ai tới cả, chỉ ảo giác. Những người này đã sống quá nhiều trong tính một mình và bị mệt mỏi với tính một mình, và bây giờ không có ai để quan hệ cả. Họ bịa ra, họ phóng chiếu. Tâm trí của họ đang cần tới mức họ phải tạo ra ai đó để nói chuyện với. Và một cách tự nhiên, khi bạn bịa ra, sao không bịa ra đàn bà trần truồng đẹp nhảy múa quanh bạn? Đó đã là kìm nén của họ, đó là lí do tại sao họ đã trốn khỏi thế giới - nó có đó trong họ.
Và bạn có thấy ra vấn đề khác không? Một người ngồi ở bãi chợ, mệt mỏi, lo nghĩ, căng thẳng, bắt đầu nghĩ làm sao từ bỏ thế giới. Người đó cảm thấy rất thoải mái với ý tưởng: "Một ngày nào đó mình sẽ từ bỏ thế giới này, và mình sẽ đi lên Himalayas và ở đó với im lặng và an bình của Himalaya và niềm vui của nó." Ngay cả ý tưởng này cũng làm cho người đó cảm thấy thoải mái và tươi tỉnh.
Đặc biệt ở Ấn Độ, mọi người liên tục nghĩ rằng ngày này hay ngày khác họ sẽ từ bỏ mọi thứ vô nghĩa này, bãi chợ này, và họ sẽ thoát lên tu viện và sống ở đó trong hạnh phúc mãi mãi. Họ không thể làm thế được - nghĩ về những đàn bà kia, tới từ trời: họ sẽ tới, họ sẽ hành hạ bạn.
Thiền và yêu là một phần của một cặp, một đôi. Chúng tất cả đều cùng nhau, chúng lấy nhau mãi mãi - âm/dương, chúng không thể bỏ nhau được. Do đó Nhất Hưu là tuyệt đối đúng khi ông ấy nói:
"Chúng ta tới trong thế giới này một mình,
chúng ta ra đi một mình" -
điều này cũng là ảo tưởng.

Yêu là ảo tưởng, thiền cũng vậy. Điều duy nhất là tốt về thiền là ở chỗ nó có thể lấy bạn ra khỏi yêu. Nhưng đừng bám lấy nó - nó chỉ là phương cách để mang bạn ra khỏi yêu của bạn. Nó mang bạn ra khỏi ảo tưởng về yêu. Nhưng thế thì ngay lập tức bỏ nó nữa, bằng không bạn sẽ bắt đầu tạo ra ảo tưởng mới về thiền, về hoả xà đang dâng lên, ánh sáng xảy ra trong luân xa... và cả nghìn lẻ một thứ - chúng được gọi là 'kinh nghiệm tâm linh'. Chúng chả tâm linh hay cái gì, chúng chỉ là tưởng tượng.


Bạn không thể sống một mình lâu được. Nếu người đàn bà đẹp không tới, thế thì hoả xà sẽ dâng lên - cái gì đó sẽ xảy ra, bạn không thể ở một mình được. Có thể những người đàn bà đẹp đó đã quên mất hay đã quá mệt mỏi với các ông rishis già, và họ không tới thêm nữa; hay họ đang bận trên hành tinh khác nào đó. Thế thì cái gì đó phải xảy ra - bạn sẽ bắt đầu thấy các luân xa chuyển động bên trong bạn, năng lượng nảy sinh. Trong xương sống của bạn, việc dâng lên lớn; trong đầu bạn, hoa sen nở ra. Bạn không thể hiện hữu một mình được! Bạn đang tạo ra thế giới - giờ bạn gọi nó là tâm linh.



Bạn gọi nó là cái gì không thành vấn đề. Thành vấn đề là hiện tượng đơn giản này rằng bạn không thể ở một mình lâu được. Bạn không thể ở cùng nhau lâu được, bạn không thể ở một mình lâu được. Tính cùng nhau tạo ra nhu cầu để ở một mình, để vẫn còn một mình. Và sớm hay muộn bạn thấy rằng bạn đang khao khát ở cùng với ai đó.
Đây chỉ là ngày và đêm, mùa hè và mùa đông, nó liên tục chuyển động - bánh xe cuộc sống.
Nhất Hưu là đúng. Ông ấy nói: Chân lí là ở chỗ người ta phải đi ra ngoài yêu và đi ra ngoài thiền. Người ta phải đi ra ngoài việc có quan hệ và người ta phải đi ra ngoài tính một mình. Khi tính cùng nhau và tính một mình cả hai đã biến mất, cái gì còn lại? Cái không còn lại. Cái không đó là hương vị của sự tồn tại. Bạn không một mình không cùng nhau. Thực ra bạn không hiện hữu.
Ta sẽ dạy ông con đường
không tới, không đi!
Và thế thì bạn có thể đi đâu? Thế thì ai có đó để đi? Bạn có thể tới từ đâu? Ai có đó để tới? Thế thì mọi việc đi và tới biến mất, và cái bao giờ cũng hiện hữu, được biết tới. Cái vĩnh hằng được biết tới. Mọi việc tới và đi chỉ là mơ, hiện tượng thời gian, bong bóng xà phòng, nhất thời.
Khi tất cả những thứ nhất thời đó đã bị bỏ đi, việc thấy rằng trao đổi là không thể được, việc quan hệ là không thể được, bạn bắt đầu chuyển vào trong tính một mình. Thế rồi một ngày nào đó bạn thấy ra hiện tượng khác, rằng tính một mình là không thể được. Thế thì thay vì đi lui lại yêu, điều là tiến trình bình thường, bạn nhảy ra khỏi tính một mình nữa. Bạn nhảy sâu hơn.
Từ hai bạn đi vào một, từ một bạn đi vào không - không người nào. Đó là advait, đó là bất nhị; bạn thậm chí không thể gọi nó là 'một'. Và đó là cội nguồn. Đó là đại dương, chúng ta là sóng của nó. Và thấy đại dương đó, bạn biết bạn chưa bao giờ được sinh và bạn sẽ không chết. Toàn thể sự tồn tại của bạn đã là sự tồn tại mơ. Mọi thứ đã biến mất.
Phật đã gọi xu hướng này là hiện hữu trong yêu hay hiện hữu một mình, xu hướng của bản ngã còn lại - hoặc trong mối quan hệ hoặc trong không quan hệ, nhưng bản ngã muốn còn lại; hoặc như người yêu hoặc như thiền nhân, hoặc như người thế tục hoặc như người thế giới khác, nhưng bản ngã muốn còn lại - Phật đã gọi xu hướng này là avidya, dốt nát.
Nhớ lấy, avidya không ngụ ý vô tri thức. Nó đơn giản ngụ ý vô nhận biết. avidya là xu hướng đối xử với bản ngã như một thứ tuyệt đối. Điều này tạo ra kẽ hở giữa con người và vũ trụ - vì điều đó, con người không trong mối quan hệ đúng của mình với thế giới. Việc làm sai lạc này được Phật gọi là avidya - dốt nát, vô nhận biết.
Bạn đi vào trong yêu trong một loại vô nhận biết, và bạn đi vào trong thiền cũng trong một loại vô nhận biết. Nếu bạn trở nên nhận biết, yêu biến mất, thiền biến mất.
Nhưng để tôi nhắc bạn, bằng không bạn có thể diễn giải sai toàn thể sự việc: khi điều bạn gọi là yêu biến mất, loại yêu khác nảy sinh. Bạn không có bất kì ý niệm mơ hồ nào về nó. Khi thiền biến mất thế thì một loại tính thiền khác toàn bộ nảy sinh; bạn không có ý tưởng nào về nó. Thiền của bạn là nỗ lực - thực hành, trau dồi, ước định. Khi thiền này bị bỏ đi thế thì phẩm chất thiền đơn giản nảy sinh trong bản thể bạn: bạn đơn giản im lặng, không bởi lí do nào hết cả. Không phải là bạn đang cố gắng là im lặng, không phải là bạn đang cố tĩnh lặng, không phải là bạn đang làm bất kì nỗ lực nào để vẫn còn thanh bình. Bạn đơn giản thanh bình - vì không có ai quấy rối. Bản ngã không có đó, nguyên nhân duy nhất của rối loạn mất rồi. Bạn đơn giản tĩnh lặng - không phải bạn đang cố được tĩnh lặng. Việc cố tĩnh lặng đơn giản có nghĩa là bạn bị rối loạn, chia chẻ, bị phân chia thành hai phần - người đang cố làm cho bạn im lặng, và người đang bị kéo và bị đánh túi bụi vào trong im lặng. Có một loại xung đột - và làm sao xung đột có thể có tính thiền được? Có ép buộc, bạo hành - và làm sao bạo hành có thể là an bình được?
Đó là lí do tại sao tôi nói rằng những người liên tục ép buộc các tư thế yoga, các mật chú, lên bản thân họ và bằng cách nào đó liên tục cố gắng duy trì an bình của họ không phải là người an bình. Họ chỉ tạo ra mẽ ngoài, đạo đức giả.

Khi con người thực nảy sinh trong bạn, khi con người nguyên thuỷ nảy sinh trong bạn, không có nỗ lực nào để là bất kì cái gì. Người ta đơn giản hiện hữu. Đó là con người tự nhiên của Thiền. Người đó yêu - không phải vì người đó cần ai đó, người đó yêu vì người đó không thể đừng được việc đó. Yêu có đó, yêu đang tuôn chảy, và không có người nào ngăn cản nó, cho nên người đó có thể làm được gì? Người đó có tính thiền - không phải bởi vì người đó thiền, người đó có tính thiền vì không có rối loạn nào được tìm thấy: nguyên nhân duy nhất của rối loạn, bản ngã, không còn đó nữa. Chia chẻ không còn đó, người đó là một. Bình tĩnh, thanh thản, hoà nhập.


Và tất cả những điều này chỉ là tự phát. Đó là lí do tại sao Thiền nhân không gọi con người thực của Thiền là tâm linh - người đó không thế tục không tâm linh. Người đó ở trong thế giới vậy mà không phải là của nó. Người đó sống trong bãi chợ nhưng bãi chợ không sống trong người đó.

Giáo huấn của Phật là tuyệt đối phủ định - bởi lí do nào đó. Yêu phải bị phủ định, thế rồi thiền phải bị phủ định. Bây giờ, đây là hai điều cao nhất trên thế giới, điều quí giá nhất. Và Phật phủ định cả hai.



Soren Kierkegaard, một nhà tư tưởng và nhà huyền bí người Đan Mạch, có cái hiểu sâu sắc về giáo huấn phủ định này. Ông ấy nói rằng chỉ giáo huấn phủ định mới là có thể được, vì bất kì giáo huấn khẳng định nào, và tâm trí bám lấy nó và tạo ra mơ mới về nó. Nếu bạn nói về Thượng đế, tâm trí bám lấy Thượng đế - Thượng đế trở thành đối thể và tâm trí bắt đầu nghĩ "Làm sao có quan hệ với Thượng đế? Làm sao đạt tới Thượng đế?" Điều đó lại trở thành chuyện tình. Nếu bạn dạy về moksha, thiên đường, thế thì người này bắt đầu trở nên tham lam về nó: "Làm sao nắm bắt nó?" Và tham tạo ra mơ mới và ác mộng mới.
Chỉ giáo huấn phủ định mới là có thể được. Giáo huấn thực nhất định phải có tính phủ định, con đường thực là thông qua phủ định. Tại sao? Vì con người có tính luận chiến chống lại chân lí, chủ định lẩn trốn nó. Chủ định của giáo huấn phủ định là để quấy rối và khơi gợi con người vào trong việc là bản thân mình, vì con người đang chạy trốn, phủ định bản thân người đó. Giáo huấn phủ định là việc phủ định của phủ định.
Toàn thể cuộc sống của bạn đều mang tính phủ định; ngay bây giờ, có tính phủ định. Bạn đang thoát ra khỏi bản thân bạn - đây là phủ định của bạn. Bây giờ, việc phủ định này có thể bị phủ định chỉ bởi việc phủ định khác. Và khi hai phủ định gặp nhau, chúng chặt lẫn nhau, chúng phá huỷ lẫn nhau, chúng biến mất trong hành động đấu tranh đó.
Và cái khẳng định được bỏ lại. Nó thậm chí không thể được gọi là khẳng định - không còn phủ định nào còn lại, cho nên nó không thể được gọi là khẳng định. Nó là vũ trụ, chân lí. Cái vĩnh hằng, cái tối thượng, cái tuyệt đối.
Con đường của Phật là con đường của neti-neti - không cái này không cái nọ. Ông ấy nói: Liên tục phủ định. Một khoảnh khắc tới khi không cái gì được tìm ra để phủ định thêm nữa, và cái đó là khoảnh khắc của niết bàn. Khi không cái gì được bỏ lại để phủ định, duy nhất tính không còn trong tay bạn, thế thì tự do xảy ra. Bạn được tự do khỏi cái ta và mọi phóng chiếu của nó.
Chúng ta ăn, ị, ngủ, và dậy;
Đây là thế giới của chúng ta.
Mọi điều chúng ta phải làm sau điều đó
là chết.
Phát biểu này có hai nghĩa. Thứ nhất, dành cho người dốt nát: đây là cuộc sống của bạn, toàn thể cuộc sống của bạn - xem cuộc sống của bạn bao gồm cái gì.
Chúng ta ăn, ị, ngủ, và dậy;
Đây là thế giới của chúng ta.
Đó là điều bạn đã từng làm. Tâm trí phải hoàn toàn ngu xuẩn, bằng không chỉ làm điều này - ăn, ị, ngủ, lại dậy... và toàn thể cái vòng tròn này bắt đầu. Đây là cuộc sống của bạn. Bạn di chuyển theo cách này - hết ngày nọ tới ngày kia, hết năm nọ tới năm kia. Vào cuộc sống, ra cuộc sống, bạn liên tục đi theo cách này.
Mọi điều chúng ta phải làm sau điều đó là chết.
Duy nhất một điều được bỏ ra ngoài vòng tròn này, đó là chết. Sớm hay muộn, điều đó sẽ tới. Đây là toàn thể câu chuyện.
Omar Khayyam trong cuốn Rubaiyat của ông ấy nói: "Nói chuyện chút ít nào đó về tôi và đã có ba người, và thế rồi không còn ba người và tôi." Chỉ nói chuyện chút xíu, việc nói lặp lại, chỉ là tán gẫu chút xíu. Ăn, ị, ngủ và chết: đây là mọi thứ cuộc sống của bạn chứa đựng.
Nhưng câu hỏi nảy sinh: Nhưng đây là điều ngay cả người chứng ngộ cũng vẫn thường làm đấy chứ. Phật làm gì trong bốn mươi năm sau khi ông ấy đã trở nên chứng ngộ? Bản thân Nhất Hưu đã làm gì? Trong nhiều năm thế ông ấy vẫn còn chứng ngộ trên thế gian này; ông ấy đã làm cùng điều đó.
Vâng, nhưng với khác biệt. Khác biệt đó phải được hiểu. Bây giờ, một Thiền nhân sống tuyệt đối bình thường như mọi người khác, cho nên bạn không thể làm bất kì phân biệt khác nào. Chẳng hạn, nếu bạn đi và xem sư Jaina, ông ấy sống khác: ông ấy vẫn ăn, ị, ngủ, dậy, và đi quanh, nhưng ông ấy đã làm ra cách ăn đặc biệt. Ông ấy không kiếm sống, ông ấy xin ăn. Với ị cũng thế ông ấy đã làm theo cách đặc biệt; ông ấy ị theo cách phi thường. Ông ấy không đi vào nhà vệ sinh bình thường, không - ông ấy phải đi ra ngoài thị trấn. Ông ấy không thể dùng nhà tắm của bạn được; ông ấy không phải là con người bình thường.
Bây giờ, nhìn xem chúng ta cứ đi theo một cách ngu xuẩn làm sao - những điều phi thường. Ông ấy đi ra ngoài thị trấn. Ông ấy ăn chỉ một lần mỗi ngày. Giáo phái nào đó của người Jainas thậm chí còn khó khăn hơn: họ ăn đứng. Sư Jaina đứng và ăn, ông ấy vẫn còn trần trụi, ông ấy không bao giờ tắm, ông ấy không bao giờ đánh răng.
Ông ấy không ngủ trên giường, chỉ ngủ trên sàn với rơm lót dưới và phủ lên trên. Ông ấy không có chỗ trú ngụ, ông ấy di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, ông ấy thường xuyên di chuyển.
Nhưng những khác biệt này là chi tiết. Về căn bản, dù bạn đi ra ngoài thị trấn để ị, hay bạn chỉ dùng nhà vệ sinh bình thường mà mọi người đang dùng, khác biệt là gì? Dù bạn kiếm sống cho bản thân bạn, hay ai đó khác kiếm sống cho bạn và bạn xin ăn, khác biệt là gì? Dù bạn ăn hai, ba hay năm lần hay một lần, điều đó có tạo ra bất kì khác biệt gì không? Làm sao nó tạo ra bất kì khác biệt nào? Đây chỉ là thói quen, chúng có thể được trau dồi.
Có những bộ lạc ở châu Phi ăn chỉ một lần trong hai mươi bốn giờ. Họ đã ăn theo cách đó hàng thế kỉ, và họ đã quen với nó. Họ không thể tin được rằng mọi người ăn hai lần; một lần là đủ.
Bây giờ, những khác biệt này về chi tiết chỉ là để tạo ra ý tưởng rằng "Tôi là đặc biệt." Đây là những trò bản ngã.
Thiền nhân đơn giản sống như bạn sống. Rất khó thấy khác biệt, nhưng khác biệt có đó. Khác biệt là ở chỗ ông ấy chứng kiến mọi thứ đang xảy ra - đó là khác biệt duy nhất. Ông ấy ăn, nhưng ông ấy là nhân chứng. Bây giờ, đó là khác biệt bên trong. Bạn không thể thấy được nó từ bên ngoài, nhưng một chút ít của nó thấm ra bên ngoài nữa. Bạn có thể thấy một Thiền nhân bước đi: ông ấy bước một cách có ý thức thế, tỉnh táo thế. Ông ấy ăn một cách có ý thức, tỉnh táo. Ông ấy thậm chí ngủ một cách có ý thức. Ánh sáng vẫn còn cháy sáng ngay cả trong giấc ngủ của ông ấy, ông ấy liên tục quan sát ngay cả giấc mơ của ông ấy. Ông ấy bao giờ cũng quan sát - nhận biết, ý thức, tỉnh táo. Đó là khác biệt.
Và bởi vì ông ấy tỉnh táo, ông ấy vẫn còn thảnh thơi. Vì ông ấy thảnh thơi, toàn thế giới được thảnh thơi với ông ấy. Nó là cùng thế giới mà ông ấy sống trong, nhưng hoa hồng nhiều tính hồng hơn nhiều và mầu xanh lục là xanh lục hơn, và tiếng hót chim là niềm vui mênh mông. Tôi đã nghe:
Bệnh nhân là một diễn viên người mẫu trẻ đẹp, tới ca cẩm về bệnh căng thẳng thần kinh của mình. Bác sĩ kê ra một chuỗi các thuốc an thần và bảo cô ấy quay lại sau vài tuần và cho ông ấy biết cô ấy cảm thấy thế nào.
Khi cô ấy quay lại, bác sĩ hỏi cô ấy liệu cô ấy có cảm thấy khác biệt gì không và cô ấy đáp: "Không, thưa bác sĩ, nhưng tôi để ý rằng những người khác dường như được thảnh thơi nhiều hơn!"
Nếu bạn thảnh thơi, bạn sẽ đột nhiên thấy những người khác có vẻ được thảnh thơi nhiều hơn. Nếu bạn im lặng, toàn thế giới rơi vào trong im lặng sâu sắc. Nếu bạn có tính thiền, đột nhiên bạn trở nên nhận biết rằng cây đang thiền, đá đang thiền. Trăng đang trong thiền sâu, mặt trời và các ngôi sao cũng vậy.
Khi yêu bắt đầu tràn ngập bạn - không phải là yêu bạn biết mà là yêu chư phật biết - khi yêu bắt đầu tuôn chảy thế thì bạn đột nhiên thấy nó đang tuôn chảy khắp nơi. Nó đang tuôn chảy từ cây - bạn gọi nó là hương thơm, nó là yêu đấy. Nó đang toả ra từ mặt trời - bạn gọi nó là ánh sáng, nhưng nó là yêu đấy! Nó là sức hút ở trong đấy - bạn gọi nó là sức hút, nó là yêu đấy.
Nó là im lặng của đêm, tiếng líu lo của chim, việc chảy của sông, im lặng trong Himalayas.
Khi yêu của bạn bắt đầu tuôn chảy, đột nhiên bạn trở nên nhận biết rằng yêu đang tuôn chảy mọi nơi - rằng cuộc sống bao gồm yêu, rằng sự tồn tại được làm bằng chất liệu có tên là yêu. Nhưng đầu tiên nó phải xảy ra trong bạn.
Con người của Thiền sống bình thường như bạn sống. Nhưng tính bình thường của người đó không phải là bình thường. Tính bình thường của người đó có phẩm chất siêu-thường trong nó: nó toả ra niềm vui, lễ hội, nó toả ra việc chứng kiến.
Một Thiền sư lớn, Lâm Tế, nói: "Ồ người anh em trong Đạo, ông phải biết rằng trong thực tại của Phật giáo, không có cái gì phi thường để cho ông thực hiện. Ông chỉ sống như bình thường mà thậm chí không cố làm bất kì cái gì nói riêng, chăm sóc những nhu cầu tự nhiên của ông, mặc quần áo, ăn bữa ăn, và nằm ra nếu ông cảm thấy mệt. Để cho người dốt cười ta. Người khôn biết ta ngụ ý nói gì."
Lâm Tế đang nói: Đừng làm bất kì cái gì đặc biệt, đừng là người làm. Để cho mọi thứ xảy ra, và là người quan sát. Và người dốt sẽ cười ông; họ sẽ nói, "Đây là loại tôn giáo gì vậy?"
Bạn phải đã bắt gặp những người dốt này. Họ sẽ nói với bạn, "Đây là loại tôn giáo gì? Ông đã rơi vào cái bẫy nào vậy? Vì thầy của ông chả dạy ông cái gì đặc biệt cả."
Vâng, tôi không dạy bạn bất kì cái gì đặc biệt - vì mọi ý tưởng về tính đặc biệt đều là trò bản ngã. Tôi dạy bạn là bình thường, là thông thường. Và nếu bạn có thể thảnh thơi trong tính bình thường, trong tính thông thường, đột nhiên bạn sẽ bùng phát vào trong rạng ngời phi thường. Huy hoàng lớn sẽ xảy ra cho bạn.
Lâm Tế là đúng khi ông ấy nói, "Để người dốt cười. Người khôn biết điều ta ngụ ý nói." Ăn, uống và vui vẻ, cũng như mọi người khác vậy. Không cố là đặc biệt theo bất kì cách nào. Nhưng ăn, vẫn còn là nhân chứng. Uống, vẫn còn là nhân chứng. Vui vẻ, vẫn còn là nhân chứng. Và việc chứng kiến đó sẽ làm thay đổi mọi thứ. Việc chứng kiến đó là biến đổi.
Duy nhất việc chứng kiến đó sẽ làm cho bạn nhận biết bạn là ai.
Ta sẽ không chết, ta sẽ không đi đâu cả,
ta sẽ ở đây;
nhưng đừng hỏi ta bất kì cái gì,
ta sẽ không trả lời.
Đây là thơ về chết của Nhất Hưu. Về truyền thống trong Thiền, khi thầy chết, các đệ tử hỏi xin ông ấy bài thơ về chết - cách diễn đạt thơ ca cuối cùng, phát biểu cuối cùng, di chúc cuối cùng. Phát biểu cuối cùng về chết. Nhất Hưu nói:
Chúng ta ăn, ị, ngủ, và dậy;
Đây là thế giới của chúng ta.
Mọi điều chúng ta phải làm sau điều đó
là chết.
Bây giờ chết đang tới, và các đệ tử đã hỏi xin ông ấy soạn ra bài thơ cuối cùng. Và đây là bài thơ cuối cùng của ông ấy:
Ta sẽ không chết, ta sẽ không đi đâu cả,
ta sẽ ở đây;
nhưng đừng hỏi ta bất kì cái gì,
ta sẽ không trả lời.
Ai đó hỏi Raman Maharshi - ông ấy sắp chết, chết vì ung thư, và ai đó hỏi, "Khi thầy chết, thầy sẽ đi đâu?" Và ông ấy mở mắt ra và nói, "Ta có thể đi đâu được? Ta sẽ ở đây." Vì người đã chứng ngộ biết không có không gian nào khác hơn ở đây, biết không có thời gian nào khác hơn bây giờ. Mọi thời gian đều bao gồm bây giờ, và mọi không gian đều bao gồm ở đây. Bây giờ-ở đây là toàn thể sự tồn tại của ông ấy. Nhất Hưu nói:
Ta sẽ không chết…
Vì ngay chỗ đầu tiên ta chưa bao giờ được sinh ra. Sinh là ảo tưởng. Và ta cũng sẽ không chết - làm sao ta có thể chết được? vì ta chưa bao giờ được sinh. Chết là ảo tưởng khác. Ta sẽ ở đây, ta bao giờ cũng ở đây. Ta là hương vị của Đạo. Ta là một phần của vĩnh hằng này, ta là con sóng trong đại dương này. Lúc thì như sóng, và lúc thì như vô sóng - nhưng ta ở đây, và ta bao giờ cũng ở đây, và ta bao giờ cũng sẽ ở đây. Không có đến, không có đi. Nhất Hưu nói:
Ta sẽ dạy ông con đường
không đến, không đi!
Sinh và tử cả hai đều là ý tưởng của bạn. Rất khó hiểu rằng sinh và tử cả hai đều là ý tưởng của bạn. Khi một người chết đi, trong khoảnh khắc cuối cùng khi người đó sắp chết người đó phóng chiếu ý tưởng về sinh. Người đó bắt đầu nghĩ trong khoảnh khắc cuối: Làm sao quay lại? dưới hình dạng nào? Kinh nghiệm cả đời của người đó trở nên được cô đọng trong một hình dạng: hình dạng nảy sinh.
Người đó đã sống theo cách nào đó - người đó muốn sống theo cách khác nào đó, nhưng đã không thể làm được điều đó. Bây giờ hình dạng kia chiếm quyền sở hữu tâm trí người đó: "Lần tới mình muốn là điều này." Và ý tưởng cuối khi người ta sắp chết trở thành hạt mầm.
Nếu bạn có thể chết mà không có ý nghĩ gì, bạn sẽ không được sinh ra. Việc sinh của bạn là ý tưởng của bạn; ý tưởng tạo ra việc sinh. Không phải chỉ là ngẫu nhiên mà bạn được sinh ra; chẳng cái gì là ngẫu nhiên cả. Bạn đã gây ra nó, bạn chịu trách nhiệm về nó. Mọi người chết đi với các hình dạng khác nhau trong tâm trí họ. Những hình dạng đó trở thành các đường hướng dẫn - thế thì họ đi vào trong bụng mẹ tương ứng với những đường hướng dẫn đó. Việc sinh nảy sinh.
Và bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng chết cũng là ý tưởng của bạn. Mọi người chết đi tương ứng theo ý tưởng của họ. Thực ra, tâm lí học chiều sâu ngờ rằng từng việc chết đều là tự tử. Và nghi ngờ này gần như là đúng - tôi nói 'gần như' vì tôi phải bỏ chư phật ra khỏi điều đó. Nhưng về mọi người khác nó là đúng: chết của bạn là ý tưởng của bạn.
Bạn bắt đầu trở nên mệt mỏi về sống, sớm hay muộn, và bạn bắt đầu nghĩ cách chết, cách biến mất. Sống là quá nhiều rồi. Thế là đủ rồi! Bạn đã chẳng nghĩ nhiều lần về tự tử đó sao?
Freud loạng choạng vớ phải ý tưởng này; ông ấy gọi nó là 'thanatos' - ước muốn chết. Mọi người đều có điều đó, sâu bên trong; điều đó quyết định cái chết của bạn. Ngay cả những người chết trong tai nạn cũng là những người là nguồn cơn cho tai nạn, người muốn chết trong tai nạn.
Chúng ta liên tục tạo ra những khả năng quanh bản thân mình, và khi chúng xảy ra thế thì chúng ta ngạc nhiên. Cứ quan sát ý tưởng của bạn và cách chúng tạo ra cuộc sống của bạn mà xem. Ai đó nghĩ rằng người đó bị thất bại thế, người đó sẽ không bao giờ làm được bất kì cái gì. Và người đó sẽ không làm được bất kì cái gì, vì ý tưởng này đang tạo ra thực tại của người đó. Và người đó càng thấy rằng người đó không làm được bất kì cái gì theo bất kì cách nào, thì ý tưởng này càng trở nên bị áp đặt bởi phản hồi, và người đó càng thấy mình đang trở thành thất bại. Và cái vòng luẩn quẩn được tạo ra.
Người nghĩ người đó sẽ thành công, người đó thành công. Người nghĩ người đó sẽ trở nên giầu lại trở nên giầu, và người nghĩ người đó sẽ không trở nên giầu vẫn còn nghèo. Thử điều đó đi. Bạn sẽ ngạc nhiên; đôi khi bạn sẽ không có khả năng tin vào điều đó.
Người nghĩ mình sẽ không bao giờ tìm được bất kì ai làm bạn bè cùng: người đó sẽ không tìm được - người đó đã tạo ra bức trường thành Trung Quốc quanh bản thân mình, người đó không sẵn có. Người đó phải chứng minh ý tưởng của mình là đúng, nhớ lấy. Cho dù ai đó tiến tới với tình bằng hữu lớn lao, người đó sẽ bác bỏ họ. Người đó phải chứng minh ý tưởng của mình, người đó có cam kết lớn với ý tưởng của mình. Người đó sẽ không bị sao lãng khỏi ý tưởng của mình, ý tưởng của người đó là một phần thế của bản ngã người đó. Người đó phải chỉ ra cho thế giới rằng người đó là đúng, không ai có thể là bạn với người đó, rằng mọi người đều là kẻ thù. Và mọi người dần dần sẽ biến thành kẻ thù.
Quan sát tâm trí bạn mà xem. Bạn thường xuyên tạo ra cuộc sống của bạn, bạn thường xuyên chế tạo ra cuộc sống của bạn.
Các nhà tâm lí đã đi tới sự kiện là mọi người đều có ý tưởng, trong nhiều thế kỉ, rằng cuộc sống bao gồm bẩy mươi năm. Đó là lí do tại sao mọi người sống quãng bẩy mươi; không có lí do khác. Vì mọi người tin rằng bẩy mươi năm là giới hạn - bỏ ra vài anh chàng kì dị chết sớm hơn chút ít hay muộn hơn chút ít, nhưng nói chung mọi người đều đi theo thường lệ, tục lệ - họ chết vào quãng bẩy mươi. Họ bắt đầu chuẩn bị, khi họ đạt tới sáu mươi họ trở nên sẵn sàng. Họ về hưu, họ bắt đầu kéo bản thân mình ra khỏi thế giới; họ đang trở nên sẵn sàng. Trong mười năm họ sẽ nghĩ, "Giờ nó sắp tới rồi. Bẩy mươi năm. Giờ một năm đã trôi qua: chín năm còn lại. Hai năm đã trôi qua: tám năm còn lại." Họ liên tục thôi miên bản thân họ. Và đến bẩy mươi họ ra đi; họ đã chứng minh ý tưởng của họ. Và họ đã trao ý tưởng này cho con cái họ cũng thế rằng đây là cách thức cuộc sống vận hành: chỉ bẩy mươi năm.
Có những bộ lạc sống lâu hơn. Trên biên giới của Kashmir ở Pakistan, có một bộ lạc, Hunza - họ sống rất lâu. Một trăm tuổi là rất dễ dàng, một trăm hai mươi tuổi là không khó, một trăm năm mươi tuổi là cũng có thể được. Nhưng từ khi họ đi vào tiếp xúc với những người khác họ đã bắt đầu chết sớm hơn. Thức ăn của họ vẫn như cũ, mọi thứ vẫn như cũ - khí hậu, mọi thứ đều như cũ. Nhưng chỉ bởi vì họ đã đi tới biết rằng mọi người chết sớm hơn, họ phải cảm thấy chút ít mặc cảm. Họ đã bắt đầu chết sớm hơn - người ta phải đi theo đám đông. Trong vòng ba mươi, bốn mươi năm họ sẽ biến mất. Họ sẽ trở thành một phần... bẩy mươi năm.
Khi Bernard Shaw nhìn, trong tuổi già của ông ấy... Ông ấy sống lâu, khi ông ấy năm mươi ông ấy đã tìm một chỗ để sống. Ông ấy muốn đi ra khỏi London. Và bạn có biết cách ông ấy tìm ra chỗ của mình không? Ông ấy đã làm một khảo cứu rất tâm lí. Ông ấy đi vào trong các nghĩa địa để nhìn vào các bia đá, điều được viết trên chúng. Ông ấy thấy một nghĩa địa nơi mọi người đã sống rất lâu - chín mươi, chín nhăm, chín tám, một trăm tuổi... Một người đã chết khi người đó được trăm tuổi, và trên bia có câu ngạn ngữ văn bia: "Người này chết yểu" - và người đó đã sống cả trăm năm! Ông ấy nói, "Đây là chỗ để sống." Nơi mọi người nghĩ chết ở trăm tuổi là chết yểu, ông ấy đã chọn chỗ đó để sống. Và ông ấy đã sống lâu - ý tưởng này có tác dụng.
Các nhà sinh lí học nói rằng dường như không có sự cần thiết bên trong cơ thể của người chết. Vâng, bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng có khả năng một ngày nào đó con người có thể sống rất rất lâu, gần như bất tử về cơ thể - vì thân thể liên tục làm mới lại bản thân nó. Không có nhu cầu thực sự cho nó chết, vì nó thường xuyên làm mới bản thân nó. Các tế bào cũ biến mất, tế bào mới tới; trong vòng bẩy năm thân thể tự thay đổi nó hoàn toàn. Nó liên tục đại tu bản thân nó, làm mới lại, làm trẻ lại, đó là một sự liên tục. Không có cần thiết bên trong cho thân thể chết.
Bây giờ các nhà sinh lí học đồng ý về điều đó. Và các nhà tâm lí học đang cảm thấy rằng lí do tại sao mọi người chết có thể là cái gì đó cần giải quyết với tâm trí, không với thân thể.
Đây là một trong những giáo huấn vĩ đại nhất của Phật giáo - rằng sinh là từ tâm trí, chết là từ tâm trí. Mọi ý tưởng. Và bạn không là cả hai.
Ta sẽ không chết, ta sẽ không đi đâu cả,
ta sẽ ở đây;
nhưng đừng hỏi ta bất kì cái gì,
ta sẽ không trả lời.
Bởi vì điều đó không thể được trả lời. Nó phải được sống, được nhìn. Nó phải được nếm. Cứ đi sâu vào bên trong bản thân bạn, quan sát: bạn có nghĩ tới chết không? Thế thì bạn đang tạo ra hạt mầm đấy. Thực ra, sinh tạo ra tử.
Mới vài khoảnh khắc trước, tôi đã nói cho bạn về chấn thương sinh. Khi đứa trẻ được sinh ra, đứa trẻ nghĩ đây là chết. Một cách tự nhiên, vì nó đã sống đẹp thế. Nó đang bị tống ra khỏi thiên đường. Adam bị trục xuất trong mọi đứa trẻ - nó đã ở trong Vườn Eden, bây giờ nó đang bị đuổi ra. Đó là cuộc sống, và điều này dường như là cái chết.
Và từng đứa trẻ, cả cuộc đời nó, đều muốn trở lại trong bụng người mẹ. Chúng ta tạo ra bụng mẹ thay thế. Phòng ngủ của chúng ta là bụng mẹ - phòng ngủ đóng kín với màn tối, trong đêm bạn tắt đèn đi, trời tối, tối như trong bụng mẹ. Thế rồi giường, giường ấm cúng, gối, thảm, chăn - và bạn rúc vào trong chăn, và bạn lấy tư thế trong bụng mẹ. Hơi ấm của giường, tối khắp xung quanh, thoải mái, im lặng... bạn lại trượt trở lại trong bụng mẹ.
Từng giấc ngủ mỗi đêm đều là việc trở lại bụng mẹ; nó là cái chết nhỏ. Đó là lí do tại sao bạn thấy khó dậy buổi sáng thế - vì dậy vào buổi sáng lại quấy rối vô thức sâu của bạn. Nó lại là việc sinh - chấn thương sinh vẫn ảnh hưởng tới bạn.
Bạn sẽ ngạc nhiên rằng người nguyên thuỷ không có rắc rối nào khi dậy sớm buổi sáng. Đến lúc mặt trời lên họ dậy rồi, không có vấn đề chút nào. Và lí do là vì họ không có mấy chấn thương sinh. Trong xã hội nguyên thuỷ đứa con không được sinh ra với đau thế như xảy ra với người văn minh. Người mẹ không trải qua đau lớn. Nó rất đơn giản, nó giống như con vật.
Người mẹ có thể làm việc trên đồng và cô ấy sẽ cho sinh ra đứa con và mang đứa con về nhà. Hay có thể đó là giữa trưa và công việc còn chưa xong - cô ấy sẽ để đứa trẻ bên cạnh gốc cây, cô ấy sẽ kết thúc công việc và thế rồi đem đứa trẻ về nhà. Không cần bệnh viện gì cả, không cần thuốc gì, cô ấy không cảm thấy đau. Ngược lại, cô ấy cảm thấy cực lạc lớn. Kinh nghiệm về việc cho sinh ra đứa con là cực thích hơn bất kì kinh nghiệm dục nào đã bao giờ có thể có. Và đứa trẻ tới dễ dàng tới mức nó không có chấn thương sinh.
Đó là lí do tại sao trong các xã hội nguyên thuỷ mọi người dậy sớm buổi sáng. Xã hội càng trở nên văn minh, điều đó càng trở nên khó khăn hơn...
Hôm nọ tôi đã hỏi về Padma, và cô ấy đã ngủ lúc mười một giờ. Phải đã chịu đựng chấn thương sinh lớn. Nếu bạn đã chịu đựng chấn thương sinh lớn thì mọi sáng bạn đều cảm thấy rất khó dậy; toàn thân bạn muốn vẫn còn trong giường. Tức là, thân thể bạn muốn vẫn còn trong bụng mẹ - nó không muốn đi ra khỏi chỗ đó, bạn phải kéo nó ra.
Sinh tạo ra chết. Từng giấc ngủ đều là cái chết nhỏ. Đó là lí do tại sao nhiều người thấy rất khó làm tình trên giường, vì điều đó khuấy động ý tưởng về chết. Họ trở nên sợ hãi chút ít. Họ thấy làm tình trong ô tô hay bãi biển còn tốt hơn nhiều, nhưng làm tình trên giường có chút khó khăn. Với vài người điều đó thực sự là không thể được, vì toàn thể ý tưởng về giường gợi lên bầu không khí chết.
Nhưng với vài người khác thì chỉ có thể làm tình trên giường được - vì đi vào thân thể của đàn bà họ nghĩ tới đi vào trong bụng mẹ lẫn nữa. Điều đó tuỳ thuộc vào suy nghĩ của bạn là gì. Nếu bạn nghĩ rằng đi vào thân thể người đàn bà là đang đi vào trong bụng mẹ lần nữa, thế thì bạn sẽ không thấy bất kì chỗ nào khác để làm tình ngoại trừ chiếc giường. Nhưng nếu bạn cảm thấy sợ chết và nếu chấn thương sinh khuấy động kí ức trong bạn, thế thì sẽ khó mà có cực thích trên giường.
Mọi người chết đi trên giường. Chín mươi chín phần trăm mọi người chết đi trên giường. Một cách tự nhiên - điều đó dường như là điều tự nhiên: một ngày nào đó họ biến mất trên giường. Và với cả cuộc đời họ nghĩ làm sao tạo ra bụng mẹ lần nữa. Nhà của bạn là việc tái tạo lại bụng mẹ. Thứ càng tới gần với bụng mẹ, nó càng cho cảm giác thoải mái hơn.
Ta sẽ không chết, ta sẽ không đi đâu cả,
ta sẽ ở đây;
nhưng đừng hỏi ta bất kì cái gì,
ta sẽ không trả lời.
Chết là giả, giả như sinh. Bạn ở bên ngoài sinh và ở bên ngoài chết. Bạn tới trong sinh, bạn lấy hình dạng qua việc sinh, và thế rồi bạn đi ra ngoài hình dạng đó trong chết - nhưng bạn là vô hình dạng. Nhưng không cái gì có thể được nói về điều đó. Nó phải được trải nghiệm.
Dù nó có thể là bất kì cái gì,
Nó là mọi phần của thế giới ảo tưởng,
bản thân chết
không phải là thứ thực.
Chết là ảo tưởng lớn nhất, chỉ sau sinh. Bạn là vĩnh hằng.
Nhất Hưu thường gọi cách tiếp cận của ông ấy hướng tới sinh và tử là "thuốc về không sinh không chết". Ông ấy thường nói, "Cái này có thể chữa mọi bệnh" - vì mọi bệnh đều ở đâu đó giữa sinh và chết. Nếu bạn có thể bỏ ý tưởng về sinh và chết, thế thì mọi thứ bị loại bỏ. Thế thì bạn không cần lo nghĩ về yêu và bạn không cần lo nghĩ về thiền. Thế thì không có tính cùng nhau và không có tính một mình.
Bạn là một với cái toàn thể. Làm sao bạn có thể một mình được? Và làm sao bạn có thể là cùng nhau được? - vì không có người nào khác hơn cái toàn thể. Cái toàn thể là cái toàn thể - không cái gì bên cạnh, không cái gì ở ngoài nó - cho nên nó không thể cùng nhau với bất kì ai. Đó là lí do tại sao tính cùng nhau là không thể được. Nhưng bạn cũng không thể một mình được, vì chính ý tưởng "Tôi một mình" làm cho bạn cảm thấy tách rời khỏi cái toàn thể. Bạn là nó.
Ông nên ước ao biết con đường
trong cả hai thế giới này,
và thế giới kia,
hỏi con người có lòng tốt và chân thành.
Nhất Hưu nói: Đừng hỏi ta, ta sẽ không trả lời đâu. Đầu tiên, kinh nghiệm là tới mức, nó không thể được trả lời. Nhưng một điều có thể được làm, đó là điều chư phật liên tục làm: họ chỉ con đường. Họ không nói cái gì sẽ xảy ra, cái gì xảy ra, nhưng họ nói cách nó có thể xảy ra.
Ông nên ước ao biết con đường…
Đừng bao giờ hỏi về kinh nghiệm này, nó là không thể diễn đạt được. Nhưng hỏi về con đường, thế thì cái gì đó có thể được nói - làm sao đi vào trong nó, dùng phương cách nào, bắt đầu từ đâu, làm sao thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn. Làm sao đi ra khỏi yêu: thiền sẽ giúp đỡ. Làm sao thoát ra khỏi thiền: tin cậy cuộc sống sẽ giúp đỡ.
Và khi bạn ở ngoài thiền và ngoài yêu, yêu sẽ xảy ra và thiền sẽ xảy ra theo cách riêng của chúng. Thế thì chúng sẽ không phải là những điều tí hon do bạn tạo ra, chúng sẽ là món quà của Thượng đế.
Ông nên ước ao biết con đường
trong cả hai thế giới này,
và thế giới kia,
hỏi con người có lòng tốt và chân thành.
Nhưng làm sao tìm ra phật? Hai điều, Nhất Hưu nói: chân thành và lòng tốt. Từ bi của ông ấy sẽ cho bạn ý tưởng này - yêu của ông ấy, yêu tràn ngập của ông ấy, chẳng vì lí do nào cả.
Nếu bạn có thể tìm thấy một người của yêu... nhớ những lời này: "Một thoáng nhìn của con người thực, và bạn ở trong yêu." Thế thì bạn là yêu. Nếu bạn có thể tìm thấy một người của yêu thế thì đừng bỏ lỡ cơ hội này. Người đó là cánh cửa: đi vào trong người đó đi. Và bạn sẽ tìm ra sự chân thành.
Nhớ lấy, chân thành không có nghĩa nghiêm chỉnh. Nó có nghĩa tính thực, có có nghĩa tính đích thực. Và làm sao bạn sẽ phán xét liệu người này là đích thực, thực hay không? Chỉ có một điều cần nhớ: chân lí có tính ngược đời. Chỉ phi chân lí mới nhất quán. Nếu bạn tìm thấy một người rất nhất quán, tránh người đó ra, vì điều đó nghĩa là người đó đơn giản đang triết lí. Người đó chưa trải nghiệm bất kì cái gì, người đó không phải là người chân thành.
Người chân thành là người đơn giản nói bất kì cái gì là hoàn cảnh - dù nó mâu thuẫn với người đó, dù nó nhất quán hay không nhất quán cũng không tạo ra khác biệt gì cho người đó.
Nhớ định nghĩa của Thiền về chân lí: Chân lí là cái có điều ngược lại của nó cũng đúng. Cho nên con người của chân thành nhất định có tính ngược đời. Và đó là chỗ chúng ta bỏ lỡ. Nếu bạn bắt gặp điều ngược đời bạn nghĩ, "Đây là người không nhất quán; làm sao người đó có thể là thực được?" Bạn có ý tưởng rằng chân lí phải có tính nhất quán - và điều đó ngăn cản bạn không tìm được chư phật. Và bạn rơi vào bẫy của các nhà logic, các triết gia, nhà tư tưởng.
Phật về căn bản, về nền tảng, về ngầm ẩn, có tính ngược đời - vì ông ấy thấy chân lí trong tính toàn bộ của nó. Và tính toàn bộ là ngược đời. Tính toàn bộ là cả hai: đêm và ngày, yêu và thiền. Tính toàn bộ là cả hai: cái này và cái kia, cái thấy được, cái không thấy được. Tính toàn bộ là cả sinh và chết, và không cả hai. Tính toàn bộ nghĩa là toàn thể sự việc là phức tạp thế, bạn không thể làm ra bất kì phát biểu nhất quán nào về nó. Bạn phải liên tục mâu thuẫn với bản thân bạn.
Nếu bạn có thể tìm thấy một người của mâu thuẫn, bạn có thể gần gũi với ai đó biết. Chân lí là ở chỗ cái mâu thuẫn của nó cũng là đúng.
Tìm chân thành qua điều ngược đời đi. Ông ấy là chân thành tới mức ông ấy sẵn sàng trở thành không nhất quán. Chân thành của ông ấy là tới mức ông ấy sẵn sàng được gọi là điên. Chân thành của ông ấy là tới mức ông ấy không cố thuyết phục bạn qua logic. Ông ấy không phải là người bán hàng. Ông ấy không lo nghĩ về thuyết phục bạn. Ông ấy đơn giản phát biểu bất kì cái gì đang là hoàn cảnh - dù bạn được thuyết phục hay không được thuyết phục, điều đó là tuỳ ở bạn. Ông ấy không quan tâm theo bất kì cách nào tới việc áp đặt cái gì đó lên bạn. Ông ấy sẵn sàng giúp đỡ, nhưng không bó buộc bạn.



Và lòng tốt là gì? Nó không có nghĩa thương hại. Chư phật không thương hại bạn, vì thương hại nảy sinh từ bản ngã. Họ tốt bụng, họ từ bi - và khác biệt là lớn.
Mới hôm nọ, ai đó đã hỏi tôi câu hỏi: "Các nhóm, các nhóm trị liệu, đang được vận hành ở đây là rất hà khắc, độc ác. Làm sao thầy, con người của từ bi, cho phép họ vậy?" Và không chỉ điều đó, anh ta còn nhắc tới sự vụ mà tôi đã nhắc tới vài ngày trước đây, rằng một trong những người bạn tôi định tự tử. Anh ta nhắc rằng "Nghe câu chuyện đó, tôi nghĩ thầy cũng rất ác. Thầy đã không khuyên nhủ người đó đừng tự tử; ngược lại, thầy đã sẵn sàng đem anh ta tới sông để cho nhảy xuống từ vách đá và chết. Đây là loại từ bi gì vậy?"
Bạn đã lỡ toàn thể câu chuyện. Anh ta đã được cứu! Bạn đã bỏ lỡ điểm đó. Vấn đề không phải là cách anh ta đã được cứu - vấn đề là ở chỗ anh ta đã được cứu. Nhìn vào kết quả ấy.
Người từ bi nhìn vào kết quả. Phương cách nào người đó dùng là không quan trọng. Người đó sẵn sàng dùng bất kì phương cách nào - cứ nhìn vào kết quả khách quan ấy. Người từ bi không đa cảm, xúc động. Bạn chắc đã thích tôi ôm lấy anh ta và khóc... Nhưng thế thì anh ta chắc đã tự tử mất rồi! Điều đó liệu có là từ bi không? Tôi đã chở anh ta đi tự tử. Đó là điều bố mẹ anh ta, mẹ anh ta và bố anh ta và bạn bè, đã làm rồi, họ đã lái anh ta tới tự tử. Họ càng cố thuyết phục anh ta, anh ta càng cố nói không. Thực ra anh ta ngày càng bị kích động hơn về tự tử, vì những người này, vì sự chú ý của họ. Và tất cả họ đều là những người yêu, họ yêu người này - nhưng xem sự khác biệt đấy.
Đây là hai loại yêu. Một loại là đa cảm và xúc động; nó không giúp đỡ. Loại kia là yêu có mục tiêu; nó giúp đỡ. Nhưng thế thì người đầy yêu có mục tiêu quyết định cách hành động. Mối quan tâm duy nhất của người đó là làm sao cứu mọi người.
Tôi muốn cứu anh bạn này, đó là lí do tại sao tôi ác thế. Và tôi muốn bạn cũng được cứu, đó là lí do tại sao mọi nhóm trị liệu ở đây là ác. Đôi khi ngay cả những người đáng phải biết nhiều hơn, lại hiểu lầm.
Đó là điều đã xảy ra cho một trong các sannyasins, Geet Govind. Anh ấy đã tới từ Esalen, anh ấy là đồng sáng lập ra Esalen, cho nên anh ấy biết mọi thứ về các nhóm trị liệu. Nhưng anh ấy không biết gì về tôi. Anh ấy không biết bất kì cái gì về từ bi có mục tiêu. Thấy nhóm đương đầu ở đây, anh ấy bị run lắm. Và anh ấy thậm chí không đủ dũng cảm để nói điều đó với tôi - vì sau nhóm đương đầu tôi đã đặc biệt hỏi anh ấy, "Bạn nghĩ gì, Geet Govind?" Và anh ấy nói, "Mọi thứ đều tốt, mọi thứ là tốt, tôi tận hưởng nó" - hay những thứ đại loại như vậy.
Nhưng trở về nhà, anh ấy bắt đầu lan truyền tin tức khắp nơi, "Đừng tới Pune. Những người đó là nguy hiểm, các nhóm là rất bạo hành và độc ác."
Anh ấy đã hiểu lầm toàn thể vấn đề. Nhưng đó là điều xảy ra cho người thông thái. Vì anh ấy nghĩ anh ấy biết - và anh ấy biết về các nhóm đương đầu, nhưng anh ấy không biết rằng khi nhóm đương đầu được một người từ bi dùng nó là điều khác toàn bộ. Anh ấy biết về trị liệu, nhưng anh ấy không biết gì về chư phật.
Ở đây, các nhóm trị liệu không chỉ là các nhóm trị liệu như chúng vậy ở Esalen. Ở đây chúng được dùng như phương cách - để phá huỷ cái gì đó, để làm rung chuyển bạn vào trong thức tỉnh. Toàn thể vấn đề là làm rung chuyển bạn ra khỏi giấc ngủ của bạn. Và mọi thứ sẽ được dùng. Nếu đôi khi dao găm cần đâm vào tim bạn, nó phải được dùng. Nếu chiếc kiếm được cần thế thì nó phải được dùng.
Bạn có nhớ câu nói của Jesus không? "Ta đã tới trong thế giới này không phải để đem tới an bình mà để đem tới chiếc kiếm." Ông ấy ngụ ý gì? Con người của từ bi đấy! Duy nhất cái gì đó như chiếc kiếm mới có thể làm rung chuyển bạn ra khỏi giấc ngủ của bạn.
Cho nên khi bạn bắt gặp một người có lòng tốt, nhớ lấy: toàn thể vấn đề của người đó là làm sao thức tỉnh bạn. Người đó không đa cảm, người đó sẽ không khóc cùng bạn; người đó sẽ rất khách quan và rất khoa học. Nhưng người đó cảm vì bạn, người đó yêu bạn, người đó muốn giúp bạn. Và chỉ người đó mới có thể giúp được bạn. Tất cả những người đa cảm kia và mọi cái vô nghĩa đa cảm đó đều sẽ không giúp được. Nếu mà nó giúp được, bạn chắc đã được cứu rồi.
Cho nên bất kì khi nào bạn có thể tìm thấy một người chân thành, người của sự ngược đời, chân lí, người có mối quan tâm là chân lí... Cho dù điều đó làm cho người đó dường như mâu thuẫn người đó vẫn sẵn sàng; người đó không thay đổi chân lí để trở thành nhất quán. Và toàn thể mối quan tâm của người đó là để giúp cho mọi người trở nên tỉnh táo và nhận biết - thậm chí đôi khi các phương pháp ác được cần người đó sẵn sàng dùng chúng. Đó là con người của từ bi và chân thành.

Và chỉ con người của từ bi và chân thành mới có thể là thầy. Tránh những người an ủi bạn. Đi theo những người sẵn sàng phá huỷ bạn - vì chỉ khi bạn bị phá huỷ, Thượng đế mới được sinh ra.

0 Đánh giá

Ads Belove Post